- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,421,798

Trần Trọng Dương và những bài thơ cũ

26 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 92094)

buixuanphai
 Tranh Bùi Xuân Phái

NHỮNG CHÚ GÀ CỔ TÍCH (1)



Mây trinh nguyên nằm nghiêng mái phố (2)
Ngói âm dương biêng biếc rêu mùa
Em dậy thì bằng những lần nhung nhớ
Ta hoả mù qua câu nói dây dưa

Em dại lắm tại vì em xa lắm
Thương yêu xưa đã biết phải những gì
Lũ trai lớn bằng mấy lời hò hẹn
Đám gái già qua những chuyến đong đưa

Và thuở ấy chuyện lũ gà cổ tích
Trò ú tim thú vị đến không ngờ
Ai có biết về sau viên ngói vỡ
Mây lỡ thì vẫn sấp ngửa trong thơ.



(1) Câu chuyện cổ tích về những chú gà thời hiện đại đợc lưu truyền trong giới sinh viên. Chuyện rằng: gà trống đuổi theo gà mái. Gà mái vừa chạy vừa nghĩ mình chạy thế có nhanh quá không nhỉ. Gà trống thì nghĩ nếu không đuổi được cũng coi như là tập thể dục. Kết thúc (rất có hậu): chúng còn đuổi nhau đến tận bây giờ.
(2) Phỏng theo một ý hoạ của cố hoạ sỹ Bùi Xuân Phái.



PHỐ CŨ- EM


Nhà phố cũ những hộp diêm xếp kiện
Em thu đông mãi dựa dới hiên nhà
Gác xép nhỏ, tang tang ghi ta rỏ
Cột điện còm dây mắc mớ xuê xoa.

Khu phố cũ một bàn tay rối chỉ
Em thênh thênh mặc cả nốt xuân thì
Ta trốn nợ nhành mộc lan nghén nụ
Hoá ra thành lỗi hẹn với xuân thi

Người bụi bặm hơn cả trang huyền tích
Chuông đổ hồi Trúc viện xoã hoa râm
Em quay tơ thoắt năm thêm u tịch
Buồn xếp li trên ngực áo tứ tuần

Da dâu thẫm từ thuở môi mời tám
Em qua tôi lễnh loãng những phen cười
Cụ tú sót ngồi so ngâm gối hạc (1)
Tôi trở về dan díu với riêng tôi


-----------------
(1). Gối hạc: bài hát nói có 11 câu gọi là Đủ khổ, có trên 11 câu gọi là Dôi khổ. Những bài nhiều câu vừa dôi phách nam vừa dôi phách bắc, cách đặt câu khúc khuỷu lắt léo, gọi là Gối hạc.

 

HÀ NỘI- MƠ


Mơ một ngày đông Hà Nội nắng
Phố vẫn mịt mù khói xăng thơm
Ta e ấp qua nhau mười bảy tuổi
Nghe nôn nao như lá rụng trong vườn

Mơ một ngày xưa lưa thưa sương
Rong rêu nỗi nhớ nẩy xanh tường
Em xinh nhoi nhói như là khát
Ta hoá nõn nà mắt lương bương.

Thôi thì Hà Nội trong ta nhé!
Nhành mi cong lắt léo phố phường
Ta ở lại hanh hao chờ bạt gió
Sẽ là gì khi đã chán phong sương?
1999

 
RÉT TRỘM

Lưỡi bàng đỏ liếm vị kem gió Bắc
Em ưu tư tóc nhuộm môi Hàn
Ta rét trộm làn da em mát
Ủ lòng tay trà nóng khói đang tan.

Trong quán vắng hai người tìm cảm giác
Nhộn nhạo cuối ngày cặn đáy ly
Môi gió mùa rân rân em hát
Đủ se lòng ta có mộng mơ chi.

Ta vẫn biết mộng mơ là lãng phí
Hèn nhát là hạ giá chút tình si
Em trắng buốt màu da Đức Mẹ
Ta đóng băng trên thập- tự- yêu- vì.

Trà lạnh ngắt mười ngón tay khói thuốc
Lá bàng đau tím phập mái rêu
Tường lở vữa trơ tháng năm xếp gạch
Nhiều đông sau Hà Nội vẫn rét đều.
 20/10/2001
Trần Trọng Dương
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1048)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4143)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
22 Tháng Hai 20204:40 CH(Xem: 520)
20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng. Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 569)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 524)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 515)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 501)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 604)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 688)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 553)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /