- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,422,113

Hợp Lưu 116

28 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 80273)

lg_thutoasoan-thumbnail

 

 

Hợp Lưu 116 với tranh bìa Biến khúc tháng 11 của họa sĩ Đinh Cường được gởi đến quí độc giả và văn hữu như những bước chân đi qua mùa Đông để vào mùa Xuân nắng ấm, bằng những đổi thay, những hy vọng, để hướng về tương lai với những đều tốt đẹp. Tựa chuyện chuyển thể từ phim câm đến phim có tiếng nói, từ trang báo viết tay đến liên mạng toàn cầu. Chấp nhận đổi thay để sinh tồn. Hợp Lưu cũng thay đổi trong chiều hướng đó. Bắt đầu từ số nầy Hợp Lưu sẽ phát hành mỗi 3 tháng 1 số in trên giấy và cập nhật đều đặn ở trang nhà của Tạp Chí Hợp Lưu để độc giả dễ dàng truy cập, duy chỉ có một điều không thay đổi, đó là giá trị của những bài vở trong từng số báo của Hợp Lưu.

 

Hợp Lưu 116 được bắt đầu với bài biên khảo của sử gia Vũ Ngự Chiêu về Nhà Hồng Bàng (2879-258 TTL) một bài viết mà tác giả đã bỏ công nghiên cứu nhiều năm trong cuộc đời sử học của ông với lời kết: Ngoại trừ trường hợp có những khám phá đặc biệt nào đó trong ngành khảo cổ học, các nhà cổ sử của thế kỷ XXI chỉ có thể nhìn về núi Hùng với sự bất lực ở nhận thức rằng có lẽ nhà Hồng Bàng mãi mãi là một thứ “dĩ nghi, truyền nghi.” Trong phần nghiên cứu về thi ca, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích với bài viết mới về đặc điểm của thơ Hồ Xuân Hương hay là vấn -đề liên-bản với hy vọng sẽ mở rộng cuộc đối thoại về vấn đề nầy. Và nhà phê bình Thụy Khuê với bài nhận định mới về nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940).

 

Hợp Lưu 116 có hai bài phỏng vấn đặc biệt: Nguyễn Thị Hợp, nỗi sợ hãi của một họa sỹ là sự lập lại … do Lưu Diệu Vân thực hiện. Vài phút với nhà văn Song Thao… do Lương Thư Trung thực hiện. Bên cạnh đó là tùy bút của Nam Dao về mùa xuân nhớ hai kẻ nòi tình, Đinh Cường viết về nhà thơ Kim Tuấn và những ngày tháng cũ. Sáng tác văn xuôi có Nguyễn Xuân Tường Vy, Âu Thị Phục An, Bùi Ngọc Khôi, Trần Trung Sáng và Hoàng Chính… mỗi người một vẻ, mỗi tác phẩm là một san sẻ của người viết gởi đến bạn đọc một cách trang trọng. Riêng Lữ Thị Mai đã tiến một bước khá xa với truyện ngắn Xương rồng cô đơn. Phần thi ca được nở rộ như hoa xuân với những thi phẩm của các thi sĩ đương đại như Lý Thừa Nghiệp, Thái Tú Hạp, Vũ Thùy Hạnh, Du Tử Lê, Inrasara, Lữ Quỳnh, Trần Thiên Thị, Trần Trọng Dương, Trịnh Hải Yến, Phan Việt Thủy, Trần Mộng Tú, Nguyễn Đông Giang, Nguyễn Thị Khánh Minh, Phan Ni Tấn… Mục thường xuyên Mạn đàm văn học với Trần Thiện Đạo, Phiếm luận với Song Thao, Tin sách với Vũ Thúy Vi, Mục đọc sách là Lê Vương Ngọc viết về tùy bút Du Tử Lê: Trên Ngọn Tình Sầu vừa mới được xuất bản.

 

Hợp Lưu 116 hân hạnh giới thiệu những người viết mới đến với quí độc giả và văn hữu kỳ nầy là Phạm Phương với Hoa cúc quỳ không bao giờ chết, Nguyễn Phương Liên, với Chú Biên, và những bài thơ của Lưu Thị Bạch Liễu.

 

Bắt đầu từ tháng 4-2012, Số điện thoại liên lạc của Tạp Chí Hợp Lưu là: 714- 381-8780, địa chỉ tòa soạn và email không thay đổi. Kính chúc quí văn hữu và quí độc giả một mùa xuân an bình cùng nhiều sức khỏe. Hẹn gặp lại quí vị trong Hợp Lưu số mùa Hè 2012 (tháng 4-5 & 6) với sự góp mặt của nhiều văn thi hữu trong và ngoài nước.

 

Tạp Chí Hợp Lưu

MỤC LỤC HỢP LƯU 116

 

3/Thư tòa soạn 5/VŨ NGỰ CHIÊU: Nhà Hồng Bàng (2879-258 TTL) 55/ LÝ THỪA NGHIỆP: Tháng Chạp Viết Ở Melbourne 56/ THỤY KHUÊ: Hàn Mặc Tử (1912-1940) 87/ THÁI TÚ HẠP: bầy hạc rong chơi 90/ NGUYỄN NGỌC BÍCH: Về một đặc-điểm ... 106/ VŨ THÙY HẠNH: Mẹ Yêu 108/ NGUYỄN THỊ HỢP: nỗi sợ hãi của một họa sỹ … / LƯU DIỆU VÂN thực hiện phỏng vấn 116/ DU TỬ LÊ: thực phẩm (chờ chế biến). 118/ INRASARA : Thời gian của một lời xin lỗi  120/ LỮ QUỲNH: Những trái thông ... 121/ LỮ THỊ MAI: Xương rồng cô đơn 128/ TRẦN THIÊN THỊ: ngày sinh của hoa 130/ NGUYỄN XUÂN TƯỜNG VY: Thung Lũng Mù 138/ TRẦN TRỌNG DƯƠNG: Trong quán bia / Thèm yêu... 141/ÂU THỊ PHỤC AN : Giường xuân 146/TRỊNH HẢI YẾN: Mùa đông nào cho em…148/ ĐINH CƯỜNG: Kim Tuấn, chiều đông nào nhung nhớ 157/ PHAN VIỆT THỦY : Cành mai cho người yêu dấu 158/ TRẦN MỘNG TÚ: Luân Vũ Xuân 159/ NGUYỄN ĐÔNG GIANG: Xuân nầy, buồn nỗi tình xa 160/ NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH: Mùa Xuân Mưa 162/ BÙI NGỌC KHÔI: Thất hẹn 177/ NAM DAO: Nhân Mùa Xuân, nhớ hai kẻ nòi tình 186/ PHAN NI TẤN: Dứt Tình Tại Bậu 188/ TRẦN TRUNG SÁNG : Ga nhỏ 194/LƯU THỊ BẠCH LIỄU:Khúc ngày 1...198/ PHẠM PHƯƠNG: Hoa cúc quỳ không bao giờ chết 209/ HOÀNG CHÍNH: Nỗi khát khao trong lòng tên thảo khấu 223/ NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN: Chú Biên 228/ LÊ VƯƠNG NGỌC: Tùy bút Du Tử Lê 2011... 234/ Vài phút với nhà văn SONG THAO ... Lương Thư Trung thực hiện 248/ Phiếm luận: SONG THAO phụ trách 257/ Mạn đàm văn học: TRẦN THIỆN ĐẠO 270/ Tin Sách: VŨ THUÝ VI phụ trách.

 

Tranh bìa:

Biến khúc tháng 11 - tranh Đinh Cường

Ảnh trang 1: / Tranh Nguyễn Thị Hợp


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1054)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4151)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
22 Tháng Hai 20204:40 CH(Xem: 530)
20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng. Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 580)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 527)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 519)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 504)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 620)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 699)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 564)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /