- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Thơ Rumi

26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 34026)

Khi xảy ra sự kiện ngày 11 tháng 9 ở Mĩ, tôi đang ngồi viết hồ sơ ở một góc phòng của khoa cấp cứu, Richmond hospital. Trên bàn làm việc của tôi ngoài các sách chuyên môn có một cuốn thơ của Rumi, bằng tiếng Anh. Tôi biết đến Rumi nhờ Coleman Barks, người dành trọn nửa cuộc đời mình để tìm hiểu nhà thơ lớn lao và bí ẩn này. Độc giả Mĩ cũng chỉ mới biết đến ông một cách rộng rãi vài năm trước đó, nhờ sự giới thiệu của Robert Bly. Chính nhà thơ Mĩ lừng danh R.Bly đã dẫn Coleman Barks đến trước đống bụi thời gian mù mịt phủ kín trang thơ .

Rumi sinh ngày 30 tháng 9 năm 1204 ở một xứ sở mà nay là quốc gia A Phú Hãn đầy chiến tranh, trong một gia đình trung lưu, có người cha là một nhà thần học nổi tiếng. Xứ sở ông hồi đó là một trong những trung tâm nghiên cứu lớn về đạo Hồi. Năm 1220, người Mông Cổ xâm lăng A Phú Hãn từ phương Bắc, thiêu hủy tất cả các thành quách và nền văn minh giàu có này. Rất may, gia đình Rumi đã rời quê trước đó vài năm, trên đường hành hương về đất thánh Mecca. Năm 1125, họ đến vùng Rum và định cư ở đó. Tên của Rumi có nghĩa là " kẻ đến từ Rum".

Năm 1244, khi Rumi đã nổi tiếng khắp nơi vì học vấn lỗi lạc của ông, một sự kiện đặc biệt xuất hiện. Một hôm, đang cưỡi lừa đi trên đường, ông bị chặn lại bởi một kẻ lạ mặt. Kẻ này đưa ra lời thách đố với những câu hỏi khó khăn. Cuộc trao đổi của Rumi và hắn kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày, và như được Rumi kể lại về sau "Không ăn, không ngủ, không đếm xỉa gì đến những nhu cầu của con người". Trong giây phút lịch sử, hai thiên tài nhận ra nhau. Sau nhiều tháng làm đôi bạn tri kỷ, Shams, kẻ lạ mặt trong buổi hội ngộ đường làng nói trên, biến mất. Lòng đầy thương nhớ, Rumi nhận ra nguồn cảm hứng bất tận từ người bạn mới quen. Ông bắt đầu làm thơ và hát chúng lên giữa các bạn bè, đệ tử.

Thơ Rumi là tiếng hát của một tâm hồn lãng mạn.

Anh muốn tới nơi

Đôi chân trần em bước

Bởi vì trước mỗi bước chân

Có thể là: em đã nhìn xuống đất

 

Nhưng ông cũng nói nhiều đến nỗi đau của tình yêu.

Nỗi đau đến từ cảm giác thấy em kiêu hãnh, và nó mang em ra khỏi sự kiêu hành này

Đứa trẻ không thể nào được sinh ra ngoài cơn đau người mẹ

Lời của các bận tiên tri và các thánh là bà đỡ, nhưng em cần biết đau

Để trở thành một điều gì

Ông cũng dạy người khác cách chấp nhận sự thật và lòng bao dung

Chúng ta là bạn với những kẻ giết chúng ta

Kẻ cho chúng ta thấy được sống của biển khơi. Chúng ta

Yêu mến cái chết này. Chỉ có sự vô minh là nói

"Gác lại chuyện này đi, cho đến ngày hôm sau nữa

Đừng tránh lưỡi dao. Người bạn này

Có vẻ hung dữ, sẽ mang tâm hồn bạn

Đến những chân trời khác, mang con ác điểu của bạn

Lên đỉnh cao gió hú. Chúa Jesus lên thập giá

 

Thơ Rumi ngạt ngào sự tương thông giữa người và người, như tiếng thổi rì rào của gió trên thảo nguyên bao la

Điều gì được nói với một cánh hồng khiến nó mở ra, đã được

Nói thì thầm với tôi trong ngực

Điều gì đã được nói với cây thường xuân xanh biếc, làm cho

Nó trở thành dũng mãnh, đứng thẳng lên, đã được

Thì thầm kể lại với bụi hoa lài khiến cho hoa lài trở nên chính nó, điều gì

Làm cho cây mía ngọt ngào, điều gì

Đã được nói với cư dân của thị trấn Chigil ở Turkestan khiến họ

Trở nên đẹp đẽ, điều gì làm cho hoa lựu đỏ nở như một

Khuôn mặt người, giờ đây

Đang được nói với tôi. Tôi đỏ mặt lên. Điều gì làm cho ngôn ngữ tôi

Trở thành lưu loát, chính là điều này đây

Cửa của nhà kho lớn lao đang mở, lòng đầy biết ơn,

Tôi nhai một khúc mía đường

Lòng đầy tình yêu với kẻ mà mọi điều khác thuộc về.

 

Rumi nói nhiều đến sự đổi thay, sự cần thiết của đổi thay, và niềm đau bạn đành chấp nhận đã được lột vỏ mỗi ngày.

Ngày hôm qua trong một buổi họp tôi đã thấy

Tâm hồn tôi trong một chiếc lọ của một kẻ nào

Đang tìm cách đổ đầy

Mỗi người chọn cho mình một nỗi đau, điều sẽ

Thay đổi anh ta thành một chiếc bánh mì nướng

chín thơm lừng

 

Tình yêu thương đồng loại bàng bạc trong thơ của Rumi. Tâm hồn ông thật dịu dàng. Thơ Rumi là lời kêu gọi không khi nào cũ, mãi mãi trẻ trung giữa một thế giới đầy bạo lực.

Hãy nhìn một đứa trẻ một tuổi

Sự giận dữ bắt đầu khi bạn quá tự hào

Về mình. Hãy làm ta nhỏ lại. Hãy dùng

Sự coi thường của người khác, và tự nhìn lại mình, để thay đổi, giống như

Đám mây trong chuyện cổ dân gian biến thành

Con rắn… đôi khi mùi vị ngọt ngào làm bạn

Trở nên chua chát và tệ bạc.

Giữa một thế giới đầy nhiễu nhương loạn lạc, lắng nghe Rumi, ta như nghe được lời cảnh tỉnh của ông từ 800 năm trước.

Một đặc điểm của thơ Rumi là ông ít nói về cái tôi của mình. Tuy là thơ trữ tình, đây là một loại trữ tình phi cá tính. Chúng ta không biết nhiều về ông như một con người trong đời sống bình thường. Những câu thơ tha thiết và bay bổng của Rumi có sức mạnh nối kết những cá thể riêng biệt, làm cho con người trở nên gần gũi nhau, làm cho chúng ta hoà tan vào đất trời. Đọc thơ ông, ta thay đổi khi nào không biết, tâm hồn trở nên trong suốt như dòng suối róc rách chảy qua giữa những viên sỏi trắng, rũ bỏ và thanh sạch. Mặc dù ý tưởng về Thượng đế rất mạnh mẽ ở Rumi, ông không phải là một nhà truyền đạo theo nghĩa thông thường. Khác với những người cùng thời, thơ ông cũng không nhắc nhiều đến Thượng đế. Nếu có, Ngài hiện lên như một người bạn tâm tình.

Ông nói: "Tinh thần hòa lẫn với thế giới hiện thực mà kẻ mang cho, quà tặng và người nhận là một". Rumi kêu gọi tình thân ái, giống như tình bạn

Hãy ở lại bên nhau, các bạn

Đừng chia lìa, đừng ngủ

Tình bạn được tạo ra

Bằng sự tỉnh thức

Bánh xe đạp nước nhận nước rồi

sẽ trả lại. Và cho đi.

 

Rumi nhắc đi nhắc lại về sự sầu muộn và nỗi thống khổ của loài người. Chỉ có một tình yêu vững bền không điều kiện là cách duy nhất để chữa chạy . Nhưng hơn thế nữa, ông đòi hỏi ở chúng ta sự chấp nhận, thong thả, thanh thản, vững chãi, nhưng không cay đắng đối với bất công của số phận, sự đày ải, nỗi đau thể chất và tinh thần. Nuốt lấy nỗi đau, có phần hùng tráng, đi xuyên qua nó, tiêu hoá nó, như bóng tối, như trái cây chín tới, chuyển hoá chúng thành một phần của đời sống chúng ta

Sự buồn đau khủng khiếp

Của kiếp người. Hãy uống

Tất cả chúng đi. Nhưng một cách khác

 

Rumi cũng nói về cái chết. Ông kêu gọi chúng ta can đảm và chuẩn bị sự chờ đợi nó bằng thái độ của mình đối với sự khổ đau. Có thể nói mà không đến nỗi quá sai rằng con người chuẩn bị cho cái chết bằng cách trưởng thành khi học cách đối phó với đau khổ thường hằng.

Tôi nhìn thấy nỗi sầu uống một cốc rượu buồn

và tôi kêu lớn: Rượu ngon quá, phải không nào?

ngươi bắt được ta rồi, nỗi sầu trả lời, và

ngươi làm hỏng hết chuyện của ta. Làm sao ta còn

đi rao bán được cái buồn nữa đây?

 

Thơ Rumi có tính thần kỳ, huyền ảo, nhưng không bí hiểm, lại hết sức dễ hiểu, đi thẳng vào lòng người. Từ ngữ mà ông dùng, khi dịch sang tiếng Anh, nhất là dưới bàn tay trác tuyệt của Robert Bly và Coleman Barks, rất dung dị mà vẫn bay bổng, tài hoa. Thơ Rumi kêu gọi sự trở lại với im lặng, vì im lặng cho phép chúng ta cảm nhận được, ngửi được, nếm được mùi vị của sự hiện hữu, như một đóa hồng lặng lẽ tỏa hương trong đêm tối.

Những cuộc trò chuyện bất tận nổi tiếng của Rumi với người bạn tri kỉ của ông, Shams Tabriz, có lẽ đã xảy ra thông qua những khoảng im lặng ngân dài. Ai biết được họ đã nói gì với nhau qua thứ ngôn ngữ vô âm ấy. Mặc dù thắm đẫm tinh thần Hồi giáo, Rumi thường hiện lên trong thơ ông, ít nhất là đối với tôi, như một thiền sư của vùng Trung Cận Đông, một hành giả thiền thực sự. Qua thơ Rumi, giọng nói thánh thót của ông, và sự im lặng của ông, nhân loại ngày nay, nhất là ở phương Tây và miền Đông Á, vốn xa cách về địa lý và lịch sử, cảm thấy gần gũi hơn với với những dân tộc có một nền văn hóa lớn lao, khắc nghiệt, và quá khác biệt.

Những xung đột ngày nay giữa thế giới Kitô và thế giới Hồi giáo, cuộc chiến tranh của Hoa Kì trên chính đất nước A Phú Hãn của ông, và hiện nay là Iraq, vùng Vịnh, cuộc xung đột bất tận giữa Do Thái và Palestine, hay Lebanon hiện nay, đầy máu lửa… không dập tắt tiếng thơ của Rumi, trái lại, kêu gọi chúng ta đọc ông nhiều hơn nữa, uống chén rượu tâm hồn ngạt ngào mà ông mời vẫn còn thơm, lên tiếng nhiều hơn cho hòa bình và sự cảm thông giữa cácgiống người, và cũng tập im lặng nhiều hơn nữa, một sự im lặng đầy tỉnh thức của kẻ lữ hành trên đường về cố xứ.

Thời gian để gác bỏ ngoài tai những lời khuyên

Thông thái, để mở những nút thắt mà

Văn hoá của chúng ta buộc lại. Cắt chúng đi

Nhét bông vào lỗ tai. Trở về với bãi lau nương sậy

Để cho mía mọc lên trong tâm hồn bạn. Không cần có

Luật lệ nào, hay bổn phận thường ngày. Chúng không

Mang lại sự an bình im lặng

 

Rumi mất trong một buổi hoàng hôn năm 1273. Tương truyền rất nhiều người, thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, đã đến dự tang lễ của ông. Ở xứ sở của mình, nhiều năm , nhiều thế kỉ sau, ông vẫn còn được gọi là Mevlana, nghĩa là Bậc Thầy.

Có lẽ trên đường trở về chốn vĩnh hằng, ông lại gặp Shams, người bạn tri kỉ ngày xưa chăng? Hãy nghe ông kể lại mẩu đối thoại tượng trưng, trong một bài thơ ngắn:

…ngày kia đến hỏi Shams: Anh làm gì ở đây?

Trả lời: Có gì ở đó đâu mà làm?

 

Mỗi năm vào ngày 17 tháng 12, ngày mất của Rumi, nhiều nơi trên thế giới tổ chức tưởng niệm. Ngôi mộ của ông ở xứ Konya được nhiều du khách đến viếng mỗi ngày. Ở đó, giữa sự an tĩnh của cây xanh im lặng ngàn đời, những lời nhắc nhở về tình yêu, về sự hoà hợp của ông vẫn dịu dàng vang lên như vừa mới hôm qua.

Không còn là kẻ xa lạ, bạn lắng nghe

Suốt ngày tiếng gọi yêu thương

Như con ong, bạn trở về nhà

Mang theo mật của mình, dù cố quận vẫn còn xa.

 

NGUYỄN ĐỨC TÙNG

 

Chú thích : tài liệu chính dựa trên cuốn The Soul of Rumi, Coleman Barks, nhà xuất bản Harper Collins, USA, 2001, và một số bài viết của Robert Bly.

Ý kiến bạn đọc
09 Tháng Sáu 20169:59 SA
Khách
Neu cac anh chi post luon ca nguyen ban tieng Anh, bai viet se co gia tri hon. Chan thanh cam ta.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 20238:59 CH(Xem: 36217)
Sau gần một năm, chính xác là 11 tháng và 15 ngày, chữa trị ung thư mắt tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas, nay tôi đã về nhà yên bình và niềm vui trong lòng dâng cao mãi. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi nhận ra mình thực sự sống sót, thoát chết, trở về trong “chiến thắng vinh quang”, sau cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác. Căn bệnh ấy quái ác thật, nguy hiểm thật, chỉ nghe tên cũng rùng mình run sợ. Điều trị khỏi bệnh ung thư đối với riêng tôi, là một dấu ấn hằn sâu trong tâm não. Đã có biết bao người bỏ cuộc giữa đường. Tôi thì không! Một chiến sĩ trên đường ra mặt trận, được trang bị tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lẽ nào tôi không có chiến công mang về. Trung tâm ung thư nằm ở tầng lầu 14 của bệnh viện, đã gợi ý tôi, tưởng tượng rằng mình đã xuống tới tầng địa ngục thứ 14, và không ngại ngùng, ghi lại những cảm xúc chân thực và niềm vui sướng tuyệt vời trong bài hồi ức “Trở về từ tầng…14”.
04 Tháng Chín 20238:52 CH(Xem: 31257)
Mùa thu này, nhà thơ Hoàng Hưng và phu nhân trở lại thăm Thủ đô. Ông có gọi tôi cùng tới studio riêng của họa sĩ Trần Lương. Giữa cơn hứng trò chuyện với họa sĩ, ông tìm đến “quốc hồn quốc túy” qua sợi thuốc lào Vĩnh Bảo, và tôi đã chộp được một hình ảnh của ông để rồi chợt thấm một nỗi buồn…
05 Tháng Tám 20239:50 CH(Xem: 31881)
“Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà hoàng” - đó là một câu trong bộ tiểu thuyết sử thi “Con đường đau khổ” của nhà văn Nga A. Tolstoy mà bố từng lấy làm đề từ cho bài cảm ngôn “Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi” từ những năm bố còn là một chàng trai mơ mộng lang thang trên những nẻo rừng Tây Bắc. Vài chục năm sau, vào lúc con đọc những dòng này của bố, khi con chuẩn bị bước vào năm thứ hai đại học, cũng là lúc cả xã hội ta đang trong một cơn xáo động kinh hoàng với bao giá trị đảo lộn quay cuồng khiến những cô cậu sinh viên quen sống trong vòng tay gia đình che chở như con phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ…
09 Tháng Sáu 20234:29 CH(Xem: 34888)
Con gái tôi thích ăn canh ổ qua xắt mỏng nấu với tôm, khi chín bỏ chút hành ngò rắc chút tiêu, món ăn ngày xưa của mẹ con tôi hay nấu nhưng bây giờ tôi lại hay nấu canh rau mồng tơi với tôm vì bọn trẻ con thích món này hơn chúng chê canh ổ qua đắng. Ngày xưa, mỗi lần cúng giỗ nhà tôi hay nấu canh ổ qua nhồi thịt, món này ba má tôi đều thích ăn, cả chúng tôi cũng hưởng ứng nên ngày thường cũng nấu. Sau 75 lại ít có vì thời khốn khó mà, thứ gì cũng không dễ có mà ăn.
08 Tháng Ba 20236:56 CH(Xem: 36422)
Ai cũng ghét kẻ khoe khoang và gọi kẻ ấy là hợm hĩnh khó ưa. "Khoe khoang" có gọi là "phô bày" không? Có đó, vì cả hai đều đồng nghĩa như nhau nhưng tôi thấy kẻ phô bày lại đáng thương hơn là đáng ghét đó. Có ai trong đời này mà không hề có sự phô bày cho người ta thấy chứ, ta thích được người biết cùng, khen cùng ta những điều ta có. Bây giờ có facebook thì điều này thể hiện rõ nhất qua nút chia sẻ đó.
13 Tháng Hai 20232:24 SA(Xem: 33184)
Nhớ lại những tháng năm xưa thời còn ở quê nhà. Đêm giao thừa sau khi đặt mâm cúng xong cả nhà mình đều xuất hành về hướng đông đi lễ chùa, má mặc áo dài màu nâu còn mình và bọn trẻ lại mặc đồ tây bình thường theo má. Má lạy Phật lạy hương linh ông bà chùa Long Khánh rồi sang chùa Tâm Ấn cũng như thế. Mình nhớ ngày ấy trời trong lắm lại mang hương xuân lành lạnh, đường phố sạch đẹp và đâu đó vẫn còn lác đác vài người phu quét lá bên đường còn sót lại. Mình hít hương xuân ngày đầu năm mới vào hồn với cả hân hoan.
06 Tháng Giêng 202312:51 SA(Xem: 35171)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”. Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường CVA có một năm 52-53, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 51-52. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 53-60. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54.
05 Tháng Giêng 202311:09 CH(Xem: 34972)
Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em... Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.
11 Tháng Mười Một 202212:24 SA(Xem: 36740)
Mưa rơi trong màn hình laptop, tôi thèm nghe tiếng mưa. Đêm nay. Mưa Cali hiếm hoi, cứ như chẳng bao giờ muốn có. Nhưng dù đã cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể nhận ra cái rì rào ướt át, chút rét mướt của gió đêm, qua những giọt “mưa giả”, ” mưa máy móc”, “ mưa trong computer”.
01 Tháng Mười Một 202212:25 SA(Xem: 34663)
Sáng sớm, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng ý để tôi xuất viện vào trưa hôm nay và một tháng sau trở lại tái khám. Thú thực, tôi mừng lắm, nghĩ mình đã được sinh ra lần thứ ba! Lần đầu, vào lúc khởi diễn cuộc Thế Chiến Thứ Hai, Mẹ sinh tôi tại một làng quê thuộc Tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam; lần thứ hai cách đây bốn mươi năm, là lúc tôi được phóng thich khỏi trại tù Vĩnh-Quang, một trong những nơi giam giữ các sĩ quan miền Nam, dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú, cũng tại miền Bắc Việt-Nam. Và lần này, lần thứ ba được sinh ra, là ngày tôi xuất viện, sau một thời gian trị liệu nhiều “gian khổ”, “cam go” tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas.