- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HỌNG ĐÊM VÀ NHỮNG CÂU THƠ BUNG GAI GIỮA NGÀY KHÔNG NẮNG

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 78129)


hong_dem-content

Con đường thơ của Nguyễn Lãm Thắng có nhiều bước chuyển. Sau “Điệp ngữ tình”, “Giấc mơ buổi sáng” (333 bài thơ thiếu nhi), anh thử nghiệm, gieo hạt giống thơ của mình vào thế trận khác: thế trận đời. Thế trận này đã đánh dấu tiếng nói riêng cho “họng đêm”[*] trong hành trình sáng - tạo - thi ca của anh. Anh gần như đoạn tuyệt hẳn cái nhìn trong trẻo của “Điệp ngữ tình”, cái hồn nhiên thơ trẻ của “Giấc mơ buổi sáng” để ném vào “họng đêm” cái nhìn từ góc độ người mù và “có thể nói nhiều về điều không thể nói”.

Nhan đề “họng đêm” gợi nhiều bí ẩn, lạ. Lạ ở cách dùng từ. Lạ ở khoảng không siêu thực. Nhưng đó là một dụng ý khá thành công của Nguyễn Lãm Thắng. Ba phần là ba không gian: “ngát tận”, “tiếng ho rừng” và “nhấn phím buồn”. Xác định được giá trị của ba không gian ấy không phải là dễ. Bởi vì, không có chiếc áo nào để “họng đêm” mặc vừa. Cái áo mà nó đang mặc chật cứng, bung ra nhiều gai nhọn - gai nhọn của chữ “bung gai giữa ngày không nắng”. Các con chữ sắc ngọt, trương nở qua các công đoạn cắt dán và lắp ghép, hình thành nên những điểm nhô, nhọn, tượng trưng, siêu thực. Do đó, những thi ảnh của “họng đêm” vừa cất giấu những ám ảnh vô thức, vừa đầy lý trí, gợi nhiều luồng tiếp nhận.

“họng đêm” và “mùa thu hoạch của sự dâng hiến”

Âm hưởng sex trong thơ không phải là vấn đề mới. Nhiều cây bút đã thử nghiệm và gặt hái được những thành công nhất định. Đặc biệt, thơ phái nữ tỏ ra nổi trội hơn và bạo liệt hơn khi đề cập đến đề tài này. So với thơ nữ, sex trong thơ nam cũng có những điểm riêng biệt. Bởi lẽ, họ biết khai thác vẻ đẹp thiên phú của người phụ nữ qua cái nhìn thương yêu, trân trọng. Thơ Nguyễn Lãm Thắng thiên về cách khai thác này. “ngát tận” đang vào “mùa thu hoạch của sự dâng hiến”. Những từ ngữ mang đặc trưng tính dục được đẩy vào một cách cao độ, bằng những hành động sex: giao phối, trườn, siết chặt, cuộn siết, khắc, tràn, bóc, quấn, cấu, lồng,... Trong sự dâng hiến, tình yêu “ngát tận” vĩnh cửu. Trong sự dâng hiến, vẻ đẹp của người tình phô bày hết thảy. Những thi ảnh mang tính nhục thể được chiếu bằng nhiều góc độ: “mùa xuân dấu lửa ngực em”; “toát nóng mùa thơm/ cặp đùi rói trinh/ bốn mùa môi ấy/ khoảng cách đồng hoang không đan xích” (vạch vết máu cho mùa xuân); “chốn linh thiêng em/ mầm động tiết tấu bung tình” (mầm động)… Chất táo bạo, ngọt ngào và đầy khêu gợi của sex được xử lý cận cảnh và cả viễn cảnh: “biển hương em/ nhốt anh/ sóng điệp/ ngọt lựng vai mềm ngực ấm/ phiến đá ư hừ tiếng thở nghìn năm xác ướp/ mùa đông/ cháy khét triền môi (cao nguyên mùa đông đá thở); “sau lưng chúng ta/ là đất/ là trời/ khát yêu” (đối diện nhật lệ). Khi tình yêu đến độ cuồng nhiệt, Nguyễn Lãm Thắng đặt dấu tình ngay trên ngực, trên trán người yêu, và không gian như được nới rộng bởi biên độ, sức hút của “tiếng trinh rên”:

mắt lửa

tôi nhìn bằng tia hôn

nhiệt cuồng adam

động khuấy

cầu thang rung bão

néon ảo mờ nhục cảm

tôi khắc đời em ngực trần non ngát

đánh dấu trán bướng vết dao lưỡi nóng ran 

nhũn nhầy hồn phách

không gian ba chiều rôm rốp trinh rên

nhạc ngân vai phố

tương phối tiếng hôn

(ngợp tình)

Nguyễn Lãm Thắng còn “bóc” từng “huyết mạch” để đến được thiên đường của tình yêu và sự hiến dâng. Thiên đường của sự “nõn nà”, “mởn ngọt”: “bóc đôi cánh mềm/ thiên đường hé lộ tầng tầng ân ái/ bộ ngực đầy đặn em/ lộ giai điệu hôn/ tròn căng thơm phức/ mồ hôi cám dỗ tách vỏ/ ngày tháng/ sóng sánh/ lớp da non nõn nà mềm mại/ nụ hoa hồng sơ khai mởn ngọt/ chúm chím bản nguyên ái ân (ngày tận cùng em giấc tự do). Ngay cách xưng hô “anh-em” tình tứ, gần gũi, cộng hưởng với tần số lặp lại từ “hôn” cũng giúp tác giả thực hiện được cấp số nhân để thặng dư mùa của sự dâng hiến. Trong mùa hoan lạc, từ “hôn” được lặp lại nhiều lần. Lặp 38 lần/42 bài thơ. Cách gọi tên từng động thái “hôn” của nhà thơ rất đa dạng, góp phần làm sinh động cho tình yêu vào mùa hiến dâng: nhụy hôn, chùm hôn, trận hôn, vòng hôn, cõi hôn, giai điệu hôn, sóng hôn, đóa hôn, nhựa hôn, từng thớ hôn, từng sợi hôn, lời hôn, bóng hôn, miền hôn, mầm hôn,... So với phần 1, phần 2 và phần 3 chỉ có 7 lần lặp từ “hôn”. Dụng ý đã thay đổi, khác với phần 1. Cả hai phần này, trong những nụ hôn đã mang sự giả tạo, dối lừa: “nụ hôn lừa mỏng lét”; “nhưng chúng ta biết giọt máu mình đau khi lửa hôn bốc cháy”; “cuộc tình ấy như cuộc chiến tranh quên thuốc súng/bởi sống bên nhau mà tê liệt môi hôn” (sẽ quên một cuộc tình); “sự tắt nghẽn mạch hôn/có thể nảy sinh bệnh trĩ tâm tưởng” (chúng ta nói về chúng ta),... Như thế, phần 1, từ “hôn”, tự nó đã thiết lập không gian của tình yêu, của sự dâng hiến.

Nhưng Nguyễn Lãm Thắng đâu chỉ ngợi ca ngọn lửa tình yêu, sức nóng của những trận hôn và bỏng riết trong vườn hoan lạc mà anh còn gửi gắm trong đó những triết lý rất riêng về tình yêu. Tình yêu của anh xuất phát từ quan niệm về sự tự do. Chỉ trong tự do, tình yêu mới trở về đúng bản nguyên của nó. Những thế lực, trở ngại không làm tình yêu chết đi mà tồn tại vĩnh cửu dẫu đó là tình yêu của ngày tận. Tình yêu làm tan chảy những nỗi buồn, những thù hận, những sắc màu phân biệt,... “ngày tận/ ta yêu nhau bằng hơi thở đầy bằng siết tay rướn chân bằng âm thanh mùa thu hoạch/ cởi bỏ tất cả sắc màu giáo điều hợm hĩnh còn sót cơ thể/ dội yêu thương vết cắn/ xóa chán chường

môi quét/ lau căm thù chiếc lưỡi trượt dài cơ thể/ mặc tiếng gõ cửa phân bua ngàn lần bão lạ/ mặc trận cuồng phong dở trò hù dọa mái nhà cô tịch/ ta bảo toàn lực lượng hứ ư/ bảo toàn dòng ái tràn đôi môi co giật (ngày tận cùng em trong giấc tự do). Tình yêu đích thực luôn vĩnh hằng bởi nó lớn lên bằng chính ánh sáng của tình người:

ánh sáng là trần truồng tiếng thở

rọi mống nhiệt cuồng

tình yêu không chết

bởi

tình yêu xuất thân từ đêm

& lớn lên bằng ánh sáng

 (ánh sáng là trần truồng của tiếng thở)

“họng đêm” và những vòng xoáy cuộc đời

Đến với phần 2 và phần 3 của tập “họng đêm”, sự ngọt ngào của tình yêu không còn, thay vào đó là những cám cảnh đời nhìn từ phía giác độ người mù. Ở điểm nhìn ấy, Nguyễn Lãm Thắng đã nói được ngay cả những điều tưởng như không thể nói. Nếu phần 1, cách gọi xưng chủ yếu là “anh-em” thì sang hai phần còn lại, anh hướng về cái tôi bằng kiểu xưng hô khác: “tôi-em”. Nếu phần 1, em là đối tượng, là người mà chủ thể trữ tình ngợi ca, hướng đến thì sang phần 2, “em” là nàng thơ, là người lắng nghe, chia sẻ với nhà thơ trước những cảnh đời ngang trái. Nếu phần 1, anh rạo rực, bốc lửa với những vần thơ thấm đẫm nhục tình thì phần 2, anh là một nhà nghệ sĩ thương cảm, xót đắng với đời. Anh trực ngôn sự thật. Sự thật được lột xác, giơ bộ mặt của nó trong rác thối: “sự thật lẩn khuất trong mớ rác rến ô nhiễm/ mớ hổ lốn bầy đàn kinh tởm/ trôi qua từng buổi sáng tin vịt” (có thể nói nhiều về điều không thể nói). Nhưng trớ trêu và rất thực, “băng vệ sinh nhầy nhụa/ ve chai/ bao ni lông/ thức ăn thừa mứa/ giấy lộn & xác chết/ xen lẫn/ rác rưởi vô hồn bốc mùi quen thuộc” (mưu sinh) lại là nguồn sống của nhiều thân phận. “Rác tạo con người”. Nguyễn Lãm Thắng còn vén bức màn của hiện thực để ghi lại trên/trong dòng sông những nhịp tình của gái điếm, những cuộc xướng ca, nhậu nhẹt, những oan hồn của xác chết; sự toan tính tồn tại trong “từng miếng sứt cổ vật”, trong những “khối óc có chứa nhiều gai nhọn”… Ngòi bút ký họa và quay cận cảnh của Nguyễn Lãm Thắng khiến thực tế cay đắng của cuộc sống như lan tràn, bủa vây cả phố. Chúng “bám vào từng đốt xương nhà thơ”. Thi sĩ đồng cảm với phận người chông chênh trên mỗi tấm vé số: “lời chào hỏi buổi sáng/ là tiếng mời vé số/ của cụ già cụt tay mặt cháy/ tờ vé số trên tay không đánh đổi được phận số kiếp người/ tôi nghĩ về những cuộc chiến tranh đi qua trên đất nước tôi/ những con số/ hiện rõ những xác chết” (một ngày cuối tháng bảy hai lẻ chín); chông chênh trong “tiếng ho rừng”: “người cha lên non chọc thủng rừng xanh để vá tấm áo đứa con ngày bão/ người con trai lên non bới rừng để đong bát gạo cho mẹ già luống tuổi/ người chị gái lên non cắt lúa thuê cho người catu để lo cho những đứa em đói chữ trường làng/ mẹ lên non mót củi nhóm nồng đông lạnh” (tiếng ho rừng); thương xót trước hình ảnh “người mẹ thượng đức” đến độ “tím tái quê hương”: “cam chịu/ hy sinh/ những lằn roi vô hình/ ứa máu mắt/ mẹ già mất đất/ trắng tay/ trắng tóc/ tê nhức gót chân phong thấp”…

“họng đêm” không lấy gam màu sáng làm nền. Nếu phần 2 mới phác thảo bức tranh của hiện thực thì phần 3 đã chạm thêm những nét vẽ cuối cùng để hoàn thiện bức tranh xã hội ấy. Trong “họng đêm”, xuất hiện đến 76 lần từ “đêm”, 87 lần từ “máu”. Riêng phần “nhấn phím buồn”, Nguyễn Lãm Thắng sử dụng 56 từ máu, vừa khẳng định nhấn-phím-máu của cuộc sống vừa làm nổi bật gam màu của chết chóc. Gam màu tối. Nguyễn Lãm Thắng không nhìn cuộc sống bằng ánh sáng mà nhìn bằng bóng tối, bóng của đêm, bóng của sự chết chóc, bóng máu nhân sinh đang vấy lên thơ, lên trái tim thi sĩ: ta mở mắt nhìn thế giới phía giác độ người mù/ thấy đằng sau câu chúc tụng/ vệt đâm tứa máu/ thấy từng miếng thời gian gãy khúc trên chiếc lưỡi dối lừa/ thấy sự hoài nghi từng nụ hôn” (máu đang bùng lên những ngọn lửa). Hướng đi ấy có hai lợi thế. Thứ nhất, chọn góc nhìn của người mù, anh đã lắng nghe nhịp sống bằng chính những rung động của trái tim mình. Thứ hai, chọn bóng đêm làm nền, nhịp sống dễ dàng bị đẩy, phơi ra những mặt trái của nó.

Chọn gam màu máu làm nền cho phần 3, Nguyễn Lãm Thắng gom những mảng hình của cuộc sống tạo thành bức tranh lạ, riêng có của mình - bức tranh uất: “ít ra tôi cũng đã trải qua bốn năm học hội họa/ nhưng/ tôi không có được một lần triển lãm tranh của mình/ bởi vì tôi không bao giờ vẽ tranh trên bất cứ chất liệu nào khi bạn hỏi/ nhưng/ tôi đã vẽ rất nhiều vào những đêm mất ngủ/ tôi vẽ bằng hai chiếc cọ làm bằng lông mi của hai con mắt hoà quyện sẵn với chất liệu nước mắt/ những bức tranh chất chồng trên ngực tôi/ những gam màu đen thẫm” (những bức tranh uất). Anh đã vẽ được bức tranh đẹp nhất của đời mình. Bức tranh ấy khẳng định được trái tim thao thiết cuộc sống của anh. Và cũng chỉ bằng chất liệu này, bức tranh mới thật. Theo quan niệm của anh, sự giả dối là ngọn roi thanh trừng đối với nhà thơ. Trong hoàn cảnh như vậy, thơ phải chìm trong cái chất đắng đót của cuộc đời mà cất lên tiếng nói thương cảm. Thơ đâu chỉ là mảnh đất cho tiếng nói cá nhân mình mà ở đó, thơ còn thực hiện sứ mệnh cao cả hơn, thơ phản ánh nỗi đau mà nhân loại đang phải gánh chịu. Cái tâm của người nghệ sĩ không cho phép anh làm ngơ, né tránh. Nó buộc anh dấn thân, bật lên, phơi bày những lát cắt tứa máu của cuộc sống. Vì thế, cái chất thế sự cứ thế ngồn ngộn trong thơ anh. Có thể nói, đây là mảng thành công nhất, tạo nên giọng điệu rất riêng cho thơ anh trong dòng chảy thơ trẻ Huế nói riêng và thơ trẻ Việt Nam đương đại nói chung. Bằng cách ấy, anh “bóc lớp da xù xì trên cây cổ thụ”, tự do nói về những gì đã và đang tồn tại, diễn ra khắp mọi nơi. Cuộc sống vẫn ngấm ngầm “phù sinh”, vẫn che giấu những ngột ngạt, tổn thương đang lở loét. Từ lối viết này, anh cũng bày tỏ quan niệm của mình về thơ. Thơ cần nhiều đến cái tâm của nghệ sĩ, nếu không “câu thơ mỏng cánh ve non”. Nếu chỉ “gắng sức đẻ ra những câu thơ cũ mèm nịnh bợ” thì anh sẵn sàng chọn cái chết vì “biển không hát trong cổ họng câu thơ lùn”: “mê mê man man/ ý thơ viết ra/ giả chân/ hư thực/ con chữ lăn quay ngộ độc/ viết điếu văn rồi/ còn co giật/ bởi nghĩa trang tận ráo chỗ chôn ngồi” (mê mê man man). Sự trăn trở về thơ bộc lộ rõ trên gương mặt anh qua những kĩ thuật vẽ thực của hội họa:

khuôn mặt

thâm quầng mắt

răng mọc ngược

môi tứa máu

râu lởm chởm gốc rạ

xỉn

nụ cười nhô

cái nhìn chậm từ mắt sâu

môi găm răng mọc ngược

lưỡi chạm máu chung tình

đam mê dài râu rậm rạp

màu sáng vết sẹo hình câu thơ

 (khuôn mặt tôi)

Khuôn mặt hằn những khổ đau, dằn vặt về cuộc sống và sứ mệnh thơ. Anh không đắm chìm trong những kiểu thơ gây sự bí hiểm đối với người tiếp nhận mà thơ anh thường hướng đến kiểu thơ tự sự, nói thật, nói “toạc”. Hay nói cách khác, thơ anh thiên về thơ tư tưởng. Chính tư tưởng ấy mới là sức nặng của thơ Nguyễn Lãm Thắng. Nó đánh dấu sự chuyển biến trong cách viết của anh, khác nhiều so với các tác giả trẻ Huế hiện nay.

Người ta có thể trở thành kẻ nô lệ thơ khi không làm nên cái mới, cái lạ cho mình. Ở đây, Nguyễn Lãm Thắng hoàn toàn tự chủ, quyết định lấy số mệnh thơ của mình. Anh chối từ những vần thơ bóng nhoáng, nô lệ của sự giả dối bằng hành động kiên quyết: “vỡ ra một nụ cười héo đọt một thế hệ gieo neo cạm bẫy đời bay trên dây kéo mù máu chảy trong cánh đập rớt bầm lối cỏ ngả nón đong mưa kéo tuột nóc lầu hổn hển máu chảy xuống tay người lật lá gan quàn lá phổi mùa xuân nhánh rụng lá đời mà nghe lời đá chọc cười thế gian máu chảy trên ngàn máu khua lòng đất trong đôi mắt lặng im có trăm ngàn tiếng nấc máu chảy trên nôi máu tràn miệng giếng mỗi trái tim nuôi ngàn tổ kiến để biết đau biết quặn thắt đồng bào chắp tay lạy biển rách gửi hồn vọng non mòn hứng giọt máu đào dân tộc nghe máu chảy trời cao thấy máu trào não bộ oan uất nào không vất vưởng ô hô hồn người nhấp nhô đời vờn khói xám a di nam mô máu trào thê thảm văn văn thơ thơ lam nham lảm nhảm cái vòng u u ám ám tròn tròn như vòng hoa tang những câu thơ nô lệ rủ nhau xuống mồ tìm máu ngày tròn tròn như gió xoáy đêm nhọn nhọn như tiếng chửi im lặng nghe máu chảy” (rốt cục cũng là máu thôi).

Sự mạnh dạn, dám nói thẳng, trực diện như Nguyễn Lãm Thắng, có thể nói, anh đã và đang khẳng định một dòng chảy thơ khác của thơ trẻ nói chung. 

“họng đêm” và những mạng lưới cách tân thơ

“họng đêm” không dùng dấu chấm, dấu phẩy và không viết hoa bất kì một kí tự nào, kể cả tên riêng, địa danh. “đêm tắc kè đọc trsơn” là một ví dụ. Một cái tên riêng không được viết hoa. Người đọc có thể xem đó là “trsơn” nhưng cũng có thể xem đó là một người khác, hoặc một đối tượng khác như tên tập thơ. Cái cốt lõi là người đọc có thể đặt mình vào tâm thế của “trsơn” để kết nối giữa mình với nhà thơ: “ai oán rót máu trên mái tôn ngôi nhà hoang/ đêm tân thành thủng nát/ nhói đau/ như câu thơ vượt biên không thành/ như tiếng khóc chào đời côn đảo/ như những mùa xuân bị cầm tù rục rã hốc mắt” (đêm tắc kè đọc trsơn). Khi các con chữ va chạm, Nguyễn Lãm Thắng đưa người đọc vào địa đạo siêu thực của “họng đêm”: sưởi ấm chuỗi sương làm tình nách lá; mặt trời đêm úp đáy rượu; tiếng thạch sùng đánh cắp mùi khói nhang trên bàn thờ rao bán; vòm đêm như tấm chăn gói người chết đuối; có con mắt buồn kéo tiếng chim thành những sợi tơ; lượm lặt vết mùa sám hối đang vụn ra từng hạt mù cay... Dụng ý gia tăng nhiều lớp nghĩa mới của thơ anh như thế này buộc người đọc phát huy tính đồng sáng tạo, đoán định từng con chữ. Đôi khi, Nguyễn Lãm Thắng còn đẩy vào thơ những kí tự như: “[ ]” (“theo dự kiến/ mặt đất nhô những bộ xương [dĩ nhiên mọc nhánh đẻ cành đâm quả sinh sôi nảy nở vân vân]/ điều này khả thi/ dưới mặt đất lớp lớp tầng tầng xác chết nằm nghiêng nằm ngửa nằm sấp [không biết xác chết nào ăn gian hay không]” - Thời gian nhắm mắt; “chùm củ tỏi củ hành đung đưa giàn bếp/ bó giang khô chờ vài hôm nữa chẻ lạt gói bánh [tét +chưng +rò +ú...]/ những que củi gầy rạc như nông dân xám xịt chờ ngày hóa lửa/ nồi niêu méo xệch phơi đít đen thui đen thủi/ chum vại lăng quăng diễn xiếc - Vết sẹo của nỗi buồn chái bếp); “&”. Các kí tự đều mang đến những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Các kí tự kiểu “[ ]” không chỉ giúp nhà thơ chú giải mà quan trọng giúp anh nói được những điều khó nói, luận bàn một cách tự nhiên. Ví như cách dùng ký hiệu “&”, không ảnh hưởng đến cấu tứ bài thơ, ngược lại, nó giúp anh làm mới hơn trong cách thể hiện, trình bày câu thơ của mình. Trong bài thơ “ác mộng”, “&” được sắp sếp liên tục theo cấp độ tăng dần, giúp nhà thơ thể hiện ý đồ của mình, tránh sự lặp lại rườm rà:

con đường có sẵn

mang lốt dọa người

con đường có sẵn

đẫy rẫy những hố hầm lừa bịp

mọc lên những vòng hoa sắc máu gian hùng

&&

&&&&

&&&&&&

 Con đường không có giới hạn, điểm dừng. Những gì đang tồn tại, vẫn, sẽ tiếp diễn. Con đường ấy chính là hiện thân con đường đời của con người. Sự lừa bịp, máu, nước mắt... vẫn còn ở phía trước.

Cách ghi lại thời điểm ra đời của một bài thơ cũng tạo cái riêng biệt cho “họng đêm”. Anh không chừa một khoảng trắng văn bản nào giữa các con chữ mà để chúng viết liền nhau: gànhrángmùađông1998, mỹđình07112008, kiệtdứahè2008, đạinội3h25062009, ngãtưâmhồnhuế082000, xómràomồng4tếttânmão, 22h3414032011,... Cái chất giọng tưng tửng không chỉ thể hiện trong văn bản thơ mà nó còn thể hiện ngay ở phần ngoài văn bản này: quảngnamngàymôquênmấttiêu. Trong tập “họng đêm”, có một số câu thơ cũng sử dụng hình thức này. Ở bài “ký họa dân đen”, anh viết:

những khuôn mặt bất an

gặp nhau giữa ngã tư ngã ba đường phố

xanh lét những cụm từ

bảohiểmgiấytờxebằngláiđènđỏđènxanhbiênbảnphạttiền

áovàngáoxanháoxám

khóixebụiđườngổgàổvịtláchluồntainạnchấnthương

 cấpcứu

ám ảnh mọc lên những miếu mạo dọc đường

Những cụm từ kết dính chặt chẽ: các giấy tờ, tín hiệu, biên bản, quân phục, giao thông... gây sự chú ý, tò mò đối với người đọc. Đó là những hiện trạng đang xảy ra thường ngày trong cuộc sống của chúng ta. Những vòng kết nối ấy không chấm dứt được nghĩa là trên những khuôn mặt của người dân vẫn bao trùm những nỗi lo: “những khuôn mặt bất an/ trên những mảnh đời bất định (ký họa dân đen). Ngược lại, có đôi chỗ, trong một câu thơ, Nguyễn Lãm Thắng lại chừa nhiều khoảng trắng. Nó vừa thực hiện nhiệm vụ ngắt nhịp dài, tạo độ ngưng nghỉ nhưng nó cũng vừa thực hiện nhiệm vụ chuyển tải nội dung. Các khoảng trắng ăn khớp với con chữ để đẩy tư tưởng của câu thơ, đoạn thơ, bài thơ đi xa hơn nữa:

em là con gái

đồng nghĩa với nỗi buồn tuyệt tự

nhưng biết làm sao

em lỡ tay cầm chùm chìa khóa

hưởng thụ sắp xếp hoang phí

hoặc bới tung lên di sản khi cánh cửa từ đường

 bật mở

(em lỡ tay cầm chùm chìa khóa)

Khoảng trắng từ “hưởng thụ” đến “sắp xếp” rồi “hoang phí” không nhằm nhấn mạnh những hoạt động của “em” mà nhằm mục đích nhấn mạnh những vòng quay nghiệt ngã mà em không thể nào vượt qua để bảo tồn. Bởi vì, trắng đen lẫn lộn trong từng đường gân thớ thịt của cuộc đời: “dãy núi mù lòa oằn vai gánh những ngôi mộ không tên đang khao khát một ngày nắng muộn của dĩ vãng rất xa trong ký ức sau cuộc chiến trái tim biết đau phút lọt lòng nhàu nát đong đưa dáng hình tật nguyền hạt gạo mắc lũ từng dòng nghĩ phơi cốt trơ xương nhọc nhằn qua năm tháng lũ diều hâu hút máu trong thung lũng tiếng kêu ai oán hỗn mang táo tợn gian manh tràn ngập như lũ quét chúng bới tìm lục lọi trong từng ngõ ngách những khoảng cách khó phân biệt rạch ròi đúng sai đen trắng tất cả ánh sáng đều vỡ vụn trong cái nhìn bất lực delete tất cả nỗi buồn lại càng buồn gió mòn núi suối mòn nấm mồ ẩm ướt dấu hỏi thời gian như lưỡi liềm cắt cổ không thể delete một giấc mơ rỉ máu” (nhấn phím buồn).

Thủ pháp nghệ thuật lặp từ, lặp câu, lặp cấu trúc cũng được sử dụng khá nhiều trong tập thơ. Bài thơ “hên xui” thể hiện rõ cách làm mới trong thủ thuật lặp của Nguyễn Lãm Thắng: “có nhiều con ngươi/ nằm ngoài con mắt/ có nhiều con mắt/ không có con ngươi// có nhiều con người/ nằm ngoài khuôn mặt/ có nhiều khuôn mặt/ không phải con người// có nhiều con ngươi/ ẩn trên khuôn mặt/ có nhiều khuôn mặt/ không có con ngươi// có nhiều con mắt/ trên một con người/ có nhiều con người/ không có con mắt”. Vừa sử dụng các kiểu lặp, vừa sử dụng nghệ thuật tương phản, vừa kiệm từ, các con chữ như được đẩy xoay vòng tròn, mở ra những triết lý về bản thể của con người: có nhiều mặt nạ tồn tại trên mỗi khuôn mặt. Ở bài “liên tưởng phố”, anh kết hợp nhiều kĩ thuật: khoảng trống, kết dính các con chữ, dùng kí tự [ ], rải dài các nguyên âm đôi và đơn để khắc họa chân dung sinh động của phố lúc 3h chiều:

đúng 3h chiều phố hết sủa

phaydồimăngxáonướngrựamậnbảvaihonsúngmậttiếtgừngriềngsãớtthúiđịt

[mơlông]quếngỗtỏichanhmắmtômrượugạo

phố vẫn mưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưa

chợ vẫn gióóóóóóóóóóóóóóóóóóóóó

quán vẫn gâuâuâuâuâuâuâu

ta vẫn nhớ em khủng

vườnxoàimườiđônămhậusungđỏhònchồngtámvuivinpearl

Khắc họa tường tận như thế chỉ có thể xuất phát từ một trái tim đa cảm. Vì thế, dù ở “camranhcamlâmninhhòadiênkhánhvạn ninhkhánhvĩnh” “hay ở hòn chồng”, ở “trên xe leo đèo rọ tượng”, đều để lại những ấn tượng riêng. Những ấn tượng ấy kết thành từng giọt nhớ, chùm nhớ:

ta kéo kim đồng hồ quay ngược

ta tin vào thời gian của ta

không thượng đế nào cấm ta được

ta nhìn trời mưa hay mưa trời nhìn ta

 giọt giọt

 từng giọt

 từng cơn

 từng trận

 rớt xuống ngày đêm

nhớ

 nhớ

 nhớ

 nhớ nhớ

 nhớ

(liên tưởng phố)

Những cái mới của “họng đêm” làm nên giọng điệu lạ của Nguyễn Lãm Thắng. Giọng điệu đôi khi mượt mà, êm ái, ngọt ngào (nói về tình yêu), đôi khi tưng tửng, lạnh lùng (nói về những mặt trái của xã hội), đôi khi lại giễu cợt, trêu ngươi (nói về chính mình)... Nhưng nổi bật hơn cả là cái giọng trầm lắng, ẩn chứa nhiều nỗi lo toan, đau xót. Chỉ là cuộc đối đáp giữa mẹ và con nhưng anh khiến chúng ta phải ngẫm suy, chột dạ khi đọc xong bài thơ “hỏi mẹ”: “chạy về quê hỏi mẹ/ hỏi vị mặn cau trầu/ hỏi vị chua tóc trắng/ hỏi vị nồng tiếng chuông/ hỏi vị cay ngày tháng/ hỏi vị đắng đêm đen// mẹ trả lời bằng nụ cười/ mẹ trả lời bằng nước mắt/ mẹ trả lời bằng im lặng/ mẹ trả lời bằng cái nhìn xa xăm/ mẹ trả lời bằng mẹ”. Câu chữ không có gì mới, rất đỗi bình dị nhưng sao nghe nhức nhối trong lòng. Nhưng cũng nhờ cái chất giọng rưng rức, đắng đót này Nguyễn Lãm Thắng mới thực sự làm nên cái tôi của mình - một cái tôi sẵn sàng tuyên ngôn sự thật: “những gì phơi phải nhờ ánh sáng/ & suốt đời nô lệ ánh sáng/ nhữnggìcầntìmcầnlụccầnsuycầnkhảocầnchỉtríchcầnphêbìnhcầnnghiêncứu/ thì phải cần bóng tối/ bóng tối cần thiết để ý đồ lưu manh bước vào/ bóng tối cần thiết để công tâm bước vào/ cái mập mờ nửa sáng nửa tối khuyến khích tính tò mò ra phết” (sáng & tối) và sẵn sàng từ bỏ sự lặp lại trong sáng tạo nghệ thuật:

sự lặp lại đớn hèn

câu thơ cõng lời ru trong bể lửa hun từ nước mắt

lặng lẽ đi

bia mộ nào khắc ghi được tiếng thở

bởi hơi thở cuối cùng là di ngôn rạch ròi yêu & ghét

(câu thơ bung gai giữa ngày không nắng)

Tôi thích bức tranh ký họa “họng đêm” của Nguyễn Lãm Thắng. Bức tranh “bung gai giữa ngày không nắng” nhưng đầy nhiệt năng để truyền năng lượng cho “họng đêm”. “họng đêm” bung những cái gai của nó. Có những cái gai làm ta thấy khó chịu, nhói mắt nhưng cũng có những cái gai làm trái tim ta đau đớn, xót xa. Nguyễn Lãm Thắng đã tung mình vào họng gai để nhận lấy những thành quả ngọt ngào của sáng tạo, nhờ thế, “họng đêm” có được những giá trị nhất định về mặt tư tưởng và nghệ thuật. Với “họng đêm”, Nguyễn Lãm Thắng thực sự đã minh chứng được vị trí của mình đối với thơ trẻ đương đại.

Đồng Hới, ngày 17-11-2011

--------------

(*). Nguyễn Lãm Thắng, Họng đêm, NXB Văn học, 2012. 



[1] Họng đêm, NXB Văn học, 2012.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2317)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3424)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3651)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4259)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3726)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4730)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3042)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2979)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8818)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15794)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15169)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2317)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4258)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5604)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3042)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4567)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4080)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4824)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3424)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3651)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3726)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4730)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2979)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3097)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3581)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11662)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28068)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34471)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34553)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9220)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11454)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2317)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5604)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5122)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5178)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4517)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6478)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5731)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7529)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.