- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VỊ HÒA THƯỢNG TRÍ THỨC

26 Tháng Tư 201212:00 SA(Xem: 117525)

 

hoathuongthichquangdo-content

VỊ HÒA THƯỢNG TRÍ THỨC

 

Hơn chục năm qua, mấy bài Tự trào của nhà sư làm cho tôi lúc thì hình dung Thích Quảng Độ như một nho sỹ bất đắc chí:

 

Quảng Độ tên mi quê ở đâu?
Thái Bình, Tiên Hải, Xã Thanh Châu

Dốt đặc cán mai mà lên mặt

Khôn nhà dại chợ lại lên râu

Nhìn đời “tiến bộ” giương mắt ếch

Nghe đạo suy đồi vểnh tai trâu

Thôi về xếp áo đi tập hát

Theo làm nghề xiếc với ông bầu

 

Lúc lại có nét Lỗ Trí Thâm:

 

Quảng Độ là mi mi biết chưa
Vóc dáng xem ra kể cũng vừa

Mắt sáng cằm vuông râu rậm rạp

Trán cao đầu nhọn tóc lưa thưa

Chữ nghĩa lem nhem nhưng biếng học

Tính tình nóng nảy vẫn không chừa

Năm nay tuổi tác vừa năm chục

Tù ngục hai lần đã sướng chưa?

 

Một đôi người không hiểu những bi phẫn bị nén thành tuyên thệ ẩn ức còn chê những vần thơ này:

 

Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
Đạo pháp suy vi bởi lẽ trời

Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng

Nhìn người đập tượng: mắt nhắm ngồi

Bắt bớ tăng ni: thây mẹ nó

Giam cầm phật tử: mặc cha đời

Miễn được yên thân là khôn đấy

Can chi ậm ọe để thiệt thòi.

 

Gần đây, khi chọn người để đề xuất ý kiến trao giải Nobel Hòa bình tôi mới có dịp tìm hiểu tương đối kỹ và mới ngộ ra rằng hòa thượng Thích Quảng Độ không chỉ là một cao tăng Phật giáo ưu thời mẫn thế, dũng cảm can trường mà còn là một trí thức thật sự uyên thâm, uyên bác đã từng là giảng sư đại học, một nhà văn, một dịch giả với một kho tác phẩm rất đáng kính nể:

  • Kinh Mục Liên Sám Pháp
  • Kinh Đại Phương tiện Phật Báo Ân
  • Thoát vòng tục lụy, Sài Gòn 1962; (truyện dịch từ Hán văn của Tinh Vân)
  • Dưới mái chùa hoang, Sài Gòn 1962; (truyện)
  • Truyện cổ Phật giáo, Sài Gòn 1964;
  • Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận
  • Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận
  • Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận
  • Từ điển Phật học Hán Việt (2 tập)
  • Phật Quang Đại Từ điển (9 tập)
  • Chiến tranh và bất bạo động
  • Thơ trong tù 06.04.1977-10.12.1978 (tháng 3 năm Đinh Tỵ đến tháng 11 Mậu Ngọ)
  • Thơ lưu đày 25.02.1982-22.03.1992 (tháng 2 năm Nhâm Tuất đến tháng 2 năm Nhâm Thân)

Vậy mà báo chí của Đảng không ngừng bôi xấu kết tội Ngài, thậm chí họ còn loan tin đã bắt gặp TQĐ trong động lắc, TQĐ đã làm hai ni cô có chửa, một cô đã tự tử … Thật là bỉ ổi, đê tiện hết chỗ nói!

Xin dẫn ra một trong những bài viết đó đăng trên báo Sài Gòn Giải phóng số ra ngày 26 tháng 8 năm 2007:

Như đã đưa tin, các lực lượng bảo vệ pháp luật của Nhà nước ta vừa chặn đứng một âm mưu gây rối an ninh, trật tự do các thế lực thù địch và bọn phản động lưu vong ở nước ngoài cấu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị và các phần tử phản động lợi dụng tôn giáo trong nước tiến hành. Các đối tượng này đã tung tiền dụ dỗ, mua chuộc những người khiếu kiện nhằm kích động họ tham gia biểu tình chống chính quyền ở Hà Nội và TPHCM. Vậy đâu là bộ mặt thật của những kẻ chủ mưu xúi giục hoặc cầm đầu kích động người khiếu kiện gây rối?


Một trong những tên chủ mưu kích động người khiếu kiện gây rối an ninh, làm mất trật tự xã hội là Thích Quảng Độ, kẻ cầm đầu cái gọi là Viện hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta.


Ngày 18-7-2007, đích thân Thích Quảng Độ đã đi phát tiền cứu trợ cho những người khiếu kiện từ một số tỉnh phía Nam tụ tập về TPHCM, trực tiếp cầm loa tay kích động họ gây rối an ninh, trật tự, gây bức xúc trong dư luận. Cũng chính Thích Quảng Độ cử Thích Không Tánh mang 300 triệu đồng ra Hà Nội để mua chuộc, kích động người khiếu kiện biểu tình chống chính quyền và sáng 23-8-2007, Thích Không Tánh đã bị các lực lượng bảo vệ bắt quả tang khi đang chuẩn bị phát tiền cho dân khiếu kiện tập trung trước trụ sở tiếp công dân tại số 110 Cầu Giấy.


Vậy Thích Quảng Độ là ai?


Thích Quảng Độ tên thật là Đặng Phúc Tuệ, sinh năm 1927 tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, hiện đăng ký nhân khẩu thường trú tại chùa Thanh Minh Thiền Viện, số 90 phố Trần Huy Liệu, phường 15, quận Phú Nhuận, TPHCM. Xuất gia từ thuở còn trẻ, đáng lý ra nếu cứ tiếp tục quá trình tu tập như một nhà sư phụng đạo, giúp đời thì có lẽ ông ta sẽ thấm nhuần lòng từ bi, bác ái và truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, nhà tu hành cá biệt này lại ngộ ra một tư tưởng đi ngược với lợi ích dân tộc, ngoan cố, chống đối đến cùng chế độ chính trị, thành quả của cuộc cách mạng mà hàng triệu người con của dân tộc Việt Nam đã ngã xuống mới giành được.

Theo các tài liệu và chứng cứ mà cơ quan công an có được, trong thời gian từ tháng 4-1977 đến tháng 12-1978, Thích Quảng Độ đã có thái độ bất mãn, chống đối chính quyền nhân dân, dọa tự thiêu và lợi dụng việc tổ chức Đại giới đàn để thuyết giảng, vu cáo chính quyền đàn áp Phật giáo như: Ra thông tư kêu gọi và kích động tăng, ni sinh sẵn sàng tử vì đạo nếu cần; đồng thời nhân vụ sư cô Như Hiền uống thuốc tự vẫn (vì có hoang thai), Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng khác tung tin sư cô Như Hiền chết để phản đối chính quyền.

 

Vì có hành vi tổ chức các hoạt động chống đối Nhà nước, y đã bị Công an TPHCM bắt giữ, truy tố trước pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy mức độ vi phạm chưa nghiêm trọng, Tòa án Nhân dân TPHCM đã xử khoan hồng, trả y về Thanh Minh Thiền Viện. Nhưng cũng kể từ đó, Thích Quảng Độ công khai chống lại chủ trương thống nhất Phật giáo toàn quốc.


Thích Quảng Độ cùng một số đối tượng chống đối trong cái gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (GHPGVNTN) tiến hành nhiều hoạt động nhằm cản trở việc chuẩn bị cho Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc, tiếp tục duy trì các hoạt động mang danh nghĩa GHPGVNTN.


Vì lẽ đó, UBND TPHCM đã phải ra quyết định cấm y cư trú trên địa bàn; UBND tỉnh Thái Bình cũng đồng thời ra quyết định buộc Quảng Độ cư trú tại chùa Đông Xoài, tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, từ năm 1992 đến nay, Thích Quảng Độ tự ý vào cư trú tại TPHCM và liên tục tiến hành các hoạt động chống đối, viết và phát tán nhiều tài liệu xuyên tạc tình hình trong nước Liên tiếp từ sau năm 1993, Quảng Độ nhân danh cái gọi là Viện trưởng Viện Hóa đạo - GHPGVNTN ký, phát tán rộng rãi trong và ngoài nước hàng chục loại tài liệu có nội dung đả kích, chống đối chế độ, yêu sách với Nhà nước đòi phục hồi GHPGVNTN. Trực tiếp chỉ đạo Không Tánh, Đồng Ngọc, Nhật Thường, lợi dụng một số đoàn khách nước ngoài đến Việt Nam tổ chức tiếp cận đưa các văn thư, kiến nghị, nhờ những người này chuyển cho Liên hiệp quốc và các cá nhân, tổ chức nhân quyền quốc tế can thiệp, gây sức ép với Nhà nước ta cho phép GHPGVNTN tái phục hoạt như trước năm 1975. 

Tháng 10-1994, Quảng Độ, Đức Nhuận chỉ đạo Thích Không Tánh, Nhật Ban, Hồng Ngọc, Nguyên Lý thành lập cái gọi là Tăng đoàn bảo vệ chánh pháp và Ban công tác từ thiện xã hội GHPGVNTN để tiến hành các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, kích động tăng ni, phật tử chống lại đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.


Cũng trong năm 1994, lợi dụng tình hình lũ lụt ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, Quảng Độ đã chỉ đạo một số đối tượng trong nhóm Tăng đoàn bảo vệ chánh pháp và Ban công tác từ thiện xã hội GHPGVNTN tổ chức cho khoảng 150 tăng ni, phật tử trương cờ, băng rôn, khẩu hiệu mang danh GHPGVNTN và lợi dụng việc cứu trợ để phô trương lực lượng và tuyên truyền nhằm công khai hóa các hoạt động của GHPGVNTN.


Do Thích Quảng Độ liên tiếp có những hành vi chống đối, ngang nhiên lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để vi phạm pháp luật, nên tháng 1-1995, Công an TPHCM đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Quảng Độ. Tháng 8-1995, Tòa án Nhân dân TPHCM đã xét xử, tuyên phạt Quảng Độ cùng nhóm của y (Không Tánh, Đồng Ngọc, Nhật Thường, Trí Lực) 5 năm tù giam và thời hạn quản chế 5 năm về tội phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước. Tuy nhiên, thực hiện chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải, có thành tích cải tạo tốt, nhân dịp Quốc khánh 2-9-1998, Chủ tịch nước đã quyết định đặc xá, tha tù trước thời hạn cho Quảng Độ, trả về nơi cư trú cũ của y tại Thanh Minh Thiền Viện.


Nhưng ngựa quen đường cũ, ngay sau khi về TPHCM, Quảng Độ lại cùng Huyền Quang, Đức Nhuận được sự hậu thuẫn của số chống đối cực đoan trong Phật giáo người Việt lưu vong hải ngoại như Võ Văn Ái (ở Pháp), Hộ Giác và Viên Lý (ở Mỹ) lộ rõ bản chất chính trị phản động, công khai thách thức chống chính quyền và pháp luật, kêu gọi phục hồi GHPGVNTN. 

Theo những tài liệu mà cơ quan công an thu giữ được, Quảng Độ cầm đầu, chỉ đạo số tay chân liên tục tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước; trực tiếp liên lạc, trao đổi, cung cấp tài liệu thông tin ra ngoài vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo; tổ chức, sắp xếp nhân sự cho cái gọi là Đại hội GHPGVNTN nhiệm kỳ 9 tại Tu viện Nguyên Thiều (tỉnh Bình Định) và giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa đạo.


Liên quan đến lịch sử hình thành và sự kiện kết thúc quá trình tồn tại của GHPGVNTN, cũng như những hành vi ngang ngược của vị tu sĩ đặc biệt này, ngày 9-11-2005, trả lời phỏng vấn TTXVN về việc hòa thượng Thích Quảng Độ nhân danh Viện trưởng Viện Hóa đạo GHPGVNTN ký quyết định bổ nhiệm Ban đại diện Phật giáo một số tỉnh, thành phố phía Nam, hòa thượng Thích Thanh Tứ, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định việc làm này của ông Thích Quảng Độ là mạo xưng, không có giá trị pháp lý, trái với Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và trái với pháp luật của Nhà nước Việt Nam.


Hòa thượng Thích Thanh Tứ cho biết: GHPGVNTN ra đời tháng 1-1964 tại Sài Gòn (nay là TPHCM) với sự hợp nhất của 11 hệ phái, tổ chức Phật giáo ở miền Nam lúc bấy giờ. Tháng 11-1981, các bậc tôn túc đứng đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất đã cùng các vị đứng đầu Phật giáo của 8 tổ chức Phật giáo khác tự nguyện gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 

Trong lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ghi rõ: Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và ngoài nước. Với ý nghĩa đó, về mặt lịch sử cũng như pháp lý, GHPGVNTN không còn tồn tại theo nguyên nghĩa là một tôn giáo độc lập. Cũng trong phần trả lời phỏng vấn này, hòa thượng Thích Thanh Tứ khẳng định: Giáo hội Phật giáo Việt Nam tôn trọng quá khứ lịch sử của GHPGVNTN song không chấp nhận việc một số vị mạo xưng GHPGVNTN dựng lại tổ chức đã gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ năm 1981, thực chất đấy là việc làm hòng chia rẽ gây mất đoàn kết trong nội bộ Phật giáo và tổn hại tới lợi ích dân tộc ... ”


Bài báo đăng trên báo của Đảng mà rất vô văn hóa. Tại sao dám hỗn xược, gọi xếch mé trống không: Quảng Độ, Huyền Quang …?

 

Chưa kể đến sắc hàm trong giáo hội chỉ xét tuổi tác, các vị đã xứng tuổi cha, tuổi chú không chỉ của người viết mà cả tổng biên tập, cả chủ tịch Hội Nhà báo, cả trưởng Ban Tuyên giáo TW Đảng … Nó lú thì còn chú nó phải biết khôn khi biên tập chứ. Sao các người lăng loàn thế! Học tập mãi đạo đức Hồ Chí Minh để làm gì? Tốn không biết bao nhiêu tiền của của nhân dân!

 

Bài báo muốn làm nhiệm vụ quảng bá một bản cáo trạng nhằm biện giải cho hành động bạo ngược đối với các vị Hòa thượng. Nhưng, hãy xét xem ở đây những gì được gán ghép là tội?

 

 1- Tại sao “đích thân Thích Quảng Độ đã đi phát tiền cứu trợ cho những người khiếu kiện từ một số tỉnh phía Nam tụ tập về TPHCM” lại bị quy là phạm pháp nếu không được xem là nghĩa cử cao đẹp đáng được biểu dương?.

 

Ai cũng biết, do chủ trương chính sách sai lầm của Đảng đã mở đường cho kẻ chức quyền tạo lập hệ thống mafia tước đoạt ruộng đất làm cho hàng triệu người bị thiệt thòi, hàng vạn người khiếu kiện dài ngày hết cấp này đến cấp khác.

 

Họ không bị oan thì thuê bạc triệu họ cũng không đời nào bỏ cửa bỏ nhà đi hàng trăm, hàng ngàn kilomét đến nằm vạ vật đầu đường cuối phố thật thảm thương. Họ vốn không phải kẻ xấu, trong đó rất nhiều người đã xả thân cho Cách mạng, nhiều thương bệnh binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng ...

 

Hòa thượng chỉ đến được một địa điểm: trụ sở Vụ Công tác phía Nam của Văn phòng Quốc hội tại số 194 Hoàng Văn Thụ, thành phố Hồ Chí Minh để phát quà “kích động”, vậy tại hàng trăm địa điểm khác rải rác suốt trong nam ngoài bắc thì ai kích động? Ai kích động ông Đoàn Văn Vươn?

 

Thật là “ngậm máu phun người”, vu oan giáng họa một cách trâng tráo, độc địa!

 

 2- Do đâu nẩy sinh vấn đề “Quảng Độ nhân danh cái gọi là Viện trưởng Viện Hóa đạo - GHPGVNTN ký, phát tán rộng rãi trong và ngoài nước hàng chục loại tài liệu có nội dung đả kích, chống đối chế độ, yêu sách với Nhà nước đòi phục hồi GHPGVNTN”?.

 

Trước hết hãy xem có chuyện: “nhân danh cái gọi là” không?

 

Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập từ năm 1951 gồm các thành phần Phật giáo Đại thừa khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Tuy nhiên, do quy mô phát triển ngày một rộng, ngày 31 tháng 12 năm 1963, một cuộc họp lớn đã được tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn nhằm đoàn kết tất cả các tổ chức Phật giáo dưới một hiến chương chung thành một giáo hội, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Thành phần gồm:

  1. Ủy ban Liên phái Phật Giáo: Thượng tọa Thích Tâm Châu
  1. Giáo hội Tăng già Miền Bắc: Thượng tọa Thích Tâm Giác
  2. Thiền tịnh Đạo tràng: Thượng tọa Thích Minh Trực
  3. Giáo hội Nguyện thủy Việt Nam: Thượng tọa Thích Pháp Tri
  4. Giáo hội Theravada: Lục cả Lâm Em
  5. Giáo hội Tăng già Miền Bắc tại miền Nam: Thượng tọa Thích Thanh Thái
  6. Giáo hội Tăng già Miền Trung: Thượng tọa Thích Huyền Quang
  7. Giáo hội Tăng già Miền Nam: Thượng tọa Thích Thiện Hoa
  8. Hội Phật học Miền Nam: cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền

10. Hội Phật giáo Nguyên thủy: cư sĩ Nguyễn Văn Hiếu

11. Hội Phật giáo Miền Trung: Thượng tọa Thích Trí Quang

12. Hội Việt Nam Phật giáo: cư sĩ Vũ Bảo Vinh

13. Đại diện Phật tử Theravada: cư sĩ Sơn Thái Nguyên

 

Ở Trung ương, Giáo hội được chia thành hai bộ phận: Viện Tăng thống trông coi hàng giáo phẩm (có thể coi như ban nội vụ); Viện Hóa đạo đảm nhiệm liên hệ với Phật tử (tức ban ngoại vụ).

Ở cấp tỉnh, Giáo hội có Ban Đại diện (đôi khi xuống đến cấp quận tùy theo nhu cầu).

Ở hải ngoại, Giáo hội có 11 chi bộ trực thuộc Viện Hóa Đạo gồm các nước AnhẤn ĐộCanada, Campuchia, Đức,LàoMỹNhậtPháp,Thái LanThụy Sĩ.

Sinh hoạt dân sự của Giáo hội là một bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa Phật giáo Việt Nam trong tinh thần nhập thế. Giáo hội đã thành lập được nhiều cơ quan, nhiều tổ chức dân sự như: Nha Tuyên úy Phật giáo. Nhà xuất bản Lá Bối, tuần báo Hải triều âm , tuần báo Chánh Đạo, tuần báo Thiện mỹViện Đại học Vạn Hạnh, Viện Cao đẳng Phật học, trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, cùng những trường trung tiểu học, cô nhi viện, ký nhi viện, bệnh xá, chẩn y viện ... Về mặt chính trị Giáo hội lập ra "Lực lượng Phật giáo Việt Nam", một cơ quan thuộc Viện Hóa đạo để tranh đấu và đề đạt nguyện vọng của Giáo hội với chính quyền.

Ngày 8 tháng 5 năm 1963, bất chấp lệnh cấm, Phật tử ở Huế vẫn công khai trương cờ Phật giáo và bị đàn áp. Vụ việc này đã châm lên ngòi thuốc nổ cho một chuỗi xung đột liên tục giữa chính quyền và các hội đoàn Phật giáo. Sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn đã gây chấn động khắp trong và ngoài nước khiến chính phủ Ngô Đình Diệm bị mất tín nhiệm. Năm tháng sau tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết.

Năm 1965 Hòa thượng Thích Quảng Độ được bầu làm Tổng thư ký Giáo hội Việt Nam Thống nhất. Tháng 5 năm 1999, tại Đại hội lần thứ 8 của Giáo hội, Hòa thượng được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo. Sau khi hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch năm 2008, theo chúc thư để lại, hòa thượng Thích Quảng Độ đã được chọn làm tăng thống thứ 5 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

(Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ khi thành lập đến nay đã có năm vị tăng thống

 - Đệ nhất Tăng thống (1964-1973) Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973).

 - Đệ nhị Tăng thống (1973-1979) Hòa thượng Thích Giác Nhiên (1878-1979).

 - Đệ tam Tăng thống (1979-1991) Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1991).

 - Đệ tứ Tăng thống (2003-2008) Hòa thượng Thích Huyền Quang (1919-2008),

 - Đệ ngũ Tăng thống (2011- ) Hòa thượng Thích Quảng Độ ( 1927 - ).

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một thực thể có quy mô thực sự lớn, đã từng có đóng góp xứng đáng cho đất nước, cho dân tộc. Hòa thượng Thích Quảng Độ đã được bầu chọn làm một trong các lãnh tụ chính danh của Giáo hội. Việc ngài đấu tranh đòi tổ chức được duy trì để tiếp tục phục cho cả đạo lẫn đời là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả mà Giáo hội trao cho Ngài, sao Đảng, Chính phủ nỡ đàn áp dã man vô lý như vậy!

Hòa thượng Thích Thanh Tứ đã phỉ báng rất không đúng hòa thượng Thích Quảng Độ và Gíáo hội Việt Nam Thống nhất. Giáo hội Phật giáo Việt Nam của quý ông này thì sánh sao được với quy mô, tầm cỡ và sức cống hiến cho Đạo, cho Đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

*

Trên kia đã dẫn mấy bài Tự trào từng gieo vào tâm tư tôi ấn tượng không đẹp lắm về sa môn Thích Quảng Độ; thực tế, đây là một người có nhân cách cao vời.

Tuy nương cửa Phật nhưng Ngài vẫn canh cánh bên lòng nỗi buồn nhân thế:

Non nước nghìn trùng mờ mịt
Cùng ai thao thức những đêm thâu?”
Còn ta nay đã bạc mái đầu
Ngày tháng trơ trơ một khối sầu
Sợ hãi vui mừng như gió thoảng
Nhờ mây nhắn gửi bấy nhiêu câu. 

… vẫn nức nở cùng nỗi đau của “muôn vạn người dân vô tội” vì đi khiếu kiện kêu oan do mất đất, mất nhà, vì xuống đường phản đối Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa, Trường Sa … mà bị đàn áp:

Tôi đứng nhìn những giọt mưa rơi
Từ mái nhà đổ xuống

Lênh láng chan hòa

Trông như những dòng nước mắt của muôn vạn người dân vô tội

Đã chảy ra

Khi trải qua một cuộc đổi đời

Nỗi đau vì nhân dân còn bị “áp bức đọa đày đời khổ nhục”, và vì “Đạo pháp bao trùm màn ảm đạm” khiến Hòa thượng không còn biết có mùa xuân:

Rộn ràng tiếng én báo xuân sang
Lòng tôi nguội lạnh nắm tro tàn

Đạo pháp bao trùm màn ảm đạm

Giang sơn phủ kín lớp màu tang

Áp bức đoạ đày đời khổ nhục

Đói nghèo rách nát kiếp lầm than

Thẫn thờ đứng tựa khung cửa ngục

Nhìn bóng xuân sang mắt lệ tràn.

Trước biển khổ của dân tộc, những giọt nước mắt từ bi của vị sa môn này đã nhỏ xuống đời và hòa tan trong lòng biển nước mắt dân tộc; trong đó, một giọt dành cho hình ảnh dòng máu đỏ tươi phun thẳng tắp lên trời của cha Ngài bị đấu tố và bắn chết dã man trước đình làng hồi CCRĐ mà Ngài không thể nguôi quên.

 Hoàn toàn không phải Ngài khóc vì tấm thân tù ngục. Ngay trong tù Ngài vẫn khẳng định “Tâm ta vằng vặc trăng thu mặt hồ” kia mà:

Thân ta trong chốn lao tù
Tâm ta vằng vặc trăng thu mặt hồ

Bao trùm khắp cõi hư vô

Lao tù đâu thể nhiễm ô tâm này

Mặc cho thế sự vần xoay

Tâm ta vẫn chẳng chuyển lay được nào

 

Phải chăng Ngài đang thực hiện lời dạy cuối cùng của Đức Phật là: “Hãy tự mình thắp đuốc lên, hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa Chính Pháp, chứ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”. Bởi vì, nền tảng cơ bản về mặt tôn giáo của Đức Phật là sự phản tỉnh tự tâm. Dù đối với lòng mong muốn một cuộc sống vô hạn hay yêu cầu giải thoát, tất cả đều phát sinh từ nội tâm của ta.

 

Chẳng những thế, trong tù Ngài vẫn bạn được với Trăng, thân thiết đến nỗi ngồi lo Trăng ốm kia mà:

Buồn vui ta vốn có nhau
Giờ đây trăng ốm ta đau buồn nhiều

Cùng mang cái kiếp cô liêu

Giữa khung trời lạnh bao nhiêu đêm rồi

Đêm nay tâm sự bồi hồi

Thâu canh không ngủ ta ngồi với trăng

Không chỉ có Trăng, Ngài còn có mây dương lên cánh buồm đưa tới bến mơ:

Ráng chiều giăng mắc ven trời
Buồm mây một cánh nhẹ trôi lững lờ
Đi tìm nơi đậu bến mơ
Không gian biển rộng cõi bờ mù khơi

Và gió…

Nhưng, khi “Cửa sắt xà lim ngăn gió lại”  thì “Cánh gíó đưa qua lá xạc xào” vẫn làm cho Ngài nghe thấy “Đêm khuya ai gọi giữa tầng cao” kia mà.

Đêm khuya ai gọi giữa tầng cao?
Cánh gíó đưa qua lá xạc xào
Cửa sắt xà lim ngăn gió lại
Sợ làm ta vỡ cuộc chiêm bao

Cho nên giam hãm tù đầy với Ngài không nghĩa lý gì:

Những lúc trầm tư nếm vị thiền,
Lâng lâng không bợn chút ưu phiền,
Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên
.

Thậm chí đến Thần Chết cũng được Ngài đối xử thân thiết như là bạn. (Có lẽ Ngài tin chắc chắn rằng đấy chính là người sẽ đưa Ngài đến cõi Niết Bàn)

Xà lim trông hệt cái nhà mồ
Mỗi lần mở cửa tôi ra vô

Thấy như chôn rồi mà vẫn sống

Tử thần tôi sợ con cóc khô

Tử thần nghe vậy bèn sửng cồ

Nửa đêm đập cửa, tôi mời: dô

Sẵn có thuốc lào phèo mấy khói

Tử thần khoái trá cười hô hô!

Phật giáo không thừa nhận có một đấng “Tạo vật Chủ”, nhất là Nguyên thủy Phật giáo, không thừa nhận một linh hồn cố định của cá nhân, mà lấy sự kết hợp giữa Thần và Người làm bản chất. Thuyết nghiệp báo và luân hồi cho rằng, các loài sinh vật vì cứ luẩn quản trong vòng sinh tử nên đều có thể là họ hàng, thân thuộc của nhau, trong nhiều đời kiếp. Tư tưởng thần thoại lại cho rằng trời, thần, tiên, ma quỷ cho đến các loài ở địa ngục đều là sinh vật cả. Cho nên hữu tình quan của Đạo đã giúp Ngài mở rộng được lòng mình với chúng sinh, trời đất.

 

Gần 200 bài thơ trong hai tập “Thơ tù” và “Thơ lưu đầy” đậm vị Thiền mà đầy nghĩa khí, mà rất ung dung tự tại, không bi lụy, không óan trách. Có chăng, Ngài chỉ muốn cảnh báo bọn bá vương công hầu:

 

Tranh vương tranh bá với công hầu
Nước chảy tràn sông máu đượm màu

Những tưởng cuộc đời bền vững mãi

Nào ngờ bãi biển hóa nương dâu

 

Vì chân tu, Hòa thượng thấm nhiễm luật điển của Bà-la-môn đã quy định: nhiệm vụ của nhà vua là làm công bộc cho quốc dân, để mưu đồ sự thịnh vượng và công bằng trong nước, nhân dân phải lựa chọn lấy vua của mình.

 

Rải rác trong bộ kinh A Hàm có những bộ kinh nổi tiếng như Vương Pháp Chính Luận kinh (Phật nói cho vua Ưu Điền), Giản Vương kinh, Vương Pháp kinh (Phật nói cho Thắng Quang Thiên Tử), Đại Tát Gia Ni Kiền Tử Sở Thuyết kinh (mượn lời Đại Tát Gia Ca để nói những điểm chủ yếu về chính trị) … Chính trị quan Phật Giáo, chứa chất trong các bộ kinh này chủ yếu là những lời giải đáp của Phật về những câu hỏi của các nhà chính trị, đặc biệt là các quốc vương,

 

Sa môn Thích Quảng Độ có làm chính trị cũng chính là do Phật phán bảo.

 
Vì đấu tranh cho tự do tôn giáo và cho dân chủ, nhân quyền, Ngài đã bị nhà chức trách tống tù từ tháng 6 năm 1977. Đến năm 1982, Ngài cùng thân mẫu bị trục xuất về nguyên quán xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để quản thúc. Mười năm sau Ngài trở vào Nam hoạt động công khai đòi duy trì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tháng 1 năm 1995 Ngài lại bị Công an thành phố HCM bắt giam, kết án 5 năm tù và 5 năm quản chế.

 

Năm 2002 Ngài được nhận giải thưởng vê nhân quyền của tổ chức Tiệp Khắc People in Need. Năm 2006 chính phủ Na Uy trao giải nhân quyền.Tháng 1 năm 2008 tạp chí Different View đặt tại Châu Âu chọn Ngài là một trong 15 người vô địch về nhân quyền cùng với các tên tuổi như Nelson Mandela , Onsan Suu Kyi , Lech Walesa ... 

 

Từ 1999 đến nay hòa thượng Thích Quảng Độ liên tục được đề cử xét tặng giải Nobel Hòa Bình.

 

Hy vọng vinh quang ấy sẽ đến vời Ngài và cho nhân dân Việt Nam ngày gần đây.

 


Nguyễn Thanh Giang

(Trích trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 572)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 462)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 557)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1406)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1289)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10396)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17209)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16251)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16734)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 550)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1438)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2176)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 460)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1231)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 571)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1406)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1289)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3019)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2876)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3332)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2095)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13912)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30042)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36096)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11543)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13036)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2803)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3979)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3961)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4475)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5008)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8275)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7656)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10605)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.