- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

TRUYỀN THUYẾT KHÁC VỀ LĂNG MỘ VUA ĐINH VÀ LONG MẠCH Ở CỐ ĐÔ HOA LƯ.

02 Tháng Mười 20264:23 CH(Xem: 1369)
lang mo DINH THIEN HOANG

TRUYỀN THUYẾT KHÁC VỀ LĂNG MỘ VUA ĐINH
VÀ LONG MẠCH Ở CỐ  ĐÔ HOA LƯ.

Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

___________________________

 

Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:

“Sau khi trẫm băng hà, trẫm muốn được đưa lên đỉnh Mã Yên, trong một lăng mộ khiêm nhường xây bằng đá núi Tràng An sẵn có… Chớ có biến ta thành một Tần Thủy hoàng đế cho ngàn năm căm hận nguyền rủa khi tạo ra hàng chục mộ giả dẫn theo cái chết oan nghiệt vô nghĩa của bao tráng sĩ hộ linh và dân thường! Nếu kẻ thù của Đại Cồ Việt ta, cũng là của gia tộc ta có tìm được mộ ta đào lên để nhục mạ thì cũng là sự nhục mạ cả non sông gấm vóc này, và khi đó mỗi hạt xương thịt ta hòa lẫn cỏ cây đất đá cũng hóa thành bó đuốc giữa hang sâu trong lòng các ngươi…

Ta lường trước sẽ có triều thần bẩm tấu: Giữ gìn di cốt của Đại vương cũng là bảo tồn Long mạch của Quốc gia! Lầm to! Họ Đinh ta, cũng như nhiều dòng họ khác trên mảnh đất này từ ngàn năm qua, cho tới hàng ngàn năm sau nữa, tuy không có dòng họ nào trường tồn hay triều đại nào vĩnh cửu cả, nhưng sẽ hòa trộn máu vào nhau, và Long mạch của các dòng họ chỉ có ý nghĩa khi hòa với Long mạch của Quốc gia. Các ngươi nên khắc ghi tâm nguyện của Tổ tiên: “Long mạch thiêng liêng quan trọng nhất của Non Sông là nằm trong lòng người!”

Các ngươi nên nhớ: danh tướng kiêm phù thủy Cao Biền từng cưỡi diều giấy bay khắp nước ta để tìm các nơi linh khí hội tụ, chốn sơn chầu thủy tụ nhằm yểm bùa, triệt tiêu khí tượng đế vương nước Nam ta; vua Tống đang chờ đợi kết quả các cuộc tầm long trấn yểm độc địa của Cao Biền và học trò y để kéo đại quân sang chiếm đoạt nước ta. Hãy tìm cách bảo vệ Long mạch nước nhà ở chính nơi ta đã cho lập đàn giải oan cầu siêu các oan hồn Sào Khê, thu phục nhân tâm, rồi chú tâm tập luyện binh mã, đón đợi quân xâm lược…”

Qua các bậc Đại thần tin cậy và vị Pháp sư của triều đình, Đức vua lúc sinh thời đã hiểu rất rõ điều này: Nhận thấy phương Nam có nhiều hình sông thế núi linh thiêng, long mạch vượng phát, sợ rằng sẽ sinh ra bậc chân mệnh thiên tử đánh đuổi giặc phương Bắc, Cao Biền và các nhà phong thủy sau ông ta theo lệnh chủ đã tìm mọi cách để triệt hạ, họ dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp thần bí để “tầm long” ráo riết -  “Long” này là long mạch, được coi là “tinh hoa” của đất trời, nơi tụ hội đủ cả “Sơn khí, Thủy khí, Nhân khí, Đạo khí”, tạo ra các huyệt đạo không thể bị phá hoại.

Tràng An vốn được coi là vùng đất của Rồng, vùng đất của Thái Dương - những “rừng đá vôi” vươn lên từ lòng đất Mẹ; và của Thái Âm là những mạch rồng uốn lượn qua các dòng sông và hang động, mang theo hơi thở của Rồng, như một thứ Năng lượng tinh kết chủ quyền tâm linh của dân tộc, và cho đến nay, các nhà nghiên cứu cổ sử đã có đủ cơ sở để khẳng định lý do vì sao vùng đất địa linh này được chọn làm kinh đô cho một nước Việt Nam độc lập.

Một nhà nghiên cứu người Việt cho biết: “Vào thế kỷ thứ 9, Cao Biền đã hiểu rằng những ngọn núi đá xanh Ninh Bình có khả năng hấp thụ và lưu giữ năng lượng cực mạnh… Bằng cách xác định các huyệt đạo của đất và đặt vào đó những neo năng lượng, ông ta đã biến những đỉnh núi này thành những chiếc đinh khổng lồ đóng chặt vào xương sống của Rồng, tạo ra những nút thắt của sự trì trệ. Những cuộc Trấn Yểm này sâu sắc đến mức, để tháo gỡ chúng cần một nguồn lực tương đương với việc dời non lấp bể” [1].

Song Di nguyện cuối cùng mong bảo vệ Long mạch - Huyệt đạo quốc gia của Đinh Tiên Hoàng đế đã bị lãng quên ngay sau khi ngài về miền Mây trắng, và điều đó phải chăng là nguyên cớ cho sự ra đời một truyền thuyết theo tập quán gần như nô lệ chắc chắn làm đau lòng Tiên đế dưới suối vàng: Triều đình đã máy móc làm theo cung cách của bạo chúa nhà Tần xưa kia, tạo ra 99 quan tài giả để làm thành 99 mộ giả đánh lừa những kẻ muốn phá lăng mộ đồng thời phá huyệt đạo, trấn yểm và bức tử long mạch của riêng hoàng tộc! Sau đó, truyền thuyết kể: toàn bộ những người trực tiếp đưa các linh cữu Thật - Giả đi mai táng đều không một ai trở về, họ đã tự tuẫn tiết bằng rượu độc hoặc bằng gươm để giữ kín bí mật chốn an nghỉ của quân vương (May mà trong giai thoại không có chuyện họ bị sai giết đi để bịt đầu mối!). Phủ Khống là nơi nhân dân vùng Tràng An tạo ra để thờ phụng những vị trung thần đó.

Nhưng Dân gian nếu quả đã tạo ra truyền thuyết ấy thì thực là bất công với Tiên đế và các tráng sĩ đã bỏ mạng không phải vì nghĩa cả mà vì sự trung thành mù quáng với những kẻ cố tình làm trái Di nguyện của Tiên đế! Hoặc giả có một vị nho sĩ đời sau trung thành với lý tưởng Khổng - Mạnh đã bịa ra rồi gắn cho Dân gian?

Chúng tôi cho rằng: Chắc chắn phải có một truyền thuyết khác, nhân văn hơn, hợp đạo lý dân tộc hơn, về sự kiện Mộ giả này.

Trong lúc cùng một số bạn thân làm văn hóa ở Ninh Bình đi tìm hình hài của truyền thuyết này hiện còn lẩn quất đâu đó hay nằm trong những cuốn gia phả, thần phả phủ bụi, chúng tôi đành tự hình dung ra, theo cung cách của Dân gian minh triết. Và Giai thoại hoàn toàn khác này sẽ làm cơ sở cho một scenario film Âm bản, coi như là sự tiếp tục cảm hứng sáng tạo của các nhà làm phim HLTS:BMMVĐ.

Mặc sự phản đối ngấm ngầm trong hàng ngũ quần thần, Triều đình vẫn quyết cho dựng nên một công xưởng đóng quan tài, sau đó Bảy vị tráng sĩ được triều đình cử ra làm nhiệm vụ Hộ linh, Hộ táng 07 đoàn xe tang đựng 99 quan tài còn thơm mùi gỗ đi theo 07 hướng khắp vùng Tràng An để tạo lăng mộ giả. Bảy vị tráng sĩ này, có người tình nguyện, có người bị ép giao trọng trách, người xuất thân dân dã từng lập công cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn các sứ quân, người thuộc dòng dõi hoàng tộc – đều là những người được tin cậy là trung thành tuyệt đối với Triều đình. Nhưng có đôi ba người trong số đó lại mang nỗi hoài nghi thắc mắc về nhiệm vụ được trao, bởi đã phong thanh biết được Di nguyện của Tiên đế…

Kịch bản phim của chúng tôi sẽ chỉ tập trung xây dựng quanh câu chuyện của một vị tráng sĩ, lấy tạm tên là Lê Dũng - phụ trách một đoàn xe tang chở 15 cỗ quan tài (Trong khi 6 đoàn kia mỗi đoàn chỉ chở 14 quan tài). Nhưng chỉ mỗi mình Lê Dũng nhận được mật chỉ của Dương Thái Hậu và một vị Đại thần về công vụ hệ trọng sắp tới: Phải đánh lừa những kẻ đang trấn yểm Long mạch - Huyệt đạo giang sơn bằng các Quan tài giả, để triệt phá đến cùng âm mưu hiểm độc của chúng!

Lê Dũng đã dẫn đoàn mình tới nơi vua Đinh từng lập đàn giải oan và cầu siêu cho các oan hồn Sào Khê tại cửa hang Luồn thuộc Tiểu Hoàng Long (rồng nhỏ) - đây là long mạch quan trọng nhất, đại huyệt trọng yếu của Đại Cồ Việt (Sông Sào Khê dẫn nước từ sông Đáy, luồn lách qua các hang động, núi đá, rồi đổ ra sông Hoàng Long - rồng lớn). 

Hành trình của đoàn Lê Dũng nhằm thực thi sứ mệnh thiêng liêng do Triều đình giao phó đã gặp biết bao gian nan, thử thách: Họ chỉ đánh lừa được bọn xấu lúc đầu, sau đó chúng hiểu ra sự việc, liên kết với những kẻ thù địch với Đinh Tiên Hoàng đế và triều Đinh tìm mọi cách tiêu diệt đoàn Lê Dũng và duy trì các Bùa trấn yểm độc hại, đồng thời khai thác - lợi dụng những mâu thuẫn bất hòa trong triều đình nhà Đinh cho công cuộc xâm lược nước Nam đang được chuẩn bị ráo riết bên chính quốc…

Một cô gái giỏi võ thuật từ nhỏ - lấy tạm tên là An, là con gái của một vị sứ quân trước đây bị Đinh Bộ Lĩnh giết đã bí mật theo gót đoàn Lê Dũng để tìm cách trả thù riêng theo lời trăng trối của cha… Phim sẽ có những tình huống kịch tính (cả đấu võ) để An dần hiểu rõ sứ mệnh thiêng liêng của Lê Dũng đang thực hiện, cũng như nhân cách cao quý của anh, và sau cùng, cô quyết gạt bỏ thù Nhà để tình nguyện theo anh đền nợ Nước, rồi tình yêu đã đến với hai người ( Tình tiết này được ảnh hưởng từ một mối tình được đặt trong thế tranh giành sinh tử giữa Tình yêu và Thù hận, Danh dự và Hanh phúc, Tổ quốc và Cá nhân trong vở bi kịch cổ điển nổi tiếng “Le Cid” của nhà viết kịch Pháp P. Corneille)[2].

Kết phim sẽ là đại cảnh bảy tráng sĩ quay trở về Kinh đô nhận rượu mừng của Vua nhỏ và Thái hậu. Sau khi Ngôi đền thờ 7 vị hộ linh được dân chúng lập ra để tiếp tục đánh lừa giặc phương Bắc, đám cưới An - Lê Dũng được tổ chức tại Kinh thành do Thái Hậu làm chủ hôn…

 

Đạo diễn Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

 

1. https://pathofmiracles.com/vi/blog/ninh-binh-long-mach-phong-thuy-dia-linh-va-su-menh-han-gan/).

 

2. Vở kịch “Le Cid” miêu tả đôi trai tài gái sắc Rodrigue và Chimène đều là con của các vị đại thần, đang là một cặp tình nhân thắm thiết. Nhưng oái oăm thay, trong một cuộc tranh luận về công lao, Bá tước Don Gomès là cha của Chimène đã sỉ nhục cha của Rodrigue (là Don Diègue) bằng một cái tát. Vì cha đã già yếu, Rodrigue buộc phải thay cha thách đấu kiếm để đòi lại danh dự gia tộc. Rodrigue đã đâm chết cha của người yêu. Đứng trước nghĩa vụ hiếu thảo, Chimène buộc phải nén nỗi đau lòng và cầu xin vua Don Fernand xử tử Rodrigue để trả thù cho cha, dù trong lòng nàng vẫn yêu chàng sâu sắc. Giữa lúc đó, quân xâm lược Moors bất ngờ tấn công kinh thành. Rodrigue dẫn quân ra trận, lập chiến công hiển hách đánh bại kẻ thù và được tôn vinh với danh hiệu "Le Cid" (Chúa tể). Để giải quyết thế bế tắc, nhà vua chuẩn tấu một cuộc đấu tay đôi giữa Rodrigue với người thầm yêu Chimène là Don Sancho tình nguyện chiến đấu vì nàng. Rodrigue đã chiến thắng nhưng tha mạng cho Sancho. Cảm kích trước tài năng và lòng trung thành của Rodrigue, nhà vua chấp thuận cho cặp đôi kết hôn sau một năm tang chế để xoa dịu nỗi đau của Chimène. (Đọc: “Bi kịch cổ điển Pháp”, Hoàng Hữu Đản - Vũ Đình Liên - Huỳnh Lý dịch. Nxb Văn Hóa 1978)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20243:37 SA(Xem: 28429)
Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ là cô giáo. Nhưng có lẽ là duyên trời nên tôi đã từng đứng trên bục giảng, dưới kia là những đôi mắt thơ ngây của các em thơ ngày ấy- học trò nhỏ của tôi và tôi đã là cô giáo.
05 Tháng Tám 202412:31 SA(Xem: 28831)
Ông Võ Phiến gọi Nguyễn Mộng Giác là một người “thàng”(hậu). Ông Nguyễn Mộng Giác cũng gọi Võ Phiến là “thàng”. Và, hai ông định nghĩa thàng như sau: Nguyễn Mộng Giác: "Thàng" không phải là hiền. "Thàng" là một chữ định hình, chứ không định tính. Người thàng, là người ít nói, tránh né những tranh chấp rắc rối, sẵn sàng chịu phần thua thiệt để giữ hoà khí, cố giữ bề ngoài đơn giản lùi xùi để không bị ai xem là kẻ quan trọng. Người thàng có thể hiền lành vì không dám làm việc dữ. Nhưng người thàng cũng có thể có những phản ứng bất ngờ dữ dội khi đột nhiên không thể chịu đựng được mãi sự thua thiệt. Người ta bảo người thàng hay cộc.” (Đặc san Tây sơn –Bình Định,1999) Và Võ Phiến: “Thàng là chữ riêng của người Bình Định, và cũng là chữ riêng để mô tả người Bình Định. Thàng cũng nói là thàng hậu; thàng hậu nghiã gần như hiền hậu, nhưng còn đi xa hơn hiền hậu nữa kia, vì nó có khả năng mô tả, hiền hậu thì không. Hiền hậu, thực thà là một đức tình, một nết hay; thàng hậu còn là một...
16 Tháng Bảy 202411:32 CH(Xem: 29092)
Năm tôi 37 tuổi tôi đã chia tay chồng, tôi gặp một người đàn ông do sư thầy ở chùa giới thiệu để giúp tôi một công việc. Ông lớn hơn tôi đúng 12 tuổi, là phật tử hay làm công quả ở chùa tư cách đứng đắn đàng hoàng; thật lạ ngày đầu tiên vừa thấy tôi, ông nhìn sững như quen tự đời nào, ông đưa tay chùi một vết lấm lem trên mặt tôi và sau này bảo rằng ông yêu tôi ngay từ ngày đầu gặp mặt. Mà hồi đó tôi ốm nhom xơ xác xấu xí tựa như con chim bị mắc mưa rủ cánh giữa đông tàn. Qua ngày sau, ông ta đem tới tặng tôi hai quả xoài cát và bảo rằng: "cây xoài nhà anh trồng hơn mười năm đến năm nay nó mới có trái anh hái liền cho em" Tôi cảm thấy cảm động. Tôi thấy mình được quan tâm, cái mà 15 chung sống cùng chồng tôi chưa hề có được ...
05 Tháng Bảy 202410:37 CH(Xem: 29260)
Tình cờ tôi gặp một tấm ảnh trên mạng, trong một album ảnh cũ về Nha Trang - Khánh Hoà trước năm 1975. Tấm ảnh được chụp trên đồi Trại Thuỷ, từ phía sau lưng Kim Thân Phật Tổ (tượng Phật trắng), có lẽ vào quãng những cuối những năm 60 của thế kỷ trước.
05 Tháng Bảy 202410:17 CH(Xem: 27991)
Năm tới 2025, người Việt gốc Mỹ sẽ kỷ niệm 50 năm định cư tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng sẽ có thêm một kỷ niệm định cư tại Seattle đươc nửa thế kỷ. Thời gian không còn nhiều sao tôi cứ băn khoăn không hiểu mọi người sẽ chuẩn bị tổ chức ra sao?
05 Tháng Bảy 20249:12 CH(Xem: 25977)
Tháng 6. Sài Gòn buổi chiều thường mưa. Mưa to lắm, mây đen kịt kéo nhanh làm tối cả bầu trời, nhìn xa xa sau màn nước mưa mù trời những đoàn xe trên đường cao tốc xuôi ngược nối dài nhau trên con đường quốc lộ xa tắp mịt mù.
15 Tháng Sáu 20244:38 SA(Xem: 28079)
Trước hết, tôi cần nhắc lại với bạn câu nói: “Sự thật cũng là một thứ Nhân đức” của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristotle. Ngắn gọn thôi nhưng chân lý đó đủ sức vượt bao thế kỷ để trở thành bài học quan trọng nhất đối với một kẻ cầm bút, cầm máy quay, và vĩnh viễn không bao giờ cùn mòn, mất tính thời sự!
15 Tháng Sáu 20243:48 SA(Xem: 28378)
Những đổi thay khốc liệt sau cuộc chiến 75 đã đưa đẩy một nhóm bạn bè chúng tôi gần gũi, siêng năng gặp gỡ nhau hơn những ngày tháng trước đó. Một ngày của mùa hè 1978, đi với anh Nguyễn Đình Toàn đến nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa là Trần Quang Lộc trạc tuổi hai mươi tám, ba mươi, với cây guitar trên vai. Nghiêu Đề và tôi luôn vồn vã, thân thiện rất nhanh với bạn mới gặp, nhất là lại có thêm cây đàn. Ham vui như chúng tôi, sự thân thiện sau đó đã tăng lên gấp bội.
14 Tháng Sáu 202411:10 SA(Xem: 29743)
Ngày xưa, muốn ăn bánh tro phải đợi đến ngày mùng 5/5 âm lịch, thì các cô các bác ở quê mới gánh xuống Qui Nhơn, ngồi trước nhà ba má tôi mà bán. Bánh tro được gói tựa như bánh Ú nhưng bé hơn. Bánh được làm từ gạo nếp ngâm qua nước tro và gói lá đem luộc chín trong nồi. / Ba tôi thích ăn bánh tro chấm với đường cát. Món ăn dân dã đậm đà hương vị quê hương mà người lớn thường thích. Cũng như ba, đến tuổi này tôi mới thích bánh tro như ba ngày ấy...
05 Tháng Sáu 20241:24 SA(Xem: 30905)
Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại… tôi nhìn những mùa hè trôi qua trong nuối tiếc, dẫu biết rằng là lẽ thường hằng nhưng trong lòng không khỏi xót xa. Những người bạn cũ đi xa, người còn ở lại lướt qua nhau như người xa lạ. Tôi ngồi đó trong bóng chiều tà, nắng chiều vàng sao mà lặng lẽ. Ôi! Hai hòn bi ve tội nghiệp, đã lăn gần hết đoạn đường trần ,tôi nghiêng xuống cuộc đời bằng nụ cười ngạo nghễ, có ai về nhặt lại tiếng ve ran….