- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Cầu

21 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 109980)

songthao_1_hl112 
Cầu trong ý nghĩ đầu tiên của mọi người là một dải vắt ngang hai bờ một con sông để bờ bên nọ nối với bờ bên kia. Nếu nghĩ như vậy thì hết phiếm! Cầu nói ở đây chẳng nối niếc gì hết. Không, có nối. Nối từ bên trong với bên ngoài. Đó là một thứ mà ngồi trên đó người ta có thể cho một vật từ trong tăm tối nối với ánh sáng chan hòa một cách văn minh. Nói là “văn minh” vì cái thứ cầu này chỉ mới được sáng chế ra khi con người tiến tới thời kỳ bỏ rơi anh quận công ở ngoài đồng.
Cầu như vậy không có gì là…văn học cả tuy có văn minh. Nếu nó cứ yên phận nép mình trong cái phòng chật chội nhất nhưng cũng cần thiết nhất trong một tòa nhà thì chẳng nói làm chi, nó ngang nhiên xông vào văn học.
Trên trang mạng bán đấu giá eBay vừa xuất hiện cái bồn cầu…văn học. Đó là cái bồn cầu của nhà văn Mỹ Jerome David Salinger. Dân ta biết ông nhà văn này qua cuốn truyện nổi tiếng xuất bản năm 1951 Catcher in the Rye, bản dịch của Phùng Khánh và Phùng Thăng do nhà Lá Bối xuất bản vào khoảng năm 1964-1965 với cái tên rất thơ “ Bắt Trẻ Đồng Xanh”. Bà Joan Littlefield, người rao bán cái bồn cầu đã từng được hân hạnh đỡ cái bàn tọa của nhà văn nổi tiếng này, cho biết cái bàn cầu quý giá này đã được gỡ khi người ta sửa chữa căn nhà mà nhà văn đã trú ngụ. Để chứng thực đây đúng là những cái bàn cầu…danh giá, bà Littlefield quả quyết là bà biết tất cả những người thợ đã lắp đặt chiếc bồn cầu này từ hàng chục năm trước khi nhà văn Salinger vào ở căn nhà đó. Bà cho giá 1 triệu đô!
Lời rao trên eBay nhấn mạnh: “Nó không được chùi rửa và vẫn ở trạng thái nguyên bản. Ai có thể biết được có bao nhiêu tác phẩm đã được thai nghén khi Salinger ngồi trên chiếc bồn cầu này!”. Nhà văn Salinger vừa mất vào tháng giêng năm 2010, thọ 91 tuổi. Đọc xong cái tin quan trọng này, tôi vội điện thoại cho các ông bà bạn văn để xí phần. Thứ nhất, kể từ nay yêu cầu các ông bà không được chùi rửa bàn cầu. Thứ hai, xin cho tôi đặt tiền mua trước để một mai khi quý vị chán đời không muốn sống nữa, cái bàn cầu của quý vị sẽ được tháo gỡ giao cho tôi. Nếu quý vị ký và đóng triện vào cái bàn cầu như ký vào tác phẩm của mình thì quý hóa lắm! Tôi nghĩ cú áp-phe này sẽ mang lại cho tôi bạc tỷ. Chờ cho quý vị tới cửu tuần, tuổi ra đi của ông nhà văn Salinger, chắc cũng không còn bao lâu nữa!
Cái bàn cầu có vai trò gì trong việc sáng tác, tôi nghĩ đây có thể là một đề tài hấp dẫn cho một cuộc hội thảo văn học. Nhiều bạn văn đã tỏ ý muốn tham gia. Riêng tôi, vốn tính giản dị, nên khi ngồi trên bàn cầu thì chỉ làm có một việc, mà việc này khó lòng nối kết với văn học. Tưởng nói khơi khơi như vậy là đúng hóa ra cũng bù trất. Cái thứ không liên quan gì tới văn học nghệ thuật được thả xuống bồn cầu tưởng là…kít hóa ra không kít. Đó là…vàng. Tôi không nói tới màu sắc mà nói tới giá trị. Trong một bài blog, ông Nguyễn Hưng Quốc đã kể lại chuyện của nghệ sĩ người Ý Piero Manzoni. Ông này sinh năm 1933 và mất năm 1963, sống trên đời vỏn vẹn có ba chục năm nhưng đã để lại một gia tài…vàng. Ông Manzoni là họa sĩ, tài vẽ của ông tôi quả tình không biết nhưng đã bị bố ông có lần phê bình: “Mày vẽ như cứt!” (You are an artist of shit!). Đó là vào năm 1961, lúc Manzoni đã 28 tuổi. Từ tháng 5 năm đó, mỗi lần ngồi vào bàn cầu, Manzoni lại hốt kít của mình cho vào một cái hộp, đem đến hãng đóng đồ hộp của ông bố nhờ công nhân khằn kín chiếc hộp lại. Tổng cộng ông đóng được 90 hộp, mỗi hộp nặng đúng 30 gram, đánh số từ 001 đến 090, bên ngoài dán nhãn in bằng bốn thứ tiếng Ý, Anh, Pháp và Đức ghi rõ: “Cứt của Nghệ Sĩ” (Merda d’Artista / Artist’s Shit) . Tôi lại có hai thắc mắc. Thứ nhất, từ năm 1961 đến khi ông Manzoni qua đời vào năm 1963 là hai năm. Trên dưới 700 ngày mà chỉ có 90 hộp, hơi…bón! Không hiểu trong thời gian này việc sáng tác tranh của ông họa sĩ có thong thả không? Thứ hai, kít chứ có phải màu vẽ đâu mà ông họa sĩ này cân đúng y boong mỗi hộp 30 gram được? Chắc cũng như việc sáng tác, phẩm cần hơn lượng, số lượng này chắc cũng văn nghệ có gia giảm chút đỉnh.
Manzoni cho rằng bất cứ thứ gì, kể cả những thứ thông thường trong đời sống, nếu có bàn tay của người nghệ sĩ chạm vào sẽ thành…thánh tích! Trong thư viết cho nghệ sĩ Ben Vautier vào tháng 12 năm 1961, bảy tháng sau khi chế tạo những hộp kít đóng khằn hẳn hoi, Manzoni xác định: “Nếu những người sưu tập (các tác phẩm nghệ thuật) muốn có cái gì thân thiết nhất, thực sự gắn liền với đời tư của người nghệ sĩ, thì đó chính là phân của người nghệ sĩ ấy”. Và ông rao bán những tác phẩm đượm mùi này với cái giá ngang ngửa với giá vàng. Nghĩa là vào thời điểm một nhà sưu tập nào mua…tác phẩm, giá 30 gram vàng bao nhiêu thì giá 30 gram kít nghệ sĩ cũng bấy nhiêu. Thì cũng phải thôi: vàng nào chả là vàng! Tưởng cái ông nghệ sĩ ngông nghênh này múa may cho đã điên thôi, ai ngờ có người mua thiệt. Các nhà nghiên cứu đã tìm được một tờ biên nhận đề ngày 23/8/1962, Manzoni bán cho Alberto Lucia một hộp với giá tương đương với giá 30 gram vàng 18 carat! Ông Alberto Lucia nào đó đã đầu tư đúng cửa. Theo tài liệu sưu tầm được thì vào tháng 11 năm 2005, hộp số 57 bán được với giá 110 ngàn euro. Gần đây, hộp số 18 bán được với giá 124 ngàn euro. Ngày 20/10/2008 một hộp được bán với giá 80 ngàn bảng Anh, ngày 25/11/2008 một hộp được bán với giá 68 ngàn bảng Anh trong các cuộc bán đấu giá tại nước này. Biết bao nhiêu là vàng! Vậy là vàng…nghệ sĩ có giá gấp trăm lần vàng ròng.
Các bạn văn của tôi nghe được tin này đã rất phấn khởi. Từ nay việc sáng tác dễ dàng hẳn ra. Có những vị thuộc loại thông thương dễ dàng còn lo hết số để đánh dấu hộp! Sáng tác như vậy, làm gì cái bàn cầu không ngẩng cao đầu vì công lao góp phần cho văn học của nó. Cái thứ nó thân thương ôm vào lòng đã hiên ngang đi vào văn học. Năm 2008, nhiếp ảnh gia Andres Serrano cho ra đời một loạt 66 tác phẩm tập trung vào một đề tài duy nhất: Shit! Ông cho trưng bày tại phòng triển lãm Yvon Lambert tại Nữu Ước và đã thu hút được nhiều người coi. Tôi sẽ phải mách ông bạn nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân để ông ấy khỏi phải vất vả thức khuya dậy sớm đi chụp hết cảnh mặt trời lên lại tới cảnh mặt trời xuống.
Cái cảnh nghệ sĩ vất vả tạo tác phẩm như vậy xưa rồi. Nghệ thuật tiên tiến bây giờ tiện lợi hơn nhiều. Như cách nhà họa sĩ Marcel Duchamp tạo ra tác phẩm Fountain. Tôi không biết dịch cái tên tác phẩm rất thông thường và dễ dịch này ra làm sao vì nhìn vào hình trên Wikipedia thì đích thị nó là cái bàn cầu. Lần này cái…cầu tự mình đi vào nghệ thuật chẳng cần phải có ông nhà văn Salinger ngồi ở trên. Ông Marcel Duchamp tới Mỹ hai năm trước khi tạo ra tác phẩm Fountain và có liên hệ với trường phái Dada. Trường phái phát sinh ở Nữu Ước này chủ trương chống lại sự hợp lý và cho nghệ thuật là…phi nghệ thuật. Ông Marcel bữa đó đi cùng nghệ sĩ Joseph Stella và nhà sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật Walter Arensberg. Ông mua một cái bàn cầu hiệu Bedfordshire tại tiệm J.L. Mott Iron Works ở số 118 Fifth Avenue, mang về xưởng vẽ của ông ở số 33 West đường 67, đặt nó ở vị trí nghiêng 90 độ so với vị trí thông thường của nó rồi viết lên chữ “R. Mutt 1917”. Vậy là xong một cuộc sáng tạo nghệ thuật. Lúc đó ông Marcel Duchamp là thành viên trong ban quản trị “Hội Các Nghệ Sĩ Độc Lập”. Ông mang tới dự cuộc trưng bày thường niên 1917 của Hội, ký tên R. Mull để không ai biết là tác phẩm này là công trình chớp nhoáng của ông. Thông thường thì tất cả các tác phẩm gửi tới đều được trưng bày. Tuy nhiên, đối với tác phẩm Fountain thì các thành viên trong ban quản trị bàn cãi nhau ỏm tỏi về việc có thể coi đó là một công trình nghệ thuật hay không. Cuối cùng họ không cho trưng bày. Tức khí, hai ông Duchamp và Arensberg đều từ chức sau cuộc triển lãm.
Sau đó, Fountain được mang về trưng bày ở Gallery 291, một phòng trưng bày nhỏ cũng tại Nữu Ước. Chủ nhân của nó, nhiếp ảnh gia Alfred Stieglitz đã chụp hình Fountain tại phòng trưng bày này. Chính tấm hình chụp này là bằng chứng hiện nay cho biết có một tác phẩm như vậy vì sau đó tác phẩm này bị thất lạc. Theo Calvin Tomkins, nhà viết tiểu sử của Marcel Duchamp, thì chính anh chàng nhiếp ảnh gia này đã vứt nó vào thùng rác. Những Fountain được trưng bày tại các bảo tàng viện sau này đều là những bản sao. Bản sao thứ nhất được sự chấp thuận của Marcel Duchamp có vào năm 1950 để trưng bày tại Nữu Ước. Sau đó là các bản sao vào năm 1953 và 1963. Cho tới năm 1964 đã có tất cả tám bản sao!
Con mắt tôi có lẽ không có tí nghệ thuật nào. Nhìn cái bàn cầu nằm ở một vị thế vô dụng trông chẳng ra làm sao cả. Vậy mà thiên hạ tấm tắc khen và bê vào trưng bày tại các bảo tàng viện danh tiếng như Indiana University Art Museum, San Francisco Museum of Modern Art, Philadelphia Museum of Art, Centre Georges Pompidou và Tate Modern. Marcel Duchamp gọi trường phái…bàn cầu của mình là readymades. Tôi tạm dịch theo chữ nghĩa thời thượng là “mì ăn liền”. Cứ vác luôn những cái có sẵn, ký tên vào là thành tác phẩm nghệ thuật dù cái có sẵn là cái bàn cầu. Nhưng các nghệ sĩ có con mắt khác. Họ nhìn thấy nghệ thuật. Họ dạy chúng ta về nghệ thuật như sau: “Ông Mutt có tự làm ra cái bàn cầu hay không chẳng phải là điều quan trọng. Ông đã CHỌN nó. Ông chọn một vật thể bình thường trong cuộc sống, đặt nó theo cách để cái ý nghĩa tiện dụng của nó biến mất dưới một danh hiệu và một cách nhìn mới – tạo ra một ý tưởng mới cho vật thể”. Vậy là cái bàn cầu đã lột xác thành một tác phẩm nghệ thuật! Tôi chưa bao giờ vẽ hay chạm khắc được một tác phẩm nghệ thuật nào nhưng từ nay tôi tin rằng tôi có thể trở nên một nghệ sĩ mì ăn liền một cách dễ dàng!
Ông Nguyễn Hưng Quốc là người rất xục xạo đã lôi ra được những vấn đề văn học độc đáo. Cũng trong một bài viết blog, ông đã phát giác ra là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp rất thích cái thứ chúng ta thường thả vào bồn cầu! Ông viết : “Trong các truyện ngắn, ông (Nguyễn Huy Thiệp) cho chữ (cứt) ấy xuất hiện khá nhiều, một cách trần trụi, hung hãn, đầy bạo động. Nó tuôn ra từ miệng của vua Quang Trung khi quát tháo Ngô Khải: “Ta cho mày ăn cứt, xem có chê lợm không?”. Ngay cả khi Nguyễn Huy Thiệp viết về tình yêu, một thứ tình yêu rất thơ mộng giữa Trương Chi và Mỵ Nương, ông cũng phun chữ “cứt” ra. Không phải một lần mà là nhiều lần. Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh Trương Chi đứng đái: “Trương Chi đứng ở đầu mũi thuyền. Chàng trật quần đái vọt xuống dòng sông. Phía xa kia là chân trời rực hồng ráng đỏ. Nhà nàng ở phía ấy. Sương xuống lạnh. Một nỗi buồn da diết choáng ngợp lòng chàng”. Đái xong, chàng hát. “Tiếng hát vút cao. Đêm xuống. Bóng tối mù mịt”. Hát xong, chàng duỗi thân, ngả người vào lòng thuyền. Chàng nói: “Cứt” Rồi chàng nhớ tới Mỵ Nương, nàng công chúa đẹp tuyệt trần. Nguyễn Huy Thiệp tả: “Giờ đây, gặp Mỵ Nương rồi, chàng hiểu chắc chắn rằng cuộc sống của chàng thật là cứt, là cứt chó, không sao ngửi được. Không chỉ riêng chàng mà cả bầy. Tất cả đều thối hoắc. Cứt!” Cứ thế, từ đâu đến cuối truyện, Trương Chi cứ chửi “Cứt” luôn miệng. Trước khi nhảy xuống sông tự trầm, Trương Chi cũng lại chửi “cứt”: “Hình ảnh Mỵ Nương biến mất đâu rồi, trước mặt chàng là sông nước trắng xóa một màu, trời mây trắng xóa một màu. Trương Chi chèo thuyền ra giữa tim sông. Chàng lại nói: “Cứt!”.
Nhà văn có khác. Cứ như ông trời con! Các ông các bà nhà văn sáng tạo ra nhân vật và có toàn quyền sinh sát với các nhân vật của mình. Tội cho các ngài Quang Trung và Trương Chi trong tay Nguyễn Huy Thiệp. Bắt phong trần phải phong trần / Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Vậy nên Quang Trung và Trương Chi phong trần hết biết, cứ vung ra bừa bãi!
Kít vung tung tóe trên sông thật không phải chỗ. Chỗ của kít là nơi bồn cầu. Mà bồn cầu là bộ mặt văn hóa của một nước. Ông Nguyễn Xuân Quang, một người cả đời chỉ thích đi lòng vòng khắp thế giới đã có một bài viết về cái bộ mặt này qua một bài có cái tựa rất tình: “Những Nhà Vệ Sinh Tôi Đã Đi Qua”: “Đi qua nhiều nhà vệ sinh trên thế giới, tôi nhận ra một điều là nhìn vào phòng vệ sinh công cộng của dân bản xứ của một nước là ta có thể nhìn thấy rất rõ trình độ dân trí của dân tộc đó. Nhìn vào phòng vệ sinh công cộng của dân bản xứ của một nước là ta có thể nhìn thấy rất rõ bộ mặt thật của giới lãnh đạo nước đó. Nhà vệ sinh càng hôi thối bẩn thỉu, đầy ròi bọ thì bộ mặt thật của giới lãnh đạo nước này cũng vậy”. Lại còn thế nữa! Như vậy mỗi lần bụng óc ách là một lần đi thăm…lãnh đạo đất nước. Nếu bộ mặt của lãnh đạo sạch sẽ, mình sẽ kính cẩn vén khéo để không làm tung tóe thiếu lễ độ. Nếu bộ mặt của lãnh đạo nhơ nhuốc bốc mùi, mình sẽ nín thở vung vẩy cho xong để còn mau mau rút lui cho cặp mắt và lỗ mũi được thơ thới hân hoan. Có lẽ vì sợ lộ mặt nên các bậc vua chúa ngày xưa không dùng nhà cầu. Cứ lấy một nước văn minh lâu đời như Pháp thì rõ. Cho tới thế kỷ thứ XVI, trong cung điện Versaille, vua chúa và hoàng thân quốc thích vẫn dùng những cái vại sành nhỏ để giải quyết vấn đề cá nhân nho nhỏ. Bên phía đông, Trung Hoa được coi như văn minh nhất, cũng rứa. Vào thăm Cấm Thành ở Bắc Kinh, nhà cửa san sát, dinh nọ dinh kia nhưng đố bạn tìm được một cái nhà cầu. Tôi không nói tới cái nhà vệ sinh 4 sao nằm ở một góc trong đường vào Cấm Thành. Cái đó người ta mới xây sau này để phục vụ du khách. Không thấy có bảng chỉ lối vào nơi cần thiết này nhưng cần chi bảng. Cứ ngửi mùi là có thể đến một cách dễ dàng mặc dầu nó đã được gắn tới 4 sao như một thứ hạng sang! Vậy thì ngày xưa bộ vua chúa không có những cái lỗ trên người dành cho việc thực hiện một trong những tứ khoái của con người chăng? Tôi không nghĩ ông xanh lại tạo ra một giống khác người để đè đầu nắm cổ những người khác. Làm gì có thứ người không ra người đó! Thực ra thì vua chúa họ cũng giống nhau thôi. Ở bên Pháp họ dùng những vại sành thì ở bên Tàu họ dùng những thùng gỗ có phủ tro trong đó. Mỗi lần len lén làm xong những việc cần thiết, vua chúa và các cung tần mỹ nữ lại phủ thêm một lớp tro lên trên rồi đậy nắp lại. Buổi sáng, khi mở cửa thành, sẽ có những người tới đổ tro vào những thúng rồi gánh ra đổ ở một khoảng đất rộng sau Cấm Thành. Hết triều này qua triều khác, với thời gian, tro càng ngày càng cao lên thành một ngọn đồi nho nhỏ. Người dân gọi ngọn đồi này là Đồi Hương. Cái tên khéo đặt! Dưới thời cộng sản, bà vợ cưng một thời của Mao Trạch Đông, bà Giang Thanh biến ngọn đồi đầy mùi quan liêu này thành một thắng cảnh dùng làm nơi nghỉ ngơi và giải trí mỗi khi bà muốn relax!
Cái thứ mà ông nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cho vung vãi một cách phí của trong truyện của ông lại có thể làm thành được một thắng cảnh. Câu “hợp quần thành sức mạnh” coi bộ lúc nào cũng đúng. Cái thứ tưởng không ra gì đó đang hợp thành một ngọn gió làm nghiêng ngả xã hội Ấn Độ. Tác giả Nguyễn Bình Nam, trong bài “Câu Chuyện Cái Cầu” đã mô tả ngọn gió đó như sau: “Ấn Độ đang trải qua một cuộc “cách mạng cầu tiêu”. Những năm gần đây Ấn Độ phát triển nhanh và người phụ nữ Ấn Độ có một đòi hỏi. Họ đòi hỏi cái cầu tiêu. Thanh niên Ấn muốn lấy vợ cần phải có một cái nhà có phòng vệ sinh tươm tất. Nếu muốn cưới vợ cho con thì bố mẹ phải có nhà có cầu tiêu. Nếu không thì đừng hòng. Người phụ nữ Ấn Độ đã chán cái thời dùng cẩu tiêu công cộng và tắm ngoài sông hay suối. Trước đây 10 năm, khoảng 665 triệu, tức nửa dân số Ấn Độ không có cầu tiêu trong nhà….Tại Ấn Độ có nạn phá thai nữ vì vậy có tình trạng trai thừa gái thiếu khiến cho phong trào đòi hỏi cầu tiêu của phái nữ có thêm sức mạnh. Thanh niên Ấn Độ không còn tự ái hỏi: “Cô ấy muốn lấy mình hay lấy cái cầu tiêu?”. Nếu muốn có vợ tốt hơn là âm thầm sắm cái cầu tiêu.”
Ở nước ta, thời Pháp thuộc, các cô gái đua nhau kén chồng có bằng cấp làm dấy lên phong trào “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Ở Ấn Độ ngày nay, người phụ nữ không đòi hỏi thứ viển vông như vậy. Họ chỉ đòi cái cầu tiêu như thứ sính lễ duy nhất. Việc này cũng đã thành một phong trào, phong trào No Toilet No Bride (Phi xí sở bất thành phu phụ)! Dĩ nhiên nhắc tới chuyện này tôi không có ý so sánh bằng cấp với cái cầu tiêu.
Khỏi phải nói, cái cầu tiêu vênh mặt phải biết. Vênh mặt lên là phải. Đâu phải lúc nào cũng dễ thoát ra được thân phận nằm dưới!
 
Song Thao
10/2010
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1073)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1236)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1137)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1446)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1339)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1503)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1905)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1978)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1795)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1786)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10489)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17317)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16383)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16848)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1502)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1978)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1962)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2744)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1236)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1339)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1795)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1539)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1073)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1446)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1905)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1786)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1137)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3258)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3811)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2356)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14008)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30120)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36243)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13135)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3033)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4349)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4288)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4794)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5372)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8462)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.