- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,267,457

Trần Trọng Dương và những bài thơ cũ

26 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 89335)

buixuanphai
 Tranh Bùi Xuân Phái

NHỮNG CHÚ GÀ CỔ TÍCH (1)



Mây trinh nguyên nằm nghiêng mái phố (2)
Ngói âm dương biêng biếc rêu mùa
Em dậy thì bằng những lần nhung nhớ
Ta hoả mù qua câu nói dây dưa

Em dại lắm tại vì em xa lắm
Thương yêu xưa đã biết phải những gì
Lũ trai lớn bằng mấy lời hò hẹn
Đám gái già qua những chuyến đong đưa

Và thuở ấy chuyện lũ gà cổ tích
Trò ú tim thú vị đến không ngờ
Ai có biết về sau viên ngói vỡ
Mây lỡ thì vẫn sấp ngửa trong thơ.



(1) Câu chuyện cổ tích về những chú gà thời hiện đại đợc lưu truyền trong giới sinh viên. Chuyện rằng: gà trống đuổi theo gà mái. Gà mái vừa chạy vừa nghĩ mình chạy thế có nhanh quá không nhỉ. Gà trống thì nghĩ nếu không đuổi được cũng coi như là tập thể dục. Kết thúc (rất có hậu): chúng còn đuổi nhau đến tận bây giờ.
(2) Phỏng theo một ý hoạ của cố hoạ sỹ Bùi Xuân Phái.



PHỐ CŨ- EM


Nhà phố cũ những hộp diêm xếp kiện
Em thu đông mãi dựa dới hiên nhà
Gác xép nhỏ, tang tang ghi ta rỏ
Cột điện còm dây mắc mớ xuê xoa.

Khu phố cũ một bàn tay rối chỉ
Em thênh thênh mặc cả nốt xuân thì
Ta trốn nợ nhành mộc lan nghén nụ
Hoá ra thành lỗi hẹn với xuân thi

Người bụi bặm hơn cả trang huyền tích
Chuông đổ hồi Trúc viện xoã hoa râm
Em quay tơ thoắt năm thêm u tịch
Buồn xếp li trên ngực áo tứ tuần

Da dâu thẫm từ thuở môi mời tám
Em qua tôi lễnh loãng những phen cười
Cụ tú sót ngồi so ngâm gối hạc (1)
Tôi trở về dan díu với riêng tôi


-----------------
(1). Gối hạc: bài hát nói có 11 câu gọi là Đủ khổ, có trên 11 câu gọi là Dôi khổ. Những bài nhiều câu vừa dôi phách nam vừa dôi phách bắc, cách đặt câu khúc khuỷu lắt léo, gọi là Gối hạc.

 

HÀ NỘI- MƠ


Mơ một ngày đông Hà Nội nắng
Phố vẫn mịt mù khói xăng thơm
Ta e ấp qua nhau mười bảy tuổi
Nghe nôn nao như lá rụng trong vườn

Mơ một ngày xưa lưa thưa sương
Rong rêu nỗi nhớ nẩy xanh tường
Em xinh nhoi nhói như là khát
Ta hoá nõn nà mắt lương bương.

Thôi thì Hà Nội trong ta nhé!
Nhành mi cong lắt léo phố phường
Ta ở lại hanh hao chờ bạt gió
Sẽ là gì khi đã chán phong sương?
1999

 
RÉT TRỘM

Lưỡi bàng đỏ liếm vị kem gió Bắc
Em ưu tư tóc nhuộm môi Hàn
Ta rét trộm làn da em mát
Ủ lòng tay trà nóng khói đang tan.

Trong quán vắng hai người tìm cảm giác
Nhộn nhạo cuối ngày cặn đáy ly
Môi gió mùa rân rân em hát
Đủ se lòng ta có mộng mơ chi.

Ta vẫn biết mộng mơ là lãng phí
Hèn nhát là hạ giá chút tình si
Em trắng buốt màu da Đức Mẹ
Ta đóng băng trên thập- tự- yêu- vì.

Trà lạnh ngắt mười ngón tay khói thuốc
Lá bàng đau tím phập mái rêu
Tường lở vữa trơ tháng năm xếp gạch
Nhiều đông sau Hà Nội vẫn rét đều.
 20/10/2001
Trần Trọng Dương
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 1224)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
30 Tháng Mười Một 20187:32 CH(Xem: 3666)
Pétrus Key (sau này trở thành Trương Vĩnh Ký) thường được ca ngợi là một học giả lớn miền Nam. Ông có công quảng bá loại tiếng Việt mới, tức quốc ngữ hiện nay mà các giáo sĩ Portugal và Espania đã sáng chế vào thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Petrus Key cũng đóng một vai trò đáng kể trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Ông là một trong những thông ngôn người Việt đầu tiên hợp tác với Pháp, bên cạnh những giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tiềm phục trong vương quốc Đại Nam từ nhiều thế kỷ.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 182)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
17 Tháng Tư 20197:36 CH(Xem: 220)
Sau năm năm tám tháng trong cái án tám năm tù vì tội giết người Sơn trở về xóm nhỏ của mình. Nhà vẫn còn nhưng rêu phong. Những vài năm không người chăm sóc thì cũ như trái đất là phải rồi. Nó phải như một người tù cải tạo tốt thì nhanh chóng trở lại đời thường vì giảm án. May cho Sơn là tay luật sư đã nêu ra những luận cứ hết sức thuyết phục nên chỉ ngộ chứ không cố sát. Anh ta còn khuyên Sơn làm đơn xin kháng cáo. Hy vọng khi phúc thẩm có thể giảm được chút đĩnh nào đó chăng? Nhưng Sơn không. Suốt buổi xử Sơn thừa nhận bằng một thái độ hơn cả hối hận. Cứ như anh ta muốn toà tuyên cho mình cái án tử cho rồi.
11 Tháng Tư 201910:13 CH(Xem: 724)
hoa nở dồn trên sóng \ sóng đập vào thời gian \ tự cái vuông ô cửa \ chợt thấy mình mong manh.
11 Tháng Tư 20199:19 CH(Xem: 509)
Đi từ câu mẹ ru nôi / Em qua trăm nẻo đường đời nắng mưa / Lâu rồi em đã về chưa / Dòng sông vẫn giữ ngày xưa em hiền /
11 Tháng Tư 20198:38 CH(Xem: 669)
Thật ra thì Hiên chưa bao giờ là con nhang đệ tử cửa Phật. Nhưng Hiên rất chăm đi chùa. Mà chả cứ chùa, nghe chỗ nào có đền thờ miếu mạo linh thiêng là mang lễ vật đến. Đến chỗ nào Hiên chỉ cầu xin có một thứ, ấy là tiền.
08 Tháng Tư 201910:51 CH(Xem: 630)
Chiều tiễn anh như chiều tiễn nắng / Nắng vẫn chờ sau liếp hoàng hôn / Sông không chảy để lòng lưu bóng nắng / Và nỗi đau cũng đã hoá tâm hồn
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 476)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
08 Tháng Tư 20199:11 CH(Xem: 658)
"...một người bạn thân thiết nhất, gần như “con chấy cắn đôi”, đã rạn nứt khó có cơ hàn gắn; lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế - chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những chùa và biệt phủ ở một tỉnh miền núi vẫn phải xin Trung ương cấp gạo cứu đói..."