- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đoàn Cầm Thi Từ hành xác đến hành văn Đọc Giấc Mơ Thổ của Trần Vũ

11 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 114253)
* đăng trên Hợp Lưu số 23 (1995)

doancamthi_hl23 

 “ Les délices de la cruauté

Délices non passagères…

Những hương vị của bạo tàn

Hương vị không hề ngắn ngủi…

Lautréamont

 

 

Giấc mơ thổ kể chuyện một lũ người hoá điên vì ám ảnh quá khứ. Quá khứ ở trong mọi ý nghĩ, đè nặng lên từng số phận. Quá khứ hằn dấu lên ngôn ngữ, trong những lời nói đã trở thành thói quen, được phát ra như những khẩu hiệu trơ cứng, như trong câu của Quý với Vĩnh lúc đi săn rồng “Khẩn trương lên giặc lái đến bây giờ”. Quá khứ ở trong từng thức ăn, đồ uống, trong giải trí, trong thịt rồng, tim phượng, trong “rượu Armagnac Marquis de Caussade, đóng chai năm 71”, và trong “trận World Cup của năm 66”. Ngay bạo lực cũng mang sắc màu của quá khứ, của chiến tranh : “Quý hùng hục lục trong rương đưa tôi một khẩu AK, hai bộc phá, còn anh vác thượng liên 12 ly 7 với B40”, “Chiến giơ cao súng. Tôi hãi hùng trông thấy những giây đạn chầm chậm chạy vào nòng thép (…) Những tiếng rú đinh tai. Những tiếng rú thảm khốc…”.

 

Lũ người ma ám sống trong một không gian và thời gian chỉ tồn tại với nhiệm vụ duy nhất : vật chất hoá dĩ vãng. Thời gian trong thế giới đó không ngừng chảy, không chấp nhận hiện tại lẫn ngày mai : “Bất cứ ngày nào cũng là Tết Giáp Tuất. Chiều nào cũng là chiều hai mươi tám Tết. Sáng nào cũng là sáng mùng Một”, “Ngày hôm nay là ngày 19 tháng 6 Quân lực VNCH cũng là ngày 2 tháng 9 Tuyên ngôn Ba Đình lịch sử”. Cụm từ “Tết Giáp Tuất” được nhắc đi nhắc lại như để nhấn mạnh tính bất động của thời gian. Tương lai cũng chỉ được coi là cái đã qua : câu chuyện được kể vào năm Giáp Tuất, vậy mà một trong những câu cuối của nó là : “Tôi trở về dinh cơ của Quý, nhiều năm sau Tết Giáp Tuất (…) Khu đất thiêu rụi hoang tàn”.

 

Quá khứ hiện lên trong từng chi tiết của không gian. Từ kiến trúc – “Một thứ lăng lâu đời, cũ kỹ”, “Kiến trúc của ngôi nhà trông như lăng vua. Mấy hàng trụ biểu trông đều tăm tắp, xen giữa linh quy đội bia trước sảnh đường” – đến phong cảnh – “hàng bạch đàn ngút ngát (gợi lai) mười năm vượt Trường Sơn”, “rặng hoa sữa trắng ngát (là) kỷ niệm thời trai trẻ của Quý ở Hà Nội” - và tên gọi của nơi chốn “ hồ Ba Bể”, “cổng Đại Môn”, “tháp Bảo Nghiêm”. Không khí đầy ắp dĩ vãng, thứ dĩ vãng cứng nhắc, thô thiển, chết chóc, càng trở nên nặng nề bởi thế giới đó ở rất xa – “phía nam phần lục địa” – hoàn toàn bị chia cách với hiện thực bên ngoài, với cái được gọi là “thổ dân”.

*

Song song với cuộc hành trình cùng cộng đồng tìm về quá khứ, Vĩnh, nhân vật chính và người kể chuyện của Giấc mơ thổ đã sống một cuộc phiêu lưu rất riêng, trong lãnh địa của cảm xúc. Mọi kỷ niệm đều đánh thức ở nhân vật này, cùng một lúc, những tình cảm mãnh liệt nhất và trái ngược nhất : đau đớn và khoái lạc, yêu đương và thù hận.

 

Tất cả bắt đầu với chén trà Thổ. Nhờ hương vị của mình, như chiếc bánh madeleine của Marcel Proust trong Đi tìm thời gian đã mất, nó có khả năng ru Vĩnh vào giấc mơ ngược dòng thời gian. Quá khứ mà Vĩnh tìm thấy có một bề dầy, một chất liệu hiếm có. Nó càng đặc quánh và sinh động hơn bởi rất thường xuyên được sống với hiện tại, khi nỗi đau trên thân thể Vĩnh không biết đến từ cú ấn của Chiến hay từ nhát búa tạ của đao phủ, khi cái “ấm, nóng” của cơn mưa tuổi thơ hoà với cái “thác lũ” của cơn mưa buổi săn rồng, khi nước biển ngày ra đi quyện với mồ hôi cơn mê loạn làm nên một vị “mằn mặn” khó tả. Giấc mơ thổ ghép những mảnh vụn của thời gian vào nhau, chồng chất những kỷ niệm lên nhau, không theo một trật tự nào hết, không có một chuyển tiếp nào hết, tạo thành một chiếc kính vạn hoa mê hoặc : “hoả tiễn 122 ly bay rót vào trường tiểu học Cai Lậy, đuôi lửa bay ngang ô cửa số lúc tôi tốc váy giật quần lót Nữ”. Quá khứ ở đây tầng tầng lớp lớp, vừa cá nhân vừa tập thể, liên quan cùng lúc đến một điểm chính xác và một mảng vô định trong thời gian. Tôi muốn nói đến cái chất vừa huyền thoại vừa thân thuộc trong hình ảnh của bầy rồng : “Không phải vẻ đẹp thông thường mà là nét đẹp huyền sử, truyền thống, nét đẹp cổ xưa đã có từ ngàn năm (…) Uy vũ mà thân thiện. Tôi quen chúng từ thửa sơ sinh, còn nằm ẵm ngửa mẹ bồng đến xin xăm (…) Suốt thời thơ ấu chúng tôi có bao giờ xa nhau…”.

 

Chén trà Thổ cũng là một loại linh dược đưa sự nhạy cảm của tâm hồn Vĩnh đạt đến cực độ của nó – “Tôi nghe được tiếng nước chảy ở đáy hồ Ba Bể, thường nhật sâu lắng, lúc này ầm ào kêu vang (…) Tôi không biết mình nằm trong buồng bao lâu, chỉ nghe rõ mọi tiếng động. Tiếng những ngọn cỏ mọc khắc khoải quanh nhà. Tiếng những cột gỗ trăn trở vặn vẹo ngoài hành lang. Tiếng mối mọt bò trong các ngạch gỗ. Thậm chí đến tiếng trứng gà vỡ trong góc chuồng tôi cũng nghe được. Những mảnh trứng vỡ rạo rạo, non nớt xen kẽ tiếng động thật khẽ, yếu đuối của từng cánh cải cúc…”. Ta hiểu vì sao trong tâm hồn đó, giới hạn giữa khoái cảm và thống khổ thật mỏng manh, đến độ một rung động nhỏ của nỗi đau có thể biến thành một tiếng ca lạc thú, và ngược lại một thoả mãn quá lớn có thể biến thành một vết thương giết người.

 

Chỉ kỷ niệm về ngày ra đi, gợi lên dưới những vuốt ve của Quỳ – “Đôi môi Quỳ chín rực, lên xuống, cuồng nhiệt (…) Quỳ vẫn tiếp tục, ngậm chắc, mải miết, nuốt trọn toàn thân tôi rơi trở lại vào đại dương của tuổi thơ tự sát…” – cũng đủ gợi lên cho Vĩnh tột đỉnh của hạnh phúc – “toàn thân xác tôi bỗng phủ kiến, những đàn kiến bò khắp châu thân, cắn, tiêm mật vào các thớ gân, cùng lúc người tôi tách rời ra bay qua những cánh đồng lướt gió, lửng lơ, mải mê” – và tận cùng của đau khổ – “Quỳ như kẻ thả diều bắt tôi lên cao nữa, lên cao mãi, lên cao cho đến lúc nổ tung, cho đến lúc bước chân xuống tàu bị giết. Luỡi mác chém vào đầu, chém vào vai, xẻ óc, đổ thịt, tan xương, nát sọ, máu me nhày nhụa”. Chỉ hình ảnh về chiến tranh sống lại qua tiếng hát của Quý và Chiến cũng đem lại cho Vĩnh một đam mê mới – “Quý như kẻ động kinh vừa pháo kích vừa phùng mang trợn mắt : Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù. Tôi chạy trở lên lầu, ngườI tôi bị kích động đột ngột (…) Tôi ôm ghì Nữ” – và một hận thù hững hực – “Chiến bắc loa thổi kèn đánh trống : Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt mẹ cha ông miệt mài. Tôi đâm Nữ bằng tất cả sức mạnh, trí tuệ và cơ bắp. Máu chảy ở vết thương…”.

*

Nhưng rất nhanh, người ta có cảm giác sự tồn tại song song của hai thứ tình cảm này báo hiệu không chỉ một tâm hồn vô cùng nhạy cảm, mà một nội tâm cực kỳ phức tạp, ở đó nỗi đau đớn, vật chất hay tinh thần, chỉ tồn tại để làm tăng thêm niềm khoái lạc. Đoạn nấu rồng chứng minh điều đó : “con rồng con đỏ hỏn vừa bắn về ban chiều tươi rói, khoe những thớ thịt trẻ thơ bụ bẫm. Ghê sợ. Nhưng tôi không cưỡng lại được niềm phấn kích hồ hởi của cảm giác được ăn thịt tươi lần đầu không đông lạnh. Tôi phụ với Quý luộc thịt, gói bánh tráng”. Để đạt được một giây phút thoả mãn, Vĩnh sẵn sàng hành hạ thân xác mình, thân xác kẻ khác, chấp nhận mọi cực hình, mọi xỉ nhục, ngay cả cái chết, không ngần ngại dùng đến tra tấn, bạo lực, thậm chí giết người. Hành hạ đã trở thành điều kiện không thể thiếu được của mưu cầu nhục dục. Và hành hạ càng tinh tế thì khoái cảm càng ngọt ngào. Không được quên rằng cảm giác vui thú trong cảnh làm tình với Quỳ đã được so sánh với những mũi kiến chích. Nếu không thì làm sao giải thích được những hành động khổ dâm – “cơn khát, giấc mơ, cả hai trộn lẫn thúc đẩy. Tôi nữa muốn sống nửa muốn chết (…) Bạn bè đứng trước tôi lần lượt tự sát” – hay bạo dâm – “tôi hãm Nữ tàn khốc. Tôi giết tuổi thơ của Nữ (…) Thoả mãn” – mà nhân vật này không ngừng bày tỏ ?

 

Tất cả những tình cảm mâu thuẫn đó biến bốn cảnh quan trọng nhất của Giấc mơ thổ thành những cảnh hành xác, từ cảnh vượt biển đến cảnh làm tình, từ cảnh săn rồng đến cảnh hiếp Nữ. Ở đó, ngoài những cảm xúc cực mạnh, người ta còn gặp những chi tiết đặc biệt của trò chơi kỳ lạ này : không khí giam hãm, hung tàn, gần như siêu thực, ma quái, tạo thành cái phông lý tưởng cho các cuộc hoan lạc kiểu Sade, thêm vào đó là các dụng cụ tra tấn như lưỡi rựa chặt đầu, đinh chọc mắt, cưa xẻ xác, dây điện quất mặt. Có thể thấy cái nháy mắt của Trần Vũ gửi cho độc giả khi anh cho tên của Marquis de Sade – một trong những thuỷ tổ của nền văn học dâm lạc – hiện lên rành rành trong « rượu Armagnac Marquis de Caussade ».

 

Bốn cảnh hành xác trong đó cảnh vượt biển-tự sát giữ vai trò mở đầu – “tôi sắp sống những giây phút cô đơn đầu tiên”. Phần lớn các cảnh sau chỉ là những ánh phản chiếu, những âm hưởng của nó : hình ảnh đứa trẻ bị giết trong cảnh săn rồng, động tác xẻ thịt tươi trong cảnh nấu rồng, hành động tra tấn trong cảnh hiếp Nữ là những mô-típ đã có sẵn trong cảnh đầu. Có trong cảnh này một cái gì đó rất Marquez. “…Chúng tôi đi tìm cái chết (…) Tôi run rẩy vì ý nghĩ mình sắp chết (…) Nền trời mỗi lúc một một xanh…” – không thể không nhận ra ở đây những nét chung của Giấc mơ thổ với Ký sự về một cái chết đã được báo trước : bạo lực, định mệnh, nỗi chết.

 

Bốn cảnh hành xác trong đó phụ nữ là người giữ vai trò hướng đạo. Người mẹ đưa các con xuống tàu tự sát, tiễn các con sang thế giới bên kia. Vĩnh chẳng nói đó sao – “Mẹ tôi đau nỗi đau của người đàn bà lúc lâm bồn (…) biết đau đớn nhưng vẫn ham sanh. Tánh khổ dâm tôi thừa hưởng từ mẹ”! Sau đó, Quỳ là người đã lôi cuốn Vĩnh vào các trận hành lạc, bằng thái độ vừa khổ dâm – “Quỳ cúi gập người liếm vũng nôn. Dáng điệu mải miết say mê (…) trông thấy hình ảnh nguời đàn bà đẹp, quỳ nuốt những thứ mà mình vừa nôn ra khiến tôi càng cực ham muốn”, vừa bạo dâm – “Tôi thét gọi mẹ, bấu lấy đầu Quỳ muốn ngừng, nhưng Quỳ vẫn tiếp tục, mải miết, nuốt trọn toàn thân tôi”. Phải nói rằng, ngay từ đầu trong con mắt của Vĩnh, ở người đàn bà này mọi thứ đều đồng nghĩa với hành xác, thậm chí cả những động tác rất thông thường không thuộc lĩnh vực tình dục, như nấu ăn – “Vợ Quý đang khom lưng bổ đôi quả cật. Mấy ngón tay Quỳ mần mần lăn lăn miếng bầu dục bóng lưỡng nằm trây trên thớt. Quỳ vuốt ve, âu yếm, hết trở qua rồi lật lại, lạng bỏ nhịp nhàng những gân hôi, rồi khía. Quỳ lấy nước ở hồ Ba Bể, ngâm bầu dục cho xả nhớt, rắc một chút húng lìu, và ghép một lạng mỡ trước khi xiên”. Vẻ trẻ thơ, yếu ớt của Nữ chỉ vô tình làm khơi dậy dục vọng ở Vĩnh và tăng thêm tính bạo dâm ở nhân vật này – “Nữ lấy hai tay che ngực che bụng van lậy, tôi nắm tóc Nữ ấn đầu xuống gối bẻ quặt tay mở cúc quần mình”.

 

Bốn cảnh hành xác trong đó cơ thể, nhất là cơ thể người nữ giữ một vị trí trung tâm. Người mẹ đau đẻ “xẻ thịt, banh da, rạch tử cung, xé buồng nhau, mất huyết”. Người tình “chắc”, “hăm hở” với “sức vóc của người đàn bà chăm việc đồng áng”. Nữ với “thân thể tròn mịn, như cánh đồng lúa chín căng những hột thóc”. Những cơ thể tự khám phá hay được khám phá qua những cơn hành lạc. Những người đàn bà của Giấc mơ thổ thường câm lặng, như thể chỉ tấm thân họ thôi, với những nhịp điệu, cử chỉ, động tác rất đặc trưng của nó, cũng đã là một ngôn ngữ, đủ để nói lên những thèm khát và ước vọng. Có lẽ trong thẩm mỹ của mỗi nhà văn, người phụ nữ thường có một dáng điệu riêng. Các cô gái của Bảo Ninh, từ Phương và Hạnh của Nôĩ buồn chiến tranh (1990) đến Diệu Nương của Gíó dại (1992) đều có một “dáng đi mềm mại đung đưa toàn thân”. Ở Trần Vũ, người đàn bà quyến rũ nhất trong thế quỳ. Có lẽ vì vậy mà nhân vật nữ chính của Giấc mơ thổ tên là Quỳ ? Tôi không rõ, chỉ biết rằng tên gọi và dáng vẻ của người đàn bà này hoà quyện với nhau một cách kỳ diệu trong tư thế “cúi gập người (…) quỳ nuốt (…) khom lưng”, trong các ngón tay khi thì “mát dịu” khi thì “nóng nảy”, “mần mần lăn lăn”. Bức tranh đẹp nhất của Giấc mơ thổ là trăm con rồng “uốn lượn nhịp nhàng tựa trăm cô gái múa lụa (…) quỳ xuống đứng lên uyển chuyển”. Nhưng sự khác nhau chỉ ở hình thức. Về nội dung, tác phẩm của Trần Vũ và Bảo Ninh cùng nói lên một điều, cơ thể của người nữ mang một ý nghĩa duy nhất với người nam : phương tiện khoái lạc và mục tiêu phá huỷ. Chẳng phải cái chết của Diệu Nương do chính những người đàn ông đã ngủ với cô gây ra ? Cái nhìn của Vĩnh đặt lên cơ thể Quỳ và Nữ khác gì cái nhìn của kẻ hưởng thụ và của tên đồ tể ? Tấm thân Diệu Nương quằn quại dưới làn súng của những người lính gợi lại một cách chính xác bầy rồng đang múa lượn bị ghim đạn “lỗ chỗ (…) lăn lộn ngã quỵ xuống trảng” của Giấc mơ thổ.

 

Chính ở điểm này, Đàn sẽ ri bay ngang rừng (1991)[1] là một tác phẩm độc đáo. Cũng đặt ra mối quan hệ giữa quá khứ, chiến tranh và hành xác, truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà chuyển đỉểm nhìn qua phía nữ giới : nhà văn nữ cho nhân vật chính và người kể chuyện của Đàn sẻ ri bay ngang rừng là Diễm, một thiếu phụ đẹp, yêu Nẫm - người anh chồng đã chết trong chiến tranh mà cô chỉ nhìn thấy qua ảnh. Chính trong những giây phút say đắm với chồng - Thản - hay những lúc quằn quại sinh con, Diễm thấy Nẫm trở về: “Bà đỡ huơ kéo cắt xoẹt cái rốn. Tôi xoạc cẳng thiếp đi trên bàn đẻ. Một người đàn ông (…) ngó tôi từ trên trần nhà. Hắn nhìn xuống gương mặt võ vàng của tôi, rồi nhìn xuống bụng, nơi cái cuống rau vừa bị cắt còn lòng thòng thò ra chỗ sinh nở (…) rờ rẫm cái cuống rau đỏ lòm máu, ánh mắt rầu rĩ nhìn tôi cười cười. Tôi nhận ra Nẫm”. Giống như Vĩnh của Giấc mơ thổ, những cuộc hoan lạc của Diễm nhuốm máu : “Tôi thèm khát được nhìn thấy, sờ thấy từng tế bào máu li ti chảy rần rật trong từng mao mạch, tưới khắp cơ thể người đàn ông nằm cùng tôi (…) Mặt trời ngả màu đỏ bầm, màu máu chúng tôi trộn lẫn máu sẻ”. Nếu trước kia nữ sĩ Hồ Xuân Hương buộc phải ví von cơ thể mình với “bánh trôi”, “quả mít” hay “hang Cắc Cớ”, giờ đây Võ Thị Xuân Hà miêu tả cận cảnh, không qua ẩn dụ, một tấm thân người nữ, viên mãn, mà chỉ tình dục mới đem lại bình đẳng với người nam. Hơn cả Thản, hơn cả Nẫm, Diễm yêu cơ thể của mình. Và nhất là không ngần ngại nói lên điều đó : “Đôi khi chúng tôi gặp những cơn mưa rừng đổ xuống tơi bời (…) Những giọt mưa quất vào da thịt lạnh buốt làm dịu cơn khát bừng bừng trong ruột. Tôi cởi áo quần cùng Thản hứng mưa cười hú hét. Thân mình tôi đẫm nước. Trắng ngần. Da thịt được mưa tưới tắm săn lại nõn nà, làm dịu vết thương vĩnh viễn của kiếp đàn bà”. 

 

Trở lại với Giấc mơ thổ. Bốn cảnh hành xác là những cột mốc của một chặng đường trên đó nhân vật chính đi từ tội lỗi này sang tội lỗi khác : tội thông dâm, tội tổ tông, tội hiếp dâm, đi từ tự sát đến huỷ hoại, đổi từ vị trí nạn nhân sang vị trí đao phủ.

 

Quá khứ - Hành xác - Tội ác, là ba chi tiết gắn liền nhau trong số phận và bi kịch của Vĩnh. Cứ như thể, để đạt được tuyệt đỉnh của khoái lạc, Vĩnh phải ngược về điểm cuối của dĩ vãng đớn đau và đi đến tận cùng của lương tâm tàn bạo.

 

*

 

Nhưng một trong những điểm độc đáo trong cuộc hành trình tìm về quá khứ của Vĩnh có lẽ là sự có mặt, dù là ngắn ngủi, của những giây phút tỉnh táo, so với nỗi ám ảnh dài vô tận của Quý, của Quỳ, của Chiến. Tỉnh táo để biết mình vừa nằm mơ – “giấc mơ khủng khiếp (…) căn phòng ngợp hơi”. Tỉnh táo để nhận ra thời gian đang chảy – “tiếng động của các tế bào sinh sôi nảy nỏ rồi chết đi liên tục, sôi động hàng hàng lớp lớp, cứ mớ này đến mớ khác”. Tỉnh táo để nhận thấy sự bất lực của con người trước dòng tuôn của thời gian - nếu ở kỷ niệm tuổi thơ “chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ trông thấy…”, thì trong hiện tại, Tết Giáp Tuất, “chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy…”. Tỉnh táo để nhìn thấy những dấu vết không chối cãi được, ngày càng nhiều, của thời gian trên cơ thể, lúc đầu trong “đôi mắt”, “gương mặt”, sau đó trên “làn da”. Tỉnh táo để lạc quan nhờ “những giấc mơ không bao giờ tắt”.

 

“Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên gương mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt”. Không phải là sự vô tình nếu những hàng chữ mở đầu Giấc mơ thổ này được in nghiêng. Để tô đậm thêm sự lạc lõng của chúng, lạc lõng của một lời nói hiếm hoi, không đến từ những cơn mộng mị mà đến từ tri thức, lạc lõng của niềm thức tỉnh và nỗi lạc quan. Chính vì vậy cái tỉnh táo vĩnh viễn chợt đến với Vĩnh trong cảnh cuối cùng, sau biết bao những giằng co, giữa mơ và thực, giữa hiện tại và kỷ niệm, giữa ý thức và vô thức, giống như một sự vỡ mộng – “Tôi trở về dinh cơ của Quý, nhiều năm sau Tết Giáp Tuất. Bốn trụ trời chỉ ngang cao tầm mắt…”. Niềm tin vào tuổi trẻ chợt tìm thấy – “tôi đọc lờ mờ câu thơ cổ văn (…) – Thanh niên phương dự ái nho lâm. Lần đầu tiên tôi hiểu nghĩa của câu thơ sáu kỷ trước. Hương rừng nho ở đâu toả thơm thoang thoảng”, cũng không khỏi mang một chút gì cay đắng, muộn màng “gió thổi qua chín chung đỉnh đồng còn vững, đứng trơ vơ, như tiếng than của một thời đại đã khuất”. Giấc mơ thổ của Vĩnh tắt đi để nhường chỗ cho giấc mơ thổ vừa bừng nở của Nữ, người con gái yêu một chàng trai Thổ, tham gia biểu tình chống kỳ thị. Nữ là nhân vật duy nhất trong truyện biết chối từ dĩ vãng để mơ dến ngày mai. Vâng, phải có cái độ chín đó của Nữ thì mới viết được cho Vĩnh những dòng này sau tất cả những gì đã xảy ra : “Được tin chú về X. Cháu ghé về nhưng không gặp. Chuyện xẩy ra đã lâu. Cháu không còn giận chú nữa. Cháu sống hạnh phúc với Mohamed”. Những đoạn viết về Nữ cũng là những câu đẹp nhất, sáng tạo nhất, trong Giấc mơ thổ. Trong nét vẽ của Trần Vũ, người n(N)ữ là hiện thân của cái đẹp vừa cụ thể vừa huyền ảo mà người nam hoang mang chiếm đoạt, để yêu thương, hành hạ và hối tiếc : “Chiếc vòng ngọc Nữ đeo ở cổ tay rớt trên mặt đất, tôi cúi lượm thấy vỡ giữa lòng bàn tay mình một nỗi ham muốn mới kỳ lạ”.

 

 

*

 

Hành xác hay hành văn ?

 

Tôi nghĩ đến số phận của chính Giấc mơ thổ. Truyện ngắn đã được in trọn vẹn trong Hợp Lưu số 19, sau đó được cắt xẻo trong Diễn Đàn số 37. Lần này, phần đầu và phần cuối của tác phẩm biến mất. “Tôi” – người kể chuyện và nhân vật chính – không có tên, cái tên Vĩnh chỉ xuất hiện trong Hợp Lưu, giống như kẻ cụt đầu. Hoàn toàn bị xoá sổ nhân vật Đình, một biến thể, một cái “tôi” khác của Vĩnh – bức tranh anh vẽ là tấm gương phản chiếu giấc mơ của Vĩnh, với “thứ ánh sáng nhạt lưa thưa lơ lửng hoe vàng rải dọc những chiều thời gian đa chiều…” “những khối loạn sắc không tài nào (…) chụp bắt, cảm giác cùng một lúc mọi vật, thế giới đều tản mát và tập trung…”.

 

Tôi nghĩ đến những mảnh vỡ đã cấu thành Giấc mơ thổ, thể hiện trong những tháng ngày và địa điểm rời rạc, được ghi lại ở cuối tác phẩm, đánh dấu những bước ra đời khó khăn, khắc khoải của nó : “Date-written.27/1/94 Sàigòn Quận Nhất. Date-Compiled.23/8/94 Paris Marne La Vallée. Mise en Prod : Sinh nhật Hợp Lưu 10/91-10/94. Chẳng phải chính Giấc mơ thổ đã so sánh lao động nghệ thuật và hành xác, bằng cách đưa ra hình ảnh một nghệ sĩ đang sáng tạo – “Bàn tay Đình lún vào mặt vải, vùn vẫy. Cả thân mình dằng co với tấm tranh. Hai cánh tay anh nắm cứng lấy chuôi dao đâm ngập đến cán (…) Vẽ mà như tra tấn, nát người” ? Nó giải thích vì sao Giấc mơ thổ được bắt đầu với lời đề tựa “Về Ph.Nguyên và Võ Đh.” [2].

 

Tôi nghĩ đến tâm trạng tác giả lúc viết những dòng chữ như roi quất, như dao đâm, đưa người đọc nhiều khi đến giới hạn của sự chịu đựng. Những câu ứa máu, xẻ thịt, trồi da đó lại mang nhiều nét tự truyện. Như để đánh thức quá khứ ? Như để sống lại cái chết ?

 

Tôi nghĩ đến nỗi phẫn nộ của rất nhiều độc giả không chịu nổi khoái lạc của Vĩnh – khoái lạc đồi bại[3] vì chỉ tìm thấy trong đớn đau, hơn thế nữa trong bạo lực, trong nỗi chết.

 

Và tôi mường tượng ra nụ cười của Trần Vũ…

 

Đoàn Cầm Thi

Paris, tháng 6 năm 1995

 

 

 

 



[1] Đăng lần đầu trên Văn nghệ quân đội, Hà Nội, 1991.

[2] Hoạ sĩ Phan Nguyên và hoạ sĩ Võ Đình.

[3] Xem thư bạn đọc Diễn Đàn Forum (Paris) số 38.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 863)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 711)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2965)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2508)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9755)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 863)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2965)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 711)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6871)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6159)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2347)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2508)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29222)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35561)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10516)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12418)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3045)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3850)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9438)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.