- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Ngày Nước Thế Giới 2012 và An Ninh Lương Thực Lưu Vực Sông Mekong

28 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 118867)
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & VN 2020 Mekong Group
BS NGÔ THẾ VINH

Không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải di rời. Vấn đề lớn hơn thế rất nhiều. Đa số cư dân phụ thuộc vào nguồn cá từ các đoàn di ngư, do đó an ninh lương thực trong vùng là điều tối quan trọng cần lưu tâm khi khai thủy điện sông Mekong.” Eric Baran, WorldFish Centre.

 “Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại chúng ta. Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ...Nước chính là chủ đề quan trọng đó.” Hillary Rodham Clinton, World Water Day 2010.

Ngày Nước Thế Giới và những chủ đề

Cách đây 19 năm kể từ 1993, Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 3 mỗi năm là Ngày Nước Thế Giới/World Water Day, do sáng kiến từ Hội nghị Môi Sinh và Phát Triển/United Nations Conference on Environment and Development/UNCED tại Rio de Janeiro, Brazil [1992].

Có thể nói, nước là biểu hiện của sự sống, vì thế mỗi khi tìm ra tín hiệu có nước trên một vì tinh tú xa xôi thì các nhà khoa học thiên văn đã lạc quan cho rằng có thể có sự sống và sinh vật ở trên đó. Trái đất này sẽ là một hành tinh chết nếu không có nước. Nhưng trước mắt, thì thiếu nước đang là một vấn nạn ngày càng trầm trọng của thế giới chúng ta đang sống hiện nay.

Ngày Nước Thế Giới, như cơ hội để mọi người quan tâm tới tầm quan trọng của nguồn nước ngọt/freshwater và cùng nhau vận động hỗ trợ cho những phương cách quản lý bền vững các nguồn nước ấy.

Mỗi năm Liên Hiệp Quốc đều chọn ra một “chủ đề” cho Ngày Nước Thế Giới để tập trung vận động qua những cuộc hội thảo, qua các phương tiện truyền thông và giáo dục xoay quanh mỗi chủ đề này.

Điểm qua các chủ đề ấy theo thứ tự thời gian: 

1994 Nước Nguồn Tài nguyên chúng ta cùng bảo vệ;
1995 Nước và Phụ nữ;
1996 Nước cho Các Đô thị thiếu khát;
1997 Nước Thế giới: Có đủ không?
1998 Nước Ngầm: Tài nguyên không thấy;
1999 Mọi Người sống Dưới nguồn;
2000 Nước cho Thế kỷ 21;
2001 Nước cho Sức khỏe;
2002 Nước cho Phát triển;
2003 Nước cho Tương lai;
2004 Nước và những Thảm họa;
2005 Nước cho Cuộc Sống;
2006 Nước và Văn Hóa;
2007 Nước Thiếu hụt trên Thế giới;
2008 Nước và Vệ sinh;
2009 Nước Xuyên các Quốc gia;
2010 Nước Sạch và Sức khỏe Thế giới;
2011 Nước cho các Đô thị… 

Ngày Nước Thế Giới Năm Nay 2012

Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực/Water & Food Security”, do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc điều hợp [Food and Agriculture Organization of the UN]. Với nhận định: hiện có 7 tỉ người phải nuôi ăn trên hành tinh này; dự trù thêm 2 tỉ người nữa vào năm 2050. Mỗi chúng ta uống từ 2 tới 4 lít nước mỗi ngày; phần lớn lượng nước “uống” ấy nằm sẵn trong thực phẩm mà chúng ta ăn: để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới 15,000 lít nước, trong khi 1 kg ngũ cốc cần 1,500 lít nước, 1 kg rau trái chỉ cần 1,000 lít nước nghĩa là 15 lần ít hơn. Hiện trạng trên thế giới đã có “một tỉ người đói kinh niên/chronic hunger” và nguồn tài nguyên nước thì co cụm lại khắp nơi. Để đương đầu với tình trạng nổ bùng dân số, bảo đảm an ninh lương thực cho mọi người thì cần tới những hành động cụ thể như:

(1) Tiêu thụ sản phẩm cần ít nước;
(2) Giảm phí phạm lương thực: 30% lượng thực phẩm không bao giờ ăn tới, có nghĩa là mất một lượng nước lớn để sản xuất;
(3) Gia tăng lượng lương thực nhiều hơn, có phẩm chất hơn và tiêu thụ nước ít hơn;
(4) Theo một chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, với ngũ cốc rau trái thay vì ăn nhiều thịt.

Tất cả những bước ấy, từ quá trình sản xuất tới tiêu thụ, làm thế nào để tiết kiệm nguồn nước và bảo đảm lương thực cho mọi người. “Nước và An ninh Lương thực” đó trọng điểm trong cuộc vận động nhân ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay.

 

 

 h_1__wwd2012_logo_en-content

Logo World Water Day 2012, mang rất nhiều ý nghĩa với “Nhánh Lúa và Cá” cũng là hai biểu tượng cho nguồn lương thực của con Sông Mekong. Đã có có một nền “Văn minh Lúa Gạo và Cá” trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong/GMS và nền văn minh ấy đang lâm nguy.

José Graziano da Silva, tân giám đốc Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc [với nhiệm kỳ ba năm rưỡi 2012-2015] trong cuộc họp báo nhậm chức ở Rome ngày 3 tháng 01/2012 đã đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng: hoàn toàn xóa nạn đói và suy dinh dưỡng trên toàn cầu. Ông phát biểu “Chấm dứt nạn đói đòi hỏi quyết tâm của mọi người: không phải chỉ có Tổ chức Lương Nông, hay bất cứ cơ quan, chánh phủ riêng lẻ nào mà có thể thắng được cuộc chiến này, mà phải cần tới những phương thức hành động thật sự “trong sáng và dân chủ/transparent and democratic way” cùng với các quốc gia thành viên, các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, khu vực tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm đầu tư khác.” [1]

Người ta có thể thấy ngay là “phương thức hành động trong sáng và dân chủ” chính là điều rất thiếu vắng trong các quốc gia Mekong.

Cách đây hai năm, nhân Ngày Nước Thế Giới 2010 với chủ đề “Nước Sạch và Sức khỏe Thế giới”, Ngoại trưởng Hillary Roddham Clinton đã phát biểu: “Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại chúng ta.”Bà Clinton nhận định tiếp, “Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ, thăng tiến quyền lợi an ninh quốc gia chúng ta, bảo vệ môi trường, và cùng chứng tỏ với hàng tỉ người trên thế giới là nước Mỹ quan tâm tới sự an sinh của họ. Nước chính là nan đề đó.” [2]

Hệ sinh thái sông Mekong

Mekong được đánh giá là một trong những hệ thống sông rạch phức tạp nhất thế giới. Với chiều dài 4,900 km, là con sông dài thứ 11 của toàn cầu cũng là con sông dài nhất Đông Nam Á chảy qua 6 quốc gia, gần gấp hai chiều dài sông Colorado. Tài nguyên lưu vực con sông nuôi dưỡng 70 triệu cư dân, chỉ riêng nguồn cá đã đem lại hơn 2 tỉ MK mỗi năm.

Dòng chảy Mekong tương đương với lưu lượng con sông Mississippi với tẩm đẫm phù sa, rất biến thiên với hai mùa Mưa Nắng. Trong mùa Mưa chỉ có khoảng 16% lượng nước đổ xuống từ Vân Nam Trung Quốc. Nhưng trong những tháng mùa Khô, thì lượng nước thượng nguồn ấy lại tăng tới 40%. Do sự phức tạp của lưu vực sông Mekong, hiện tượng hạn hán và lũ lụt cũng rất biến thiên theo từng khúc đoạn từng vùng. [2]

Biển Hồ và sông Tonle Sap là một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, với một chu kỳ gần như độc nhất vô nhị trên hành tinh này: Tonle Sap là con sông chảy hai chiều và diện tích Biển Hồ thì co dãn theo mùa. Là hồ cạn với diện tích 2,500 km2 trong mùa Khô, nhưng tới mùa Mưa, bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con sông Mekong dâng cao tạo sức ép khiến con sông Tonle Sap phải đổi chiều; nước từ khúc sông Mekong thượng nguồn chảy ngược vào Biển Hồ khiến nước hồ dâng cao từ 8 tới 10 mét và tràn bờ, làm tăng diện tích Biển Hồ gấp 5 lần lớn hơn, khoảng 12,000 km2. Joseph Yun, phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Đông Á và Thái Bình Dương đã đưa ra một so sánh rất tượng hình là lượng nước Biển Hồ ấy đủ để bao phủ toàn diện tích hơn 20 ngàn km2 của tiểu bang New Jersey với hơn 3 mét nước cao. [2]

 

 

 h_2__be_khmer_va_ca000

Em Bé Khmer và Cá: 80% nguồn protein của người dân Cam Bốt là từ Cá. Photo by Ngô Thế Vinh, Tonle Sap 2001.

Do tiềm năng dự trữ nước rất lớn theo mùa, Biển Hồ có thể điều hòa lưu lượng con sông Mekong, giảm thiểu lũ lụt trong mùa Mưa, duy trì dòng chảy tối thiểu trong mùa Khô, đồng thời ngăn chặn nước biển không lấn sâu thêm vào vùng châu thổ.

Biển Hồ có một vai trò điều hợp sinh tử đối với hệ sinh thái vùng Hạ Lưu: không chỉ là vựa cá quan trọng nhất của Cam Bốt, mà nguồn nước ấy là thiết yếu cho vựa lúa cùng với kỹ nghệ nuôi cấy thủy sản như cá basa xuất khẩu của của Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL]. ĐBSCL không chỉ là cái nôi lúa gạo cho toàn Việt Nam, vốn cũng là quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan. Theo Chương Trình Phát Triển của Liên Hiệp Quốc/United Nations Development Program thì tình trạng sản xuất lúa gạo ở Việt Nam năm 2010, đã bị ảnh hưởng nặng nề do thay đổi khí hậu và do các con đập thủy điện thượng nguồn.

Có thể nói Sông Mekong là “mạch sống – lifeline” của bao nhiêu triệu cư dân trong Lưu Vực. Nông và ngư nghiệp chiếm tới 85% lực lượng lao động: nông dân thì phụ thuộc vào nguồn nước và phù sa; ngư dân thì sống bằng nguồn cá thiên nhiên của con sông, cá không chỉ là nguồn protein động vật chính trong dinh dưỡng mà còn đem lại lợi tức đáng kể cho họ. Do đó nông và ngư dân Lưu Vực sông Mekong sẽ là những nạn nhân trực tiếp bị ảnh hưởng do bất cứ một thay đổi hủy hoại nào trong môi trường sống của họ.

Với thay đổi khí hậu, lưu vực sông Mekong sẽ là một trong những vùng chịu ảnh hưởng tác hại nhất, do đa số cư dân sống trên những cánh đồng lũ/floodplains và các vùng ven biển thấp [ĐBSCL]. Sự đa dạng sinh học của toàn vùng cũng bị đe dọa bởi những ảnh hưởng tích lũy trực tiếp hoặc gián tiếp do thay đổi khí hậu, cộng thêm với sự tác hại của những con đập thủy điện đầy những khiếm khuyết về phương diện kỹ thuật và đang phát triển vội vã như hiện nay.

 

 h_3__nh__nh_l__a_lai_t__ao_-content

Nhánh Lúa Lai Tạo/Hybrid Rice từ Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế IRRI, tăng năng xuất từ 1-1.5 tấn cao hơn cho mỗi hecta, là một đóng góp quan trọng cho phát triển nông nghiệp Châu Á, trong đó có Việt Nam.

Trong khi không thiếu bài học về “những dòng sông chết trên thế giới” mà các nhà lãnh đạo sông Mekong không chịu học hay cố tình không biết – wilful ignorance, vẫn theo ngôn từ của Milton Osborne; điển hình như con sông quốc tế Indus cũng phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng dài 3,200 km chảy qua hai nước Ấn Độ và Pakistan, vốn một thời là con sông hùng vĩ từng là cái nôi của những nền văn minh, nay chỉ vì do xây quá nhiều đập/heavily dammed nên đã không còn đủ nước chảy ra tới biển Ả Rập/Arabian Sea. [4]

Trở lại với con sông Mekong, chỉ để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển, các quốc gia Mekong vội vã hướng tới khai thác nguồn thủy điện của con sông này. Điều mà họ ít quan tâm tới là khi xây các con đập trên dòng chính có thể gây tác hại tức thời và cả lâu dài tới “an ninh lương thực” của bao nhiêu triệu cư dân trong lưu vực.

Cái giá phải trả về kinh tế do các con đập gây ra rất cao, nhưng vì những hứa hẹn lợi nhuận to lớn trước mắt do thủy điện có thể đem lại; mỗi con đập cho dù lớn nhỏ đều có ảnh hưởng trên dòng chảy và sinh cảnh của con sông. Chỉ một con đập xây không đúng chỗ như con đập Don Sahong Nam Lào, có thể ngăn chặn các đoàn di ngư, ảnh hưởng trực tiếp trên nguồn cá cũng là nguồn protein chính của cư dân trong lưu vực. Hoặc một con đập thiết kế kém với nhiều khiếm khuyết như con đập Sambor phía Bắc Cam Bốt, có thể làm giảm nguồn nước ngọt, làm mất nguồn phù sa, tăng nạn nhiễm mặn và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất lúa gạo không chỉ của Cam Bốt mà cả ĐBSCL của Việt Nam.

Với chuỗi đập bậc thềm Vân Nam/Lancang - Mekong Cascade nơi Lưu Vực Trên/Upper Mekong Basin chắc chắn có ảnh hưởng đáng kể trên dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong. Theo Fred Pearce, thì vào đầu thập niên tới, chuỗi đập Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ. [6]

Nhưng chuỗi đập dòng chính nơi Lưu Vực Dưới/Lower Mekong Basin sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều đối với các quốc gia hạ lưu, đặc biệt là với Biển Hồ của Cam Bốt và ĐBSCL của Việt Nam. Người ta đã nói tới những con đập dòng chính trên đất Lào, nhưng cũng đừng quên rằng ngay trên đất Cam Bốt đã có hai dự án Stung Streng 980 MW và Sambor 2,600 MW gây ảnh hưởng tác hại trực tiếp trên sản lượng cá của Biển Hồ và làm mất nguồn phù sa nơi ĐBSCL. Chấp nhận xây dựng hai con đập ấy ngay trên đất Chùa Tháp, Nam Vang như cầm súng tự bắn vào chân mình/shoot oneself in the foot, một thứ self-inflicted injury – và Việt Nam cũng không tránh được những tổn thất liên hệ/collateral damages.

Không thể phủ nhận thủy điện vẫn là nguồn năng lượng giá trị, nhưng chừng nào mà cái giá rất cao phải trả về môi sinh được lượng giá đúng mức và tiến hành một cách thận trọng và có trách nhiệm. Để có con đập thủy điện mới, có những cây cầu và đường xá mới không thể không đồng thời cũng phải đối chiếu với cái giá phải trả về môi trường và cả trên cuộc sống cư dân ra sao. Ví dụ như nước Lào, với nguồn thủy điện phong phú có thể xuất cảng để thu về ngoại tệ cho phát triển kinh tế, nhưng nếu không có những bước nghiên cứu thận trọng thì đó chỉ là bước phát triển rất ngắn hạn không bền vững với nhiều tổn thất trước mắt và lâu dài trên môi sinh và cuộc sống xã hội của chính những người dân Lào.

Sông Mekong đang chịu quá tải 

Hệ sinh thái sông Mekong hiện đã có những dấu hiệu bị quá tải. Không phải chỉ có tác hại từ các con đập thủy điện mà còn thêm những ảnh hưởng tích lũy do ô nhiễm từ kỹ nghệ, nước thải, và phân bón hóa học từ canh nông.

Duy trì phẩm chất nguồn nước con sông Mekong là yếu tố vô cùng quan trọng cho “sức khỏe và lương thực” của 70 triệu cư dân trong toàn lưu vực. Nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng nơi ĐBSCL, nhất là trong những tháng Mùa Khô giảm lưu lượng dòng chảy khiến nước biển lấn sâu thêm vào vùng châu thổ phá hại mùa màng; lại thêm tình trạng đất phèn/sulphate-rich soils làm tăng độ acid trong nước, gây bội phát lượng rong tảo trong nước/eutrophycation, làm giảm lượng oxygen có thể tới ngưỡng tử vong làm chết cá và các động vật dưới nước.

Nước từ thượng nguồn đã bị ô nhiễm cộng thêm với nạn ô nhiễm dưới nguồn khiến hệ sinh thái của con sông càng ngày càng suy thoái. Xả các chất phế thải, cả phóng uế xuống sông là điều vẫn diễn ra thường ngày nơi ĐBSCL. Các quốc gia Mekong trong đó có Việt Nam gần đây cũng bắt đầu đề cập tới nạn ô nhiễm nước, nhưng đa số chỉ như những khẩu hiệu và để rồi không có biện pháp chế tài hay theo dõi hiệu quả nào.

Cần sự chọn lựa khôn ngoan

Hội Nghị cấp Bộ Trưởng 4 quốc gia Hạ Lưu Mekong tháng 12, 2011 đã có một quyết định là “tạm ngưng dự án đập thủy điện Xayaburi”, là con đập dòng chính đầu tiên trên sông Mekong bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc; để có thêm thời gian nghiên cứu về ảnh hưởng của con đập, và Nhật Bản được chính thức yêu cầu hỗ trợ cho cuộc khảo sát môi sinh này. Nhưng không có một dấu hiệu tích cực nào cho thấy chánh phủ Lào và tập đoàn kinh tài Thái Lan hoãn xây con đập ấy. Rõ ràng là tinh thần Hiệp Định Mekong theo điều 7 trong "Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995" đang thực sự bị thử thách. [6]

Sự phong phú của hệ sinh thái sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, Nam Mỹ nhưng lại có một khác biệt lớn là hai bên bờ sông Mekong có cư dân sống với mật độ cao. Eric Baran một chuyên gia của Trung Tâm Ngư Học Thế Giới/WorldFish Centre đã từng hỗ trợ Ủy Hội Sông Mekong khảo sát ảnh hưởng của các đập thủy điện trên hệ sinh thái sông Mekong, đã phát biểu: “An ninh Lương Thực phải là vấn đề cốt lõi nhất – the most critical issue.” Đã có 781 chủng loại cá được xác định, nhưng còn nhiều chủng loại cá khác chưa được biết tới, trung bình mỗi năm có thêm 28 chủng loại mới được phát hiện trong thập niên qua. Mỗi năm ngư dân Mekong lưới bắt được 2.1 triệu tấn cá [3 triệu tấn một năm theo MRC 09-2008], chiếm khoảng 1/6 lượng cá nước ngọt thế giới. [3]

Tiến sĩ Baran tiếp: “Kết hợp đặc tính của các đoàn di ngư và sự phụ thuộc của cư dân trên nguồn cá này là nét đặc thù duy nhất – unique, và “an ninh lương thực” trong lưu vực phải là mối quan tâm hàng đầu của các chánh phủ Mekong khi xây các con đập. Do đó không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải tái định cư, nhưng vấn đề lớn hơn rất nhiều. Khai thác thủy điện và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong có lẽ là nét đặc thù duy nhất trên hành tinh này.”

Theo dự báo của MRC, thì tới năm 2030 với 88 con đập dòng chính và phụ lưu hoàn tất, sẽ có tới 81% các đoàn di ngư bị chăn lại, phải làm sao cùng với các bước phát triển xây đập mà vẫn bảo vệ được nguồn lương thực cho cư dân trong lưu vực. Do đó cần tới sự tái phối trí các dự án đập hiện nay, với nhận định rằng ảnh hưởng tác hại của các con đập thủy điện sẽ được giảm thiểu nếu là những con đập phụ lưu/tributary dams; hoặc nếu là đập dòng chính/mainstream dams thì nên là những con đập ở vị trí ở xa lên phía thượng nguồn.

Theo chiều hướng đó, không nhất thiết là phải ngưng tất cả các dự án đập thủy điện nhưng nhóm nghiên cứu của Baran đưa ra những đề nghị cụ thể: 

(1) Các con đập sẽ không cao hơn 30 mét để có thể vẫn mở những đường đi hiệu quả cho cá. [như chỉ riêng con đập Xayaburi cao 32 mét cũng đã ngăn chặn hơn 70 chủng loại di ngư].

(2) Nên xây đập trên những dòng chảy nhân tạo/man-made canals giống như ở Pháp và Âu châu, thay vì trên dòng chảy thiên nhiên, sẽ có tác dụng giảm hiểu tác hại tiêu cực trên dòng sông.

(3) Những con đập nên được thiết kế cho mục đích đa dụng – multi-purpose stuctures thay vì chỉ có sản xuất điện, nhằm giảm thiểu những tổn thất trên môi trường và xã hội. [3]

Tăng trưởng xanh lưu vực sông Mekong

Không phải là ngẫu nhiên, một Hội nghị 6 quốc gia trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong/Greater Mekong Subregion [GMS], còn có một tên gọi khác là Tiểu Vùng Sông Mekong bao gồm Cam Bốt, Lào, Thái Lan, Việt Nam, Miến Điện và Trung Quốc, và cơ quan tài trợ là Ngân Hàng Phát Triển Á Châu [ADB] đã diễn ra tại Bangkok trong hai ngày 20, 21 tháng 2, 2012 vừa qua.

Hội nghị Bangkok đã như một cộng hưởng chuẩn bị cho Ngày Nước Thế Giới 2012 vào tháng 3 sắp tới. Với nhận định: quản lý các nguồn lương thực, nước và năng lượng trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong là thử thách nghiêm trọng nhất trong thập niên tới đây. Tới năm 2030, nhu cầu lương thực của Lưu vực Lớn Sông Mekong gia tăng từ 20-50%, nhu cầu nước cho canh nông, cho phát triển năng lượng, cho gia dụng và kỹ nghệ cũng sẽ tăng theo cấp số nhân/exponentially increasing; trong khi nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm/surface and ground water thì ngày càng cạn kiệt và suy thoái.

Cân bằng Tăng trưởng Kinh tế và sự Bền vững Môi trường / Balancing Economic Growth and Environmental Sustainability là chủ đề của của hội nghị với mục đích tìm ra một hướng đi tối ưu cho tăng trưởng kinh tế và bền vững môi trường. Điều ấy đòi hỏi những đầu tư khôn ngoan trong phát triển như: sử dụng nguồn năng lượng sạch, gia tăng trồng trọt với ít nước hơn, cải tiến kỹ thuật sinh học để giảm sử dụng phân bón hóa học, thu hoạch thêm lượng nước mưa/rain harvesting và tái tạo/recycling nguồn nước từ các trung tâm đô thị. [7]

Stephen P. Groff, Phó Chủ tịch Ngân Hàng Phát Triển Á Châu đã phát biểu: “Chúng ta cần phác thảo một lộ trình/roadmap tới năm 2020 nhằm hỗ trợ người nghèo/pro-poor, hỗ trợ môi trường/pro-environment. Thách đố là làm sao gia tăng hiệu quả xử dụng tài nguyên, phục hồi và tái đầu tư/restore and recapitalize các nguồn tài nguyên thiên nhiên ấy, đồng thời bảo vệ phẩm chất môi trường khi tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế.” 

Ông Dương Đức Ưng, từ Việt Nam đã cho RFA biết thêm một số thông tin từ hội nghị như: “Sự quan tâm không chỉ về an ninh lương thực mà cả an toàn thực phẩm phải gắn kết với nhau. Việt Nam hiện nay đã có an toàn lương thực cho mình rồi và xuất khẩu 7 triệu tấn lương thực ra thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan”. [8] Theo nhận định của người viết thì thành tích phô trương ấy của Việt Nam đã không có gì mới, nhưng câu hỏi được đặt ra là liệu sẽ bền vững được bao lâu và phía Việt Nam có sáng kiến đóng góp được gì cho tầm nhìn xa chiến lược “phát triển xanh bền vững” của toàn Lưu vực Lớn Sông Mekong trong đó có ĐBSCL.

ADB đã thông qua 50 dự án liên quan tới bền vững môi trường Lưu Vực Lớn Sông Mekong trị giá 4.8 tỉ MK. [7] Các nhà lãnh đạo GMS đã đồng thuận về một “chiến lược tăng trưởng xanh/green growth agenda” cho toàn vùng nhưng vấn đề vẫn là làm sao để theo dõi và thực thi một cách hiệu quả những cam kết ấy.

Cái giá quá đắt cho phát triển

Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực” không chỉ là một thông điệp mỗi năm của Liên Hiệp Quốc gửi ra cho toàn cầu nhưng với khu vực Đông Nam Á – nơi đang có tranh chấp về quyền lợi khai thác con sông Mekong thì lại có ý nghĩa báo động nghiêm trọng hơn nhiều đối với nền an ninh toàn vùng.

Bước vào thế kỷ 21, có thể nói các quốc gia Mekong, trong đó có Việt Nam tuy được coi là những quốc gia đang phát triển, nhưng theo những bước không bền vững/non-sustainable development. Và cái giá cao nhất mà thế hệ hôm nay và cả tương lai phải trả là mất nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mất “an ninh lương thực” đưa tới viễn ảnh nghèo khó và quan trọng hơn thế nữa là chính sức khỏe của người dân sẽ là cả một gánh nặng về y tế do không có an toàn thực phẩm, thêm nạn ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng nhất là về “nước và không khí”.

 

Ngô Thế Vinh, M.D.
California, 02/ 25/ 2012 

Tham Khảo:

1/ New FAO Chief moves on Global eradication of hunger, Support to poorest countries to be scaled up. Fao Media Centre; Rome 3 Jan, 2012http://www.fao.org/news/story/en/item/119343/icode/

2/ Testimony of Joseph Yun, Deputy Asst. Secretary Bureau of East Asian and Pacific Affairs US Department of State, Before the Senate Committee, Sept 23, 2010http://www.foreign.senate.gov/imo/media/doc/Yun.pdf

3/ Food security key issue in Mekong dam debate: Bangkok Post, Nov 12, 2011
http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/270238/food-security-key-issue-in-mekong-dam-debate

4/ Empires of The Indus: The Story of A River; Alice Albina, W.W Norton & Company, Inc. First American Edition 2010

5/ The Damming of The Mekong: Major Blow to An Epic River, Fred Pearce, Yale Environment 360 Jun 17, 2009

6/ Hội Nghị Siem Reap Một Thỏa Hiệp Mong Manh Cho Dòng Chính Mekong Không Nghẽn Mạch; Ngô Thế Vinh, 12/25/2011http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/77#

7/ Green Development Key to Growth in Mekong Region; Bangkok, Thailand, 20 February 2012,http://beta.adb.org/news/green-development-key-growth-mekong-region

8/ Kế hoạch kinh tế và môi trường trong Tiểu vùng sông Mekong; RFA 02-22-2012;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/key-to-grow-in-mekong-region-02222012061040.html

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2042)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2255)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2734)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3171)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3458)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 3996)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3473)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4355)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 2762)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2779)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8676)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15712)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14701)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15067)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2039)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2734)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 3996)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5278)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 2762)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4375)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 3878)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4604)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3171)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3458)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3473)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4355)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2255)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2779)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 2881)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3369)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11498)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 27915)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34374)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34371)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9052)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11369)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2039)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5278)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 4986)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5022)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4342)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6325)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5542)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7207)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.