- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,501,186

Marie Ndiaye, Ba Thục Nữ Giàu Nghị Lực

05 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 9512)
ndiaye-m-final_0_300x221_1

Giải Goncourt 2009:

Đúng như giới phê bình và độc giả mê văn học dự đoán, trưa ngày 2 tháng 11/2009 này viện Hàn lâm Goncourt đã chánh thức công bố giải thưởng hằng năm của mình cho nhà văn nữ Marie NDiaye, tác giả cuốn Trois Femmes Puissantes (Ba thục nữ giàu nghị lực - Nxb Gallimard). Ngay vòng đầu: năm phiếu cho Marie NDiaye, hai cho Jean-Philippe Toussaint, tác giả cuốn La Vérité sur Marie (Sự thật về cô nàng MarieNxb de Minuit) và một cho Delphine de Vigan, tác giả cuốn Les Heures Souterraines (Giờ khắc trong bóng tốiNxb Jean-Claude Lattès).

 Đây là lần thứ 10 trong số 106 lần tặng giải (nói cách khác: chưa đầy một phần mười), viện Hàn lâm Goncourt tôn vinh một nhà văn nữ. Tỉ lệ thấp kém này thật tình không phản ảnh đúng mức thực tế nhận thấy trong môi tường văn học Pháp đương đại: phái nữ chiếm đa số trong giới làm văn và người đọc. Có một sự thiên vị nào chăng về giới tánh trong các ban chấm giải từ hơn một thế kỉ nay?

Văn chương chữ nghĩa 

 Từ hai mươi lăm năm nay, Marie Ndiaye đã cống hiến cho độc giả chúng ta hơn mười cuốn truyện – không kể kịch bản và sách dành cho thanh thiếu niên. Tiều thuyết có, truyện ngắn truyện vừa (Pháp gọi là nouvelles) có, thảy đều nửa thực nửa ảo. Thuật nhiều câu chuyện đắm mình trong bầu khí kinh dị, mập mờ, huyễn hoặc, lạ kì. Bút pháp, văn phong khi thì bóng gió mỉa mai khi thì băn khoăn khắc khoải, hiện thực và huyền ảo không ngừng đan cài vào nhau. Khiến cho chúng tôi, chúng ta không khỏi nghĩ tới các truyện ngắn của Ngô Tự Lập, đặc biệt trong tập Mộng du và các truyện khác (Nxb Văn học – 1997).

 Sanh năm 1967 ở thủ phủ Pithiviers thuộc tỉnh Loiret, cách thủ đô Paris độ chừng 100 km. Cha gốc Xênêgal châu Phi - về nước bặt tin ; mẹ người Pháp - là nhà giáo, một mình gà mái nuôi con, hai đứa. Cả hai nay đều thành danh ý toại - Pap NDiaye, con cả, là nhà sử học chuyên trách vấn đề da màu, còn con em Marie NDiaye thì vào tuổi 12 đà ngọ nguậy viết lách. Năm năm sau, cô học trò vị thành niên gởi qua bưu điện bản thảo đầu tay của mình cho nhà xuất bản de Minuit, được ông giám đốc Jérôme Lindon (1926-2001) chú ý, thích thú đọc qua.

 Người ta kể rằng chính ông đã đích thân lái xe đến tận trung học Lakanal nơi cô đang mài đũng quần, kí hợp đồng với tác giả mới lên 17 này, rồi in ấn phát hành ngay liền tác phẩm đẩu tay Quant au riche avenir (Còn như tương lai xán lạn – 1985) của cô. Cuốn truyện được giới phê bình đón chào nồng nhiệt, hệt như, hơn ba mươi năm trưóc, họ đã hoan nghinh nhiệt tình cuốn truyện đầu tay Bonjour tristesse (Buồn thay thế sự - 1954) của Françoise Sagan (1935-2004) cũng mới vừa tròn 17 (1). Ngay sau đó, tác giả nhận được một bức thư khen ngợi của một độc giả chưa quen biết, nhưng sắp trở thành nhà văn là ông Jean-Yves Cendrey. Họ tâm đồng ý hợp với nhau, rồi thành vợ thành chồng. Cơ hội thúc đẩy Marie NDiaye quyết tâm dành trọn thởi gian cho nghiệp dĩ văn chương.

 Chỉ trong vòng hai mươi lăm năm, rìêng về số lượng, bà đã cho ra mắt độc giả và khán giả đếm có 12 cuốn truyện, 6 kịch bản, 3 tác phảm dành cho thanh thiếu niên. Còn về chất lượng, thì bà đã nhanh chóng trở thành một trong số rất ít nhà văn tầm cỡ, độc đáo, khác thường cùng thế hệ với mình. Độc giả đã ngưỡng mộ, ham chuộng kiệt tác Rosie Carpe (Rosie Carpe – Nxb de Minuit), giải Fémina 2001. Năm 2003, với vở Papa doit manger (Ba cần phải ăn uống), bà là kịch tác gia còn sống duy nhứt được Nhà hát quốc gia (Comédie Française) ghi vào tiết mục trình diễn của mình. Riêng cuốn La Diablesse et son Enfant (Con quỉ cái với đứa con mình) xuất bản năm 2000, thì được độc giả trẻ đọc ngốn nghiến, thích thú vô ngần.

Tác phẩm trúng giải

 Ba thục nữ giàu nghị lực, Trois Femmes Puissantes. Một nhan đề thoạt nhìn tưởng chừng là câu chuyện ba người đàn bà mạnh dạn, khỏe khoắn, xương cốt cứng cỏi. Nhưng không, ba nhơn vật Norah, Fanta, Khady thảy đều diễn hành trong những tình thế chẳng hay ho gì. Nhục nhã, sượng sùng, hổ thẹn, đắng cay, thù hận, giận dữ, đau xót… Cả ba thảy đều trải qua trạng huống đọa đày, tội tổ tông như đã nhúng chàm khó bề xóa sạch vượt khỏi.

 * Norah, một luật sư vào độ tứ tuần, rời Paris, bỏ lại gia đình, đồng nghiệp và công ăn việc làm, sang châu Phi thăm cha. Cuộc tái ngộ sau bao nhiêu năm trời xa cách giữa người cha và đứa con lần hồi diễn ra trong cảnh đau lòng, khi đứa con nhận thấy tánh tình bẩm sanh gian dối, vị kỉ, trí trá và cả tội tình của người cha. Thử thách đả phá lứa đôi, quan hệ con cái, kí ức, lí trí – tóm lại là cả cuộc đời của mình. Còn * Fanta thì, ngược lại, rời xứ sở Xênêgal theo chồng qua Pháp. Thế là nàng ủ rũ buồn rượi và lụi tàn, heo hắt ở tỉnh lẻ và trong cuộc sống tầm thường, eo hẹp, tẻ nhạt. Cô đâu có biết chánh xác nguyên cớ bắt Rudy, chồng mình, phải rời khỏi Xênêgal và buộc phải trở về Pháp. Rudy đâu có nói cho cô hay rằng hắn « đã đánh mất hết trơn danh dự Xênêgal từ lâu rồi. » * Và Khady, người gốc da màu, còn trẻ nhưng đã góa chồng. Bị gia đình nhà chồng ruồng rẫy, xua đuổi, buộc phải xa xứ vì nghèo đói, cô độc, tuyệt vọng. Quá giang với một nhóm người khác trong cuộc hành trình trốn chạy vô cùng tận, để rồi biệt vô âm tín. Lòng tham, bạo lực, phản bội là những thực thể mà kẻ lén lút băng qua biên giới đương nhiên phải gánh chịu.

 Cuốn truyện mang tựa đề là Ba thục nữ giàu nghị lực, nhưng trong câu chuyện, cả ba nhơn vật đều ngụp mình trong tình cảnh sa cơ lỡ vận, yếu đuối, mỏng manh, bị đè nén, áp bức hơn là tự lập, tự chủ, tự do vùng vẫy. Vậy thì đâu là nghị lực còn lại cho họ? Câu hỏi được chính tác giả giải đáp trong cuộc họp báo sau buổi lễ trao giải như sau: « Trong thâm tâm, tôi cho rằng, bất chấp đủ thứ trở ngại gặp phải trên trường đời, họ thảy đều có một nghị lực vững chắc và bền bỉ trong mình. Ngay cả con người xem chừng yếu ớt nhứt, bị bủa vây bởi vô vàn trở ngại khủng khiếp và tủi nhục, cũng không phẩn chí nản lòng, chỉ vì y thị là con người. Họ thảy đều có một cốt lõi kiên cố, bất diệt, biến họ thành kẻ có nghị lực, dẫu rằng, về mặt xã hội hay nghề nghiệp, họ chẳng có trong tay chút quyền lực nào. » Nói cách khác, những thua thiệt, thất bại, mất mát… mà các nhơn vật Norah, Fanta và Khady trải nghiệm phản ảnh bề trái và, đồng thời, chiếu rọi cho chúng ta trông thấy bề mặt của cuộc đời ẩn núp đằng sau tấm màn dầy đặc trường cửu. Hệt như nhà văn Pháp giải Nobel 1957 Albert Camus (1913-1960) đã giãi bày trong tác phẩm đầu tay L’Envers et l’Endroit (Bề trái và bề mặt – 1937). (2)

Phối hợp

 Ba thục nữ, ba câu chuyện riêng tư lồng vào nhau, hợp thành một cuốn tiểu thuyết. Cũng trong buổi họp báo nói trên, Marie NDiaye giải thích thêm: « Tôi tạo dựng tác phẩm này như một phối hợp nhạc điệu, nối kết qua một chủ đề chung. Chủ đề này là nội lực của ba nhơn vật. Norah, Fanta, Khady gắn liền với nhau nhờ ở khả năng của họ cùng chung một lòng kháng cự để sống còn. » Và phối hợp này được chuyên chở bằng một bút pháp trong như lọc và với một văn phong thanh tao trang nhã.

 Ít có giải thưởng nào xứng đáng hơn.

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 02/11/2009)

--------------------------

(1) Xem cùng tác giả: Phỏng vấn: Françoise Sagan dưới mắt chính mình (Trần Thiện-Đạo, Cửa sổ văn chương thế giới – Nxb Văn hóa Thông tin, 2003, tr 195-213) và Vĩnh biệt Françoise Sagan (E-van, ngày 28/9/2004).

(2) Xem: Albert Camus, Bề trái và bề mặt (Trần Thiện-Đạo phiên dịch, giới thiệu và chú giải – Nxb Giao Điểm, Sài gòn 1967), hoặc Albert Camus, Tiểu luận – Giao cảm - Bề trái và bề mặt Nxb Văn hóa Thông tin, Hà nội 2004).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Chín 20209:38 CH(Xem: 753)
Trong những ngày đang phải cố thủ tại gia một cách tuyệt vọng trước “kẻ thù vô hình” Corona virus giăng mắc, phong tỏa nơi nơi, “Mặt Trận Ở Sài Gòn” là một nguồn quên lãng lớn cơn đại dịch này. Trước hiện tại đang thêm phần đen tối không chỉ vì đại dịch Cô-Vy và nạn suy thoái/ lạm phát mà chủ yếu vì một chính tình thối nát, có khi người ta phải đi vay mượn một vài tia sáng từ quá khứ để có thể ngày qua ngày. Những câu chuyện cách đây cả 50 năm ở một nơi nay quá xa xôi bỗng dưng sống lại một cách da diết trong trí nhớ, trong con tim của mỗi chúng ta khi có “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đặt đầu bàn ngủ (không phải gối đầu giường).
29 Tháng Tám 20202:15 CH(Xem: 1076)
Mặt trận ở Sài Gòn là một tuyển tập 12 truyện ngắn của Nhà văn Ngô Thế Vinh viết về kí ức thời chiến tranh vào thập niên 1970s, chủ yếu ở vùng núi rừng Tây Nguyên. Tuy có nhiều chứng nhân trong cuộc chiến, nhưng tác giả là một chứng nhân hiếm hoi ghi lại một giai đoạn chiến sự khốc liệt qua các câu chuyện được hư cấu hoá. Điểm đặc biệt của tập truyện ngắn này là có phiên bản tiếng Anh do một học giả ẩn danh dịch, có lẽ muốn chuyển tải đến độc giả nước ngoài về cái nhìn và suy tư của người lính phía VNCH.
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1986)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
07 Tháng Mười Một 20198:36 CH(Xem: 4168)
Trong thời niên thiếu, anh cũng như một số bạn đều mê đọc tiểu thuyết, đọc thơ của các văn thi sĩ tiền chiến. Trong các nhóm nhà văn đó thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã ảnh hưởng đến anh nhiều nhất. Văn của họ nhẹ nhàng, trong sáng, với những truyện tình lãng mạn lồng trong khung cảnh quê hương đơn sơ và lúc nào cũng man mác tình yêu. Truyện của họ, không lúc nào thiếu trong tủ sách gia đình của anh. Trong nhóm đó, Nhất Linh được anh coi như một mẫu người lý tưởng, một nhà văn, một chiến sĩ cách mạng. Nhiều nhân vật trong truyện đã in sâu vào ký ức anh. Họ không những đã trở thành một phần đời sống của anh mà đôi khi lại là những giấc mộng không thành. Trong những năm cuối cuộc đời, ông xa lánh cảnh trần tục, như một tiên ông quy ẩn bên dòng suối Đa Mê của rừng lan Đà Lạt.
09 Tháng Bảy 201911:36 CH(Xem: 3921)
Đọc xong cuốn sách về một con người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ khi còn đương xuân, đương ở những năm tháng tiềm năng nhất về sức lực và trí lực, tự tôi dằn lòng nở một nụ cười lớn hạnh phúc cho riêng tôi.
04 Tháng Năm 201911:02 CH(Xem: 3947)
Bác Sĩ Ngô Thế Vinh chia xẻ với tôi một cuốn sách anh và các bạn anh đang soạn thảo. Cuốn sách về một cuộc đời rất ngắn của người bạn đồng nghiệp: Nghiêm Sỹ Tuấn, một Bác Sĩ Quân Y, một Thi Văn Sĩ , tử trận ở tuổi 31 tại Khe Sanh năm 1968 khi anh đang là Y Sĩ Trung Úy Tiểu Đoàn 6, Nhảy Dù.
07 Tháng Chín 20183:06 CH(Xem: 9468)
Đó là những bài thơ hiếm gặp trên đời này. Đó là thơ Lý Thừa Nghiệp. Đó là những dòng chữ làm chúng ta giựt mình ngay tức khắc. Như dường chữ nhảy ra khỏi trang giấy. Nhiều bài thơ của anh có sức mạnh làm tôi sững sờ, ngồi yên lặng lẽ, và dõi mắt nhìn cho tới dòng cuối bài thơ.
22 Tháng Tám 20155:48 CH(Xem: 13749)
Sau hai tập thơ đã ấn hành (Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ, NXB Văn Mới, Califorina, 2009 - Những Giấc Mơ Tôi, NXB Văn Mới, California, 2013), cuối tháng 7.2015 vừa qua, nhà thơ Lữ Quỳnh đã ấn hành tiếp tập thơ thứ 3, "Mây Trong Những Giấc Mơ", với một tâm thức nhẹ nhàng, thanh thoát như Mây và một cảm xúc sâu lắng, nhưng rất an nhiên tự tại...
03 Tháng Mười Một 20142:39 SA(Xem: 14523)
“Đọc thơ Du Nguyên có cảm giác cô ấy góa chồng ngay giữa tuổi trẻ của mình” - đó là nhận định của nhà thơ Bình Nguyên Trang, khi đọcKhúc lêu hêu mùa Hè…
18 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 16093)
Mở đầu cuốn Những cuộc đời song hành , Plutarque viết: “Sossius Sénécion ạ, khi miêu tả Trái đất, các sử gia đẩy ra sát mép bản đồ của họ những vùng đất mà họ không biết và chú ở bên cạnh: “vượt qua ranh giới này chỉ còn là sa mạc hoang vu và thú hoang nguy hiểm” hay “đầm lầy u tối” [1,75]. Hẳn rằng, nếu như không có sự ảnh hưởng trực tiếp, thì Trần Đức Tĩnh đã viết Đối cực (Nxb Trẻ, 2014) cũng với một cảm hứng gần như tương đồng với Plutarque trên góc độ quan niệm có những thế giới song hành, khác biệt nhưng lại tương tác nhân quả lẫn nhau.