- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HỌNG ĐÊM VÀ NHỮNG CÂU THƠ BUNG GAI GIỮA NGÀY KHÔNG NẮNG

08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 80526)


hong_dem-content

Con đường thơ của Nguyễn Lãm Thắng có nhiều bước chuyển. Sau “Điệp ngữ tình”, “Giấc mơ buổi sáng” (333 bài thơ thiếu nhi), anh thử nghiệm, gieo hạt giống thơ của mình vào thế trận khác: thế trận đời. Thế trận này đã đánh dấu tiếng nói riêng cho “họng đêm”[*] trong hành trình sáng - tạo - thi ca của anh. Anh gần như đoạn tuyệt hẳn cái nhìn trong trẻo của “Điệp ngữ tình”, cái hồn nhiên thơ trẻ của “Giấc mơ buổi sáng” để ném vào “họng đêm” cái nhìn từ góc độ người mù và “có thể nói nhiều về điều không thể nói”.

Nhan đề “họng đêm” gợi nhiều bí ẩn, lạ. Lạ ở cách dùng từ. Lạ ở khoảng không siêu thực. Nhưng đó là một dụng ý khá thành công của Nguyễn Lãm Thắng. Ba phần là ba không gian: “ngát tận”, “tiếng ho rừng” và “nhấn phím buồn”. Xác định được giá trị của ba không gian ấy không phải là dễ. Bởi vì, không có chiếc áo nào để “họng đêm” mặc vừa. Cái áo mà nó đang mặc chật cứng, bung ra nhiều gai nhọn - gai nhọn của chữ “bung gai giữa ngày không nắng”. Các con chữ sắc ngọt, trương nở qua các công đoạn cắt dán và lắp ghép, hình thành nên những điểm nhô, nhọn, tượng trưng, siêu thực. Do đó, những thi ảnh của “họng đêm” vừa cất giấu những ám ảnh vô thức, vừa đầy lý trí, gợi nhiều luồng tiếp nhận.

“họng đêm” và “mùa thu hoạch của sự dâng hiến”

Âm hưởng sex trong thơ không phải là vấn đề mới. Nhiều cây bút đã thử nghiệm và gặt hái được những thành công nhất định. Đặc biệt, thơ phái nữ tỏ ra nổi trội hơn và bạo liệt hơn khi đề cập đến đề tài này. So với thơ nữ, sex trong thơ nam cũng có những điểm riêng biệt. Bởi lẽ, họ biết khai thác vẻ đẹp thiên phú của người phụ nữ qua cái nhìn thương yêu, trân trọng. Thơ Nguyễn Lãm Thắng thiên về cách khai thác này. “ngát tận” đang vào “mùa thu hoạch của sự dâng hiến”. Những từ ngữ mang đặc trưng tính dục được đẩy vào một cách cao độ, bằng những hành động sex: giao phối, trườn, siết chặt, cuộn siết, khắc, tràn, bóc, quấn, cấu, lồng,... Trong sự dâng hiến, tình yêu “ngát tận” vĩnh cửu. Trong sự dâng hiến, vẻ đẹp của người tình phô bày hết thảy. Những thi ảnh mang tính nhục thể được chiếu bằng nhiều góc độ: “mùa xuân dấu lửa ngực em”; “toát nóng mùa thơm/ cặp đùi rói trinh/ bốn mùa môi ấy/ khoảng cách đồng hoang không đan xích” (vạch vết máu cho mùa xuân); “chốn linh thiêng em/ mầm động tiết tấu bung tình” (mầm động)… Chất táo bạo, ngọt ngào và đầy khêu gợi của sex được xử lý cận cảnh và cả viễn cảnh: “biển hương em/ nhốt anh/ sóng điệp/ ngọt lựng vai mềm ngực ấm/ phiến đá ư hừ tiếng thở nghìn năm xác ướp/ mùa đông/ cháy khét triền môi (cao nguyên mùa đông đá thở); “sau lưng chúng ta/ là đất/ là trời/ khát yêu” (đối diện nhật lệ). Khi tình yêu đến độ cuồng nhiệt, Nguyễn Lãm Thắng đặt dấu tình ngay trên ngực, trên trán người yêu, và không gian như được nới rộng bởi biên độ, sức hút của “tiếng trinh rên”:

mắt lửa

tôi nhìn bằng tia hôn

nhiệt cuồng adam

động khuấy

cầu thang rung bão

néon ảo mờ nhục cảm

tôi khắc đời em ngực trần non ngát

đánh dấu trán bướng vết dao lưỡi nóng ran 

nhũn nhầy hồn phách

không gian ba chiều rôm rốp trinh rên

nhạc ngân vai phố

tương phối tiếng hôn

(ngợp tình)

Nguyễn Lãm Thắng còn “bóc” từng “huyết mạch” để đến được thiên đường của tình yêu và sự hiến dâng. Thiên đường của sự “nõn nà”, “mởn ngọt”: “bóc đôi cánh mềm/ thiên đường hé lộ tầng tầng ân ái/ bộ ngực đầy đặn em/ lộ giai điệu hôn/ tròn căng thơm phức/ mồ hôi cám dỗ tách vỏ/ ngày tháng/ sóng sánh/ lớp da non nõn nà mềm mại/ nụ hoa hồng sơ khai mởn ngọt/ chúm chím bản nguyên ái ân (ngày tận cùng em giấc tự do). Ngay cách xưng hô “anh-em” tình tứ, gần gũi, cộng hưởng với tần số lặp lại từ “hôn” cũng giúp tác giả thực hiện được cấp số nhân để thặng dư mùa của sự dâng hiến. Trong mùa hoan lạc, từ “hôn” được lặp lại nhiều lần. Lặp 38 lần/42 bài thơ. Cách gọi tên từng động thái “hôn” của nhà thơ rất đa dạng, góp phần làm sinh động cho tình yêu vào mùa hiến dâng: nhụy hôn, chùm hôn, trận hôn, vòng hôn, cõi hôn, giai điệu hôn, sóng hôn, đóa hôn, nhựa hôn, từng thớ hôn, từng sợi hôn, lời hôn, bóng hôn, miền hôn, mầm hôn,... So với phần 1, phần 2 và phần 3 chỉ có 7 lần lặp từ “hôn”. Dụng ý đã thay đổi, khác với phần 1. Cả hai phần này, trong những nụ hôn đã mang sự giả tạo, dối lừa: “nụ hôn lừa mỏng lét”; “nhưng chúng ta biết giọt máu mình đau khi lửa hôn bốc cháy”; “cuộc tình ấy như cuộc chiến tranh quên thuốc súng/bởi sống bên nhau mà tê liệt môi hôn” (sẽ quên một cuộc tình); “sự tắt nghẽn mạch hôn/có thể nảy sinh bệnh trĩ tâm tưởng” (chúng ta nói về chúng ta),... Như thế, phần 1, từ “hôn”, tự nó đã thiết lập không gian của tình yêu, của sự dâng hiến.

Nhưng Nguyễn Lãm Thắng đâu chỉ ngợi ca ngọn lửa tình yêu, sức nóng của những trận hôn và bỏng riết trong vườn hoan lạc mà anh còn gửi gắm trong đó những triết lý rất riêng về tình yêu. Tình yêu của anh xuất phát từ quan niệm về sự tự do. Chỉ trong tự do, tình yêu mới trở về đúng bản nguyên của nó. Những thế lực, trở ngại không làm tình yêu chết đi mà tồn tại vĩnh cửu dẫu đó là tình yêu của ngày tận. Tình yêu làm tan chảy những nỗi buồn, những thù hận, những sắc màu phân biệt,... “ngày tận/ ta yêu nhau bằng hơi thở đầy bằng siết tay rướn chân bằng âm thanh mùa thu hoạch/ cởi bỏ tất cả sắc màu giáo điều hợm hĩnh còn sót cơ thể/ dội yêu thương vết cắn/ xóa chán chường

môi quét/ lau căm thù chiếc lưỡi trượt dài cơ thể/ mặc tiếng gõ cửa phân bua ngàn lần bão lạ/ mặc trận cuồng phong dở trò hù dọa mái nhà cô tịch/ ta bảo toàn lực lượng hứ ư/ bảo toàn dòng ái tràn đôi môi co giật (ngày tận cùng em trong giấc tự do). Tình yêu đích thực luôn vĩnh hằng bởi nó lớn lên bằng chính ánh sáng của tình người:

ánh sáng là trần truồng tiếng thở

rọi mống nhiệt cuồng

tình yêu không chết

bởi

tình yêu xuất thân từ đêm

& lớn lên bằng ánh sáng

 (ánh sáng là trần truồng của tiếng thở)

“họng đêm” và những vòng xoáy cuộc đời

Đến với phần 2 và phần 3 của tập “họng đêm”, sự ngọt ngào của tình yêu không còn, thay vào đó là những cám cảnh đời nhìn từ phía giác độ người mù. Ở điểm nhìn ấy, Nguyễn Lãm Thắng đã nói được ngay cả những điều tưởng như không thể nói. Nếu phần 1, cách gọi xưng chủ yếu là “anh-em” thì sang hai phần còn lại, anh hướng về cái tôi bằng kiểu xưng hô khác: “tôi-em”. Nếu phần 1, em là đối tượng, là người mà chủ thể trữ tình ngợi ca, hướng đến thì sang phần 2, “em” là nàng thơ, là người lắng nghe, chia sẻ với nhà thơ trước những cảnh đời ngang trái. Nếu phần 1, anh rạo rực, bốc lửa với những vần thơ thấm đẫm nhục tình thì phần 2, anh là một nhà nghệ sĩ thương cảm, xót đắng với đời. Anh trực ngôn sự thật. Sự thật được lột xác, giơ bộ mặt của nó trong rác thối: “sự thật lẩn khuất trong mớ rác rến ô nhiễm/ mớ hổ lốn bầy đàn kinh tởm/ trôi qua từng buổi sáng tin vịt” (có thể nói nhiều về điều không thể nói). Nhưng trớ trêu và rất thực, “băng vệ sinh nhầy nhụa/ ve chai/ bao ni lông/ thức ăn thừa mứa/ giấy lộn & xác chết/ xen lẫn/ rác rưởi vô hồn bốc mùi quen thuộc” (mưu sinh) lại là nguồn sống của nhiều thân phận. “Rác tạo con người”. Nguyễn Lãm Thắng còn vén bức màn của hiện thực để ghi lại trên/trong dòng sông những nhịp tình của gái điếm, những cuộc xướng ca, nhậu nhẹt, những oan hồn của xác chết; sự toan tính tồn tại trong “từng miếng sứt cổ vật”, trong những “khối óc có chứa nhiều gai nhọn”… Ngòi bút ký họa và quay cận cảnh của Nguyễn Lãm Thắng khiến thực tế cay đắng của cuộc sống như lan tràn, bủa vây cả phố. Chúng “bám vào từng đốt xương nhà thơ”. Thi sĩ đồng cảm với phận người chông chênh trên mỗi tấm vé số: “lời chào hỏi buổi sáng/ là tiếng mời vé số/ của cụ già cụt tay mặt cháy/ tờ vé số trên tay không đánh đổi được phận số kiếp người/ tôi nghĩ về những cuộc chiến tranh đi qua trên đất nước tôi/ những con số/ hiện rõ những xác chết” (một ngày cuối tháng bảy hai lẻ chín); chông chênh trong “tiếng ho rừng”: “người cha lên non chọc thủng rừng xanh để vá tấm áo đứa con ngày bão/ người con trai lên non bới rừng để đong bát gạo cho mẹ già luống tuổi/ người chị gái lên non cắt lúa thuê cho người catu để lo cho những đứa em đói chữ trường làng/ mẹ lên non mót củi nhóm nồng đông lạnh” (tiếng ho rừng); thương xót trước hình ảnh “người mẹ thượng đức” đến độ “tím tái quê hương”: “cam chịu/ hy sinh/ những lằn roi vô hình/ ứa máu mắt/ mẹ già mất đất/ trắng tay/ trắng tóc/ tê nhức gót chân phong thấp”…

“họng đêm” không lấy gam màu sáng làm nền. Nếu phần 2 mới phác thảo bức tranh của hiện thực thì phần 3 đã chạm thêm những nét vẽ cuối cùng để hoàn thiện bức tranh xã hội ấy. Trong “họng đêm”, xuất hiện đến 76 lần từ “đêm”, 87 lần từ “máu”. Riêng phần “nhấn phím buồn”, Nguyễn Lãm Thắng sử dụng 56 từ máu, vừa khẳng định nhấn-phím-máu của cuộc sống vừa làm nổi bật gam màu của chết chóc. Gam màu tối. Nguyễn Lãm Thắng không nhìn cuộc sống bằng ánh sáng mà nhìn bằng bóng tối, bóng của đêm, bóng của sự chết chóc, bóng máu nhân sinh đang vấy lên thơ, lên trái tim thi sĩ: ta mở mắt nhìn thế giới phía giác độ người mù/ thấy đằng sau câu chúc tụng/ vệt đâm tứa máu/ thấy từng miếng thời gian gãy khúc trên chiếc lưỡi dối lừa/ thấy sự hoài nghi từng nụ hôn” (máu đang bùng lên những ngọn lửa). Hướng đi ấy có hai lợi thế. Thứ nhất, chọn góc nhìn của người mù, anh đã lắng nghe nhịp sống bằng chính những rung động của trái tim mình. Thứ hai, chọn bóng đêm làm nền, nhịp sống dễ dàng bị đẩy, phơi ra những mặt trái của nó.

Chọn gam màu máu làm nền cho phần 3, Nguyễn Lãm Thắng gom những mảng hình của cuộc sống tạo thành bức tranh lạ, riêng có của mình - bức tranh uất: “ít ra tôi cũng đã trải qua bốn năm học hội họa/ nhưng/ tôi không có được một lần triển lãm tranh của mình/ bởi vì tôi không bao giờ vẽ tranh trên bất cứ chất liệu nào khi bạn hỏi/ nhưng/ tôi đã vẽ rất nhiều vào những đêm mất ngủ/ tôi vẽ bằng hai chiếc cọ làm bằng lông mi của hai con mắt hoà quyện sẵn với chất liệu nước mắt/ những bức tranh chất chồng trên ngực tôi/ những gam màu đen thẫm” (những bức tranh uất). Anh đã vẽ được bức tranh đẹp nhất của đời mình. Bức tranh ấy khẳng định được trái tim thao thiết cuộc sống của anh. Và cũng chỉ bằng chất liệu này, bức tranh mới thật. Theo quan niệm của anh, sự giả dối là ngọn roi thanh trừng đối với nhà thơ. Trong hoàn cảnh như vậy, thơ phải chìm trong cái chất đắng đót của cuộc đời mà cất lên tiếng nói thương cảm. Thơ đâu chỉ là mảnh đất cho tiếng nói cá nhân mình mà ở đó, thơ còn thực hiện sứ mệnh cao cả hơn, thơ phản ánh nỗi đau mà nhân loại đang phải gánh chịu. Cái tâm của người nghệ sĩ không cho phép anh làm ngơ, né tránh. Nó buộc anh dấn thân, bật lên, phơi bày những lát cắt tứa máu của cuộc sống. Vì thế, cái chất thế sự cứ thế ngồn ngộn trong thơ anh. Có thể nói, đây là mảng thành công nhất, tạo nên giọng điệu rất riêng cho thơ anh trong dòng chảy thơ trẻ Huế nói riêng và thơ trẻ Việt Nam đương đại nói chung. Bằng cách ấy, anh “bóc lớp da xù xì trên cây cổ thụ”, tự do nói về những gì đã và đang tồn tại, diễn ra khắp mọi nơi. Cuộc sống vẫn ngấm ngầm “phù sinh”, vẫn che giấu những ngột ngạt, tổn thương đang lở loét. Từ lối viết này, anh cũng bày tỏ quan niệm của mình về thơ. Thơ cần nhiều đến cái tâm của nghệ sĩ, nếu không “câu thơ mỏng cánh ve non”. Nếu chỉ “gắng sức đẻ ra những câu thơ cũ mèm nịnh bợ” thì anh sẵn sàng chọn cái chết vì “biển không hát trong cổ họng câu thơ lùn”: “mê mê man man/ ý thơ viết ra/ giả chân/ hư thực/ con chữ lăn quay ngộ độc/ viết điếu văn rồi/ còn co giật/ bởi nghĩa trang tận ráo chỗ chôn ngồi” (mê mê man man). Sự trăn trở về thơ bộc lộ rõ trên gương mặt anh qua những kĩ thuật vẽ thực của hội họa:

khuôn mặt

thâm quầng mắt

răng mọc ngược

môi tứa máu

râu lởm chởm gốc rạ

xỉn

nụ cười nhô

cái nhìn chậm từ mắt sâu

môi găm răng mọc ngược

lưỡi chạm máu chung tình

đam mê dài râu rậm rạp

màu sáng vết sẹo hình câu thơ

 (khuôn mặt tôi)

Khuôn mặt hằn những khổ đau, dằn vặt về cuộc sống và sứ mệnh thơ. Anh không đắm chìm trong những kiểu thơ gây sự bí hiểm đối với người tiếp nhận mà thơ anh thường hướng đến kiểu thơ tự sự, nói thật, nói “toạc”. Hay nói cách khác, thơ anh thiên về thơ tư tưởng. Chính tư tưởng ấy mới là sức nặng của thơ Nguyễn Lãm Thắng. Nó đánh dấu sự chuyển biến trong cách viết của anh, khác nhiều so với các tác giả trẻ Huế hiện nay.

Người ta có thể trở thành kẻ nô lệ thơ khi không làm nên cái mới, cái lạ cho mình. Ở đây, Nguyễn Lãm Thắng hoàn toàn tự chủ, quyết định lấy số mệnh thơ của mình. Anh chối từ những vần thơ bóng nhoáng, nô lệ của sự giả dối bằng hành động kiên quyết: “vỡ ra một nụ cười héo đọt một thế hệ gieo neo cạm bẫy đời bay trên dây kéo mù máu chảy trong cánh đập rớt bầm lối cỏ ngả nón đong mưa kéo tuột nóc lầu hổn hển máu chảy xuống tay người lật lá gan quàn lá phổi mùa xuân nhánh rụng lá đời mà nghe lời đá chọc cười thế gian máu chảy trên ngàn máu khua lòng đất trong đôi mắt lặng im có trăm ngàn tiếng nấc máu chảy trên nôi máu tràn miệng giếng mỗi trái tim nuôi ngàn tổ kiến để biết đau biết quặn thắt đồng bào chắp tay lạy biển rách gửi hồn vọng non mòn hứng giọt máu đào dân tộc nghe máu chảy trời cao thấy máu trào não bộ oan uất nào không vất vưởng ô hô hồn người nhấp nhô đời vờn khói xám a di nam mô máu trào thê thảm văn văn thơ thơ lam nham lảm nhảm cái vòng u u ám ám tròn tròn như vòng hoa tang những câu thơ nô lệ rủ nhau xuống mồ tìm máu ngày tròn tròn như gió xoáy đêm nhọn nhọn như tiếng chửi im lặng nghe máu chảy” (rốt cục cũng là máu thôi).

Sự mạnh dạn, dám nói thẳng, trực diện như Nguyễn Lãm Thắng, có thể nói, anh đã và đang khẳng định một dòng chảy thơ khác của thơ trẻ nói chung. 

“họng đêm” và những mạng lưới cách tân thơ

“họng đêm” không dùng dấu chấm, dấu phẩy và không viết hoa bất kì một kí tự nào, kể cả tên riêng, địa danh. “đêm tắc kè đọc trsơn” là một ví dụ. Một cái tên riêng không được viết hoa. Người đọc có thể xem đó là “trsơn” nhưng cũng có thể xem đó là một người khác, hoặc một đối tượng khác như tên tập thơ. Cái cốt lõi là người đọc có thể đặt mình vào tâm thế của “trsơn” để kết nối giữa mình với nhà thơ: “ai oán rót máu trên mái tôn ngôi nhà hoang/ đêm tân thành thủng nát/ nhói đau/ như câu thơ vượt biên không thành/ như tiếng khóc chào đời côn đảo/ như những mùa xuân bị cầm tù rục rã hốc mắt” (đêm tắc kè đọc trsơn). Khi các con chữ va chạm, Nguyễn Lãm Thắng đưa người đọc vào địa đạo siêu thực của “họng đêm”: sưởi ấm chuỗi sương làm tình nách lá; mặt trời đêm úp đáy rượu; tiếng thạch sùng đánh cắp mùi khói nhang trên bàn thờ rao bán; vòm đêm như tấm chăn gói người chết đuối; có con mắt buồn kéo tiếng chim thành những sợi tơ; lượm lặt vết mùa sám hối đang vụn ra từng hạt mù cay... Dụng ý gia tăng nhiều lớp nghĩa mới của thơ anh như thế này buộc người đọc phát huy tính đồng sáng tạo, đoán định từng con chữ. Đôi khi, Nguyễn Lãm Thắng còn đẩy vào thơ những kí tự như: “[ ]” (“theo dự kiến/ mặt đất nhô những bộ xương [dĩ nhiên mọc nhánh đẻ cành đâm quả sinh sôi nảy nở vân vân]/ điều này khả thi/ dưới mặt đất lớp lớp tầng tầng xác chết nằm nghiêng nằm ngửa nằm sấp [không biết xác chết nào ăn gian hay không]” - Thời gian nhắm mắt; “chùm củ tỏi củ hành đung đưa giàn bếp/ bó giang khô chờ vài hôm nữa chẻ lạt gói bánh [tét +chưng +rò +ú...]/ những que củi gầy rạc như nông dân xám xịt chờ ngày hóa lửa/ nồi niêu méo xệch phơi đít đen thui đen thủi/ chum vại lăng quăng diễn xiếc - Vết sẹo của nỗi buồn chái bếp); “&”. Các kí tự đều mang đến những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Các kí tự kiểu “[ ]” không chỉ giúp nhà thơ chú giải mà quan trọng giúp anh nói được những điều khó nói, luận bàn một cách tự nhiên. Ví như cách dùng ký hiệu “&”, không ảnh hưởng đến cấu tứ bài thơ, ngược lại, nó giúp anh làm mới hơn trong cách thể hiện, trình bày câu thơ của mình. Trong bài thơ “ác mộng”, “&” được sắp sếp liên tục theo cấp độ tăng dần, giúp nhà thơ thể hiện ý đồ của mình, tránh sự lặp lại rườm rà:

con đường có sẵn

mang lốt dọa người

con đường có sẵn

đẫy rẫy những hố hầm lừa bịp

mọc lên những vòng hoa sắc máu gian hùng

&&

&&&&

&&&&&&

 Con đường không có giới hạn, điểm dừng. Những gì đang tồn tại, vẫn, sẽ tiếp diễn. Con đường ấy chính là hiện thân con đường đời của con người. Sự lừa bịp, máu, nước mắt... vẫn còn ở phía trước.

Cách ghi lại thời điểm ra đời của một bài thơ cũng tạo cái riêng biệt cho “họng đêm”. Anh không chừa một khoảng trắng văn bản nào giữa các con chữ mà để chúng viết liền nhau: gànhrángmùađông1998, mỹđình07112008, kiệtdứahè2008, đạinội3h25062009, ngãtưâmhồnhuế082000, xómràomồng4tếttânmão, 22h3414032011,... Cái chất giọng tưng tửng không chỉ thể hiện trong văn bản thơ mà nó còn thể hiện ngay ở phần ngoài văn bản này: quảngnamngàymôquênmấttiêu. Trong tập “họng đêm”, có một số câu thơ cũng sử dụng hình thức này. Ở bài “ký họa dân đen”, anh viết:

những khuôn mặt bất an

gặp nhau giữa ngã tư ngã ba đường phố

xanh lét những cụm từ

bảohiểmgiấytờxebằngláiđènđỏđènxanhbiênbảnphạttiền

áovàngáoxanháoxám

khóixebụiđườngổgàổvịtláchluồntainạnchấnthương

 cấpcứu

ám ảnh mọc lên những miếu mạo dọc đường

Những cụm từ kết dính chặt chẽ: các giấy tờ, tín hiệu, biên bản, quân phục, giao thông... gây sự chú ý, tò mò đối với người đọc. Đó là những hiện trạng đang xảy ra thường ngày trong cuộc sống của chúng ta. Những vòng kết nối ấy không chấm dứt được nghĩa là trên những khuôn mặt của người dân vẫn bao trùm những nỗi lo: “những khuôn mặt bất an/ trên những mảnh đời bất định (ký họa dân đen). Ngược lại, có đôi chỗ, trong một câu thơ, Nguyễn Lãm Thắng lại chừa nhiều khoảng trắng. Nó vừa thực hiện nhiệm vụ ngắt nhịp dài, tạo độ ngưng nghỉ nhưng nó cũng vừa thực hiện nhiệm vụ chuyển tải nội dung. Các khoảng trắng ăn khớp với con chữ để đẩy tư tưởng của câu thơ, đoạn thơ, bài thơ đi xa hơn nữa:

em là con gái

đồng nghĩa với nỗi buồn tuyệt tự

nhưng biết làm sao

em lỡ tay cầm chùm chìa khóa

hưởng thụ sắp xếp hoang phí

hoặc bới tung lên di sản khi cánh cửa từ đường

 bật mở

(em lỡ tay cầm chùm chìa khóa)

Khoảng trắng từ “hưởng thụ” đến “sắp xếp” rồi “hoang phí” không nhằm nhấn mạnh những hoạt động của “em” mà nhằm mục đích nhấn mạnh những vòng quay nghiệt ngã mà em không thể nào vượt qua để bảo tồn. Bởi vì, trắng đen lẫn lộn trong từng đường gân thớ thịt của cuộc đời: “dãy núi mù lòa oằn vai gánh những ngôi mộ không tên đang khao khát một ngày nắng muộn của dĩ vãng rất xa trong ký ức sau cuộc chiến trái tim biết đau phút lọt lòng nhàu nát đong đưa dáng hình tật nguyền hạt gạo mắc lũ từng dòng nghĩ phơi cốt trơ xương nhọc nhằn qua năm tháng lũ diều hâu hút máu trong thung lũng tiếng kêu ai oán hỗn mang táo tợn gian manh tràn ngập như lũ quét chúng bới tìm lục lọi trong từng ngõ ngách những khoảng cách khó phân biệt rạch ròi đúng sai đen trắng tất cả ánh sáng đều vỡ vụn trong cái nhìn bất lực delete tất cả nỗi buồn lại càng buồn gió mòn núi suối mòn nấm mồ ẩm ướt dấu hỏi thời gian như lưỡi liềm cắt cổ không thể delete một giấc mơ rỉ máu” (nhấn phím buồn).

Thủ pháp nghệ thuật lặp từ, lặp câu, lặp cấu trúc cũng được sử dụng khá nhiều trong tập thơ. Bài thơ “hên xui” thể hiện rõ cách làm mới trong thủ thuật lặp của Nguyễn Lãm Thắng: “có nhiều con ngươi/ nằm ngoài con mắt/ có nhiều con mắt/ không có con ngươi// có nhiều con người/ nằm ngoài khuôn mặt/ có nhiều khuôn mặt/ không phải con người// có nhiều con ngươi/ ẩn trên khuôn mặt/ có nhiều khuôn mặt/ không có con ngươi// có nhiều con mắt/ trên một con người/ có nhiều con người/ không có con mắt”. Vừa sử dụng các kiểu lặp, vừa sử dụng nghệ thuật tương phản, vừa kiệm từ, các con chữ như được đẩy xoay vòng tròn, mở ra những triết lý về bản thể của con người: có nhiều mặt nạ tồn tại trên mỗi khuôn mặt. Ở bài “liên tưởng phố”, anh kết hợp nhiều kĩ thuật: khoảng trống, kết dính các con chữ, dùng kí tự [ ], rải dài các nguyên âm đôi và đơn để khắc họa chân dung sinh động của phố lúc 3h chiều:

đúng 3h chiều phố hết sủa

phaydồimăngxáonướngrựamậnbảvaihonsúngmậttiếtgừngriềngsãớtthúiđịt

[mơlông]quếngỗtỏichanhmắmtômrượugạo

phố vẫn mưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưaưa

chợ vẫn gióóóóóóóóóóóóóóóóóóóóó

quán vẫn gâuâuâuâuâuâuâu

ta vẫn nhớ em khủng

vườnxoàimườiđônămhậusungđỏhònchồngtámvuivinpearl

Khắc họa tường tận như thế chỉ có thể xuất phát từ một trái tim đa cảm. Vì thế, dù ở “camranhcamlâmninhhòadiênkhánhvạn ninhkhánhvĩnh” “hay ở hòn chồng”, ở “trên xe leo đèo rọ tượng”, đều để lại những ấn tượng riêng. Những ấn tượng ấy kết thành từng giọt nhớ, chùm nhớ:

ta kéo kim đồng hồ quay ngược

ta tin vào thời gian của ta

không thượng đế nào cấm ta được

ta nhìn trời mưa hay mưa trời nhìn ta

 giọt giọt

 từng giọt

 từng cơn

 từng trận

 rớt xuống ngày đêm

nhớ

 nhớ

 nhớ

 nhớ nhớ

 nhớ

(liên tưởng phố)

Những cái mới của “họng đêm” làm nên giọng điệu lạ của Nguyễn Lãm Thắng. Giọng điệu đôi khi mượt mà, êm ái, ngọt ngào (nói về tình yêu), đôi khi tưng tửng, lạnh lùng (nói về những mặt trái của xã hội), đôi khi lại giễu cợt, trêu ngươi (nói về chính mình)... Nhưng nổi bật hơn cả là cái giọng trầm lắng, ẩn chứa nhiều nỗi lo toan, đau xót. Chỉ là cuộc đối đáp giữa mẹ và con nhưng anh khiến chúng ta phải ngẫm suy, chột dạ khi đọc xong bài thơ “hỏi mẹ”: “chạy về quê hỏi mẹ/ hỏi vị mặn cau trầu/ hỏi vị chua tóc trắng/ hỏi vị nồng tiếng chuông/ hỏi vị cay ngày tháng/ hỏi vị đắng đêm đen// mẹ trả lời bằng nụ cười/ mẹ trả lời bằng nước mắt/ mẹ trả lời bằng im lặng/ mẹ trả lời bằng cái nhìn xa xăm/ mẹ trả lời bằng mẹ”. Câu chữ không có gì mới, rất đỗi bình dị nhưng sao nghe nhức nhối trong lòng. Nhưng cũng nhờ cái chất giọng rưng rức, đắng đót này Nguyễn Lãm Thắng mới thực sự làm nên cái tôi của mình - một cái tôi sẵn sàng tuyên ngôn sự thật: “những gì phơi phải nhờ ánh sáng/ & suốt đời nô lệ ánh sáng/ nhữnggìcầntìmcầnlụccầnsuycầnkhảocầnchỉtríchcầnphêbìnhcầnnghiêncứu/ thì phải cần bóng tối/ bóng tối cần thiết để ý đồ lưu manh bước vào/ bóng tối cần thiết để công tâm bước vào/ cái mập mờ nửa sáng nửa tối khuyến khích tính tò mò ra phết” (sáng & tối) và sẵn sàng từ bỏ sự lặp lại trong sáng tạo nghệ thuật:

sự lặp lại đớn hèn

câu thơ cõng lời ru trong bể lửa hun từ nước mắt

lặng lẽ đi

bia mộ nào khắc ghi được tiếng thở

bởi hơi thở cuối cùng là di ngôn rạch ròi yêu & ghét

(câu thơ bung gai giữa ngày không nắng)

Tôi thích bức tranh ký họa “họng đêm” của Nguyễn Lãm Thắng. Bức tranh “bung gai giữa ngày không nắng” nhưng đầy nhiệt năng để truyền năng lượng cho “họng đêm”. “họng đêm” bung những cái gai của nó. Có những cái gai làm ta thấy khó chịu, nhói mắt nhưng cũng có những cái gai làm trái tim ta đau đớn, xót xa. Nguyễn Lãm Thắng đã tung mình vào họng gai để nhận lấy những thành quả ngọt ngào của sáng tạo, nhờ thế, “họng đêm” có được những giá trị nhất định về mặt tư tưởng và nghệ thuật. Với “họng đêm”, Nguyễn Lãm Thắng thực sự đã minh chứng được vị trí của mình đối với thơ trẻ đương đại.

Đồng Hới, ngày 17-11-2011

--------------

(*). Nguyễn Lãm Thắng, Họng đêm, NXB Văn học, 2012. 



[1] Họng đêm, NXB Văn học, 2012.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười 20264:23 CH(Xem: 777)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 1120)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
25 Tháng Chín 20265:37 SA(Xem: 1095)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 1248)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 1225)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 1245)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:40 CH(Xem: 1460)
Gã ngược miền ký ức Tìm về tuổi đôi mươi Tim rộn ràng náo nức Gọi đò ơi... ơi... ời..
22 Tháng Chín 202610:27 CH(Xem: 1699)
Sâu dưới biển là căn phòng tối anh đen em đen. Anh không có quyền sinh nghĩa cho em.
22 Tháng Chín 202610:17 CH(Xem: 1107)
Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 1547)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 2845)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 12608)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19076)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18078)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 1248)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
22 Tháng Chín 202610:40 CH(Xem: 1460)
Gã ngược miền ký ức Tìm về tuổi đôi mươi Tim rộn ràng náo nức Gọi đò ơi... ơi... ời..
22 Tháng Chín 202610:27 CH(Xem: 1698)
Sâu dưới biển là căn phòng tối anh đen em đen. Anh không có quyền sinh nghĩa cho em.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 2583)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
(Xem: 777)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
(Xem: 1138)
Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim HLTS, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử - Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh VN suốt một thế kỷ qua!
(Xem: 2440)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 3164)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 1120)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 1245)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 1547)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 4097)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
25 Tháng Chín 2026(Xem: 1095)
Sáng thứ Năm 24 tháng 9 vừa qua, một thẩm phán liên bang đã ra lệnh cho chính quyền Trump khôi phục quyền truy cập tòa Bạch Ốc cho ba tổ chức tin tức: CNN, MS NOW và Politico. Quyết định này đưa ra sau khi các phóng viên bị cấm vào tòa nhà này trong nhiều ngày do Tổng thống Donald Trump không hài lòng với các tường thuật mà ông cho là tiêu cực về các việc làm của chính phủ của ông.
23 Tháng Chín 2026(Xem: 1225)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.
22 Tháng Chín 2026(Xem: 1107)
Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…
17 Tháng Chín 2026(Xem: 1605)
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 5709)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15504)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31607)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38455)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 13393)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14577)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6180)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 9521)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 8668)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 8792)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 9743)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 2201)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 10585)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9754)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi