- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

C Ó N H Ữ N G B À I C A … N Ợ … T Ì N H

28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 9187)

     

co nhưng bai ca- trieu vu (5)
Chân dung tác giả TRIỆU VŨ



Triệu Vũ

CÓ NHỮNG BÀI CA… NỢ… TÌNH

 

 

 

Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nhèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…

Xa lắm rồi, tôi vẫn nhớ, cuối năm 1954, rời bỏ quê hương miền Bắc, theo đoàn người di cư vào Nam, gia đình tôi dừng chân tạm cư ở Đà-Nẵng và tôi ghi danh học lớp Đệ Tứ (lớp 9) tại trường Phan-Thanh-Giản niên khóa 1955-1956. Phan-Thanh-Giản là một tư thục, mới xây cất, khang trang nhất thị xã Đà-Nẵng thời đó. Đây là năm cuối cùng, tôi được học nhạc và nhạc sĩ Phạm-Thế-Mỹ chính là giáo sư phụ trách môn học này. Đã ba phần tư thế kỷ trôi qua, một thời khoảng khá dài, bây giờ tôi thực sự nhận ra mình không có một chút vốn liếng nào về môn học “phụ” này và những gì gọi là âm nhạc mà tôi tiếp thu được, suốt bốn niên học, chỉ mỗi tuần một tiếng đồng hồ (thực tế thì ít hơn), đã chắp cánh bay đi, hay nói khác hơn, với ý nghĩa hoang phí, vô tình và nuối tiếc là: chữ thầy trả thầy.

Có người bảo rằng tôi, cũng như bao người cùng trang lứa, đã sanh không đúng thời, không đúng lúc; một cách văn hoa mà cay đắng, cộng thêm một chút than thở là: lứa tuổi của chúng tôi đã “sanh lầm thế kỷ”. Con đường dẫn tôi vào đời hình như không rực rỡ, ngập nắng vàng ban mai; không có những nụ tầm xuân hay bông hồng tươi thắm, đong đưa ngả nghiêng, lả lơi chào đón. Lứa tuổi chúng tôi ra đời vào lúc khởi diễn cuộc thế chiến thứ hai, cho nên bị cuốn hút theo dòng lịch sử của đất nước, nhiều biến động, nhiều tang thương trong bối cảnh rực lửa chiến tranh.

 Cuộc đời tôi, nổi trôi bồng bềnh theo vận nước, thấm thoắt đã 87 năm. Rời làng quê từ nhỏ, tôi không còn được nghe tiếng sáo diều vi vu trong những chiều lộng gió, không còn được nhìn thấy những em bé miền quê ngồi thổi sáo trên lưng trâu, khi hoàng hôn buông xuống, chậm rãi nối đuôi nhau, dọc con đê dài dẫn vào làng. Đặc biệt, tôi vẫn không quên thảm cảnh khinh hoàng của nạn đói năm Ất Dậu (1945). Ngày ấy, thuở ấu thơ, mới năm, sáu tuổi, tôi đã nhìn tận mắt, trên đường quê và dọc con phố huyện Bình-Giang, tỉnh Hải-Dương, những xác người chết vì đói ăn; thi thể rắc vôi bột màu trắng, có tấm chiếu cói đắp lên trên. Tiếp đến là phải chạy giặc Tây càn (lính Tây đi hành quân); rồi tản cư, rồi hồi cư về thị xã Hải-Dương năm1947. Năm1948, theo cha mẹ về lánh nạn tại huyện Cẩm-Giàng, và năm sau, 1949, trở lại thị xã Hải-Dương. Chưa yên, mùa hè năm 1951, tôi chỉ là cậu bé 11 tuổi, phải xa gia đình, rời Hải-Dương lên Hà-Nội trọ học. Thời gian tuy lùi xa rồi, tôi vẫn không quên, căn nhà tôi trọ học ở cuối phố Phạm-Hồng-Thái, khu Cửa Bắc, gần hồ Trúc-Bạch, gần Ngũ-Xã, gần chợ Châu-Long. Ở đây, tuy được đối xử rất tốt, coi như người thân trong gia đình, nhưng lòng tôi vẫn hướng về thị xã Hải-Dương.Và từ đó tôi mới hiểu, mới thấm được thế nào là “nhớ nhà”...


Ít năm sau, Hiệp-Định Geneve 20-7-1954 ra đời, đất nước chia đôi, tôi phải rời Hà-Nội về Hải-Dương để cùng Bố Mẹ và các em di cư vào phía Nam vĩ tuyến 17. Từ cuối năm 1954, gia đình tôi tạm cư ở Đà-Nẵng và mùa hè năm 1956, lại di chuyển vào Saigon-Gia Định. Không biết trên lá số tử vi của tôi, có gì đặc biệt, sao cứ long đong chuyển dịch? Đã xa quá rồi, xa cả ngàn cây số, đất Bắc quê hương bốn mùa bỏ lại. Vùng đất mới miền Nam, mưa nắng hai mùa, đầy ắp thân thương tình người. Tôi sống hồn nhiên, vô tư rạng rỡ trên nét mặt; tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống trước ngưỡng cửa vào đời…

        Rồi thời gian cứ vô tình, âm thầm trôi và do…duyên trời đã định, tôi gặp người con gái xứ Đoài. Đúng rồi! Tôi đã gặp được người “Em ở thành Sơn ..”! Tôi thầm cám ơn nhà thơ Quang-Dũng. Tôi cũng thầm cám ơn người nhạc sĩ tài hoa phổ thơ của ông và tôi không quên tạ ơn Ông Tơ & Bà Nguyệt cho chúng tôi “được” làm Lễ Tơ Hồng….

        Sống đời tự do yên bình chưa được bao lâu, chỉ it năm sau, khói lửa chiến tranh lan tràn khắp nẻo đường đất nước. Vì nhu cầu chiến trường, tôi cũng như hàng ngàn, hàng vạn thanh niên phải lên đường nhập ngũ. Không khí chiến tranh phủ khắp non sông. Những tiếng nổ ì ầm của bom đạn vang vọng khắp nơi. Suốt mười mấy năm lửa khói binh đao, đã có biết bao người nằm xuống. Mộ phần như nấm, đầy kín nghĩa trang. Cả vạn người tàn phế, một gánh nặng của xã hội. Thời gian cứ trôi. Tang thương vẫn bao trùm đất nước. Người ta thấy được, nghe được những thảm cảnh đau lòng, xảy ra hàng ngày. Ai cũng hiểu, cũng biết, hòa bình là nỗi khát vọng của mọi người. Và rồi cuộc chiến đã kết thúc bằng văn bản. Hiệp định Paris 27-1-1973 ra đời. Đó là sản phẩm của hội nghị kéo dài nhiều năm tại kinh thành ánh sáng Paris, thủ đô nước Pháp. Bất hạnh thay, văn kiện ấy, có đầy đủ chữ ký của các cường quốc, nhưng có nhiều điều khoản hoàn toàn bất lợi cho Việt-Nam Cộng-Hòa. Do vậy, chiến tranh chấm dứt nhưng khổ lụy của dân Việt còn kéo dài, với mất mát, chia ly, nước mắt đau thương, thù hận chưa nguôi! Hòa bình đến với dân Việt chỉ có trên văn bản, giấy tờ; thực tế bom đạn vẫn ì ầm, thây người vẫn ngã xuống trong rừng sâu, ngoài biển cả, giữa khe núi. Nhiều người bỏ nước ra đi, chấp nhận làm mồi cho cá biển và thú dữ còn hơn là phải sống trong tủi nhục, phân biệt đối xử. Cũng không có gì là quá đáng khi bảo rằng “Trận Chiến Chưa Tàn”, như tựa đề một tác phẩm của nhà văn Nguyên-Vũ. Biết bao người chỉ biết ngậm ngùi than thầm: Đó là vận nước!

 Có nhiều khi, hồi tưởng thưở xa xưa, lần về quá khứ; từ lúc còn thơ dại, tôi đã thấm những lời ru của Mẹ, đưa tôi vào giấc ngủ. Lớn một chút, những câu ca dao, những vần thơ trữ tình, lãng mạn, tôi đã được học, được nghe, được đọc, tới nay còn in đậm trong tâm trí. Tiếc thay, tôi đã không đủ ngôn từ, không đủ khả năng diễn đạt những cảm xúc, suy tư. Không những “dốt”về nhạc, tôi còn không biết làm thơ. Tuy thế, thỉnh thoảng, lúc cao hứng, tâm hồn thư thái bay bổng, tôi cũng nghêu ngao “rên rỉ” một vài dòng của một bản nhạc nào đó hoặc ngân nga, ngâm mấy câu thơ, còn lưu trong trí thuở cắp sách đến trường. Dĩ nhiên chỉ “trình bầy” đủ cho mình tôi nghe…trong phòng kín. Chỉ có thế thôi, vậy mà, đôi lúc tôi thầm nghĩ và tự đánh giá: Hình như tôi có “tâm hồn nghệ sĩ”!? Trời! Xấu hổ quá! Thực không biết lượng sức mình!

Theo dòng thời gian, suốt chiều dài 87 năm đường đời, tôi có nhiều cơ duyên tao ngộ, tâm tình với nhiều nhà thơ, có tên và có tuổi. Nhưng trong lãnh vực âm nhạc, tôi ít có cơ hội gặp gỡ, hoặc quen biết giới nhạc sĩ. Đã lâu rồi, đã hơn 60 năm trước, khi còn sống ở quê nhà, tôi chỉ quen biết hai nhạc sĩ Hoàng-Nguyên và  Song-Ngọc. Anh Hoàng-Nguyên, cùng bị động viên theo học khóa 19 Sĩ Quan Trừ-Bị, chung một trung đội và ở chung một phòng. Anh tên là Cao-Cự-Phúc. Anh đã qua đời năm 1973 ở Việt-Nam. Bản nhạc “Sao Em Không Đến”, Hoàng-Nguyên sáng tác đầu năm 1965, khi đang thụ huấn tại Trường Bộ-Binh Thủ-Đức. Anh trao cho Sinh-Viên Sĩ-Quan cùng phòng tên Minh-Mẫn, trình bày lần đầu trên sân khấu, tại Hội-Trường rộng lớn của Trường Bộ-Binh. Nhạc Hoàng-Nguyên được nhiều người hâm mộ, đặc biệt, những nhạc phẩm gợi nhớ xứ hoa đào. Riêng Anh Song-Ngọc, cùng học một khóa chuyên môn với tôi ở Đà-Lạt năm 1973, xếp chung một nhóm. Mãn khóa học, trước khi về đơn vị, Song-Ngọc khoe với chúng tôi vừa hoàn tất nhạc phẩm “Tình Yêu Như Bóng Mây”, diễn tả tâm trạng của người sắp giã từ Đà-Lạt. Song-Ngọc tên thực là Trần-Văn-Thưởng, cũng đã từ trần năm 2018 tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Trong kho tàng âm nhạc Việt, có nhiều sáng tác của Song-Ngọc, của Hoàng-Nguyên, đa dạng và phổ biến rộng rãi, nhiều người yêu thích.

Người đời thường bảo nghệ sĩ nói chung, nhạc sĩ nói riêng, tâm hồn đa sầu đa cảm và đặc biệt “đa tình”. Không ai biết trái tim nhạc sĩ có bao nhiêu ngăn và dung lượng có đủ để đong đầy những trái tim yêu thương? Nhưng phải thành thực công nhận, não bộ của nhạc sĩ rất bén nhạy và trí tưởng tượng của nhạc sĩ rất phong phú. Chỉ một cánh hoa bay bay, chỉ một chiếc lá lìa cành cuốn theo chiều gió, chỉ một gợn mây lơ lửng ngang trời; có khi chỉ một ánh mắt, một vạt áo tung bay v. v. cũng là những nguồn cảm hứng tuyệt vời để nhà soạn nhạc kết hợp âm thanh với ca từ, đưa tâm hồn người thưởng thức bay bổng, mơ màng, cảm xúc dâng trào. Nhà soạn nhạc còn chắp cánh cho những vần thơ vươn lên cao, lên cao đến nỗi đôi khi tác giả của những vần thơ thấy ngỡ ngàng, chưa từng mơ ước. Cùng nghe một bản nhạc, không phải cùng chung một cảm nghĩ, cùng một cung bậc cảm xúc. Người ta bảo đó là tùy trình độ thẩm âm hoặc tùy tâm trạng của người thưởng ngoạn. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến Cụ Nguyễn-Du, đã diễn tả tuyệt vời cảm xúc của Kim-Trọng khi nghe tiếng đàn của Thúy-Kiều : “Khi tựa gối, khi cúi đầu; khi vò chín khúc, khi chau đôi mày ..”

Một kỷ niệm đã xa rồi nhưng tôi vẫn không quên; hơn năm mươi năm trước đây, trong buổi hội thảo nơi giảng đường của một trường Đại-Học Quân Sự ở Đà-Lạt, có sự tham dự của nhiều nhân vật cao cấp. Nhà thơ nổi tiếng của miền Nam, Tô.K.Ng, từng là thành viên của chương trình ngâm thơ trên đài phát thanh Saigon năm nào, cấp bậc Thiếu-Tá, điều hợp sinh hoạt. Nhà thơ ấy đề nghị tôi nói đôi điều về chủ đề: cổ vũ, tác động tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Dĩ nhiên, để tránh hiểu lầm, tránh ngộ nhận, lời nói đầu tiên là khen ngợi, ca tụng những nỗ lực của phần vụ chuyên trách lãnh vực này. Tuy nhiên, tôi, mạnh dạn đưa ra, nêu lên những suy nghĩ của cá nhân tôi về lời ca của một số nhạc phẩm; và đề nghị giới chức thẩm quyền cần phải duyệt xét lại trước khi phổ biến rộng rãi trên những cơ quan truyền thông. Theo tôi, thực tế, có những bản nhạc, lời ca giọng điệu căm hờn, sắt máu; chỉ có chém giết và chém giết, rồi vươn lên nhà máy với công trường v.v. nghe phảng phất đâu đây không  phải và không phù hợp với chính sách nhân bản và chính nghĩa của quân dân miền Nam. Đừng quên chúng ta luôn mở rộng vòng tay và chủ trương “ Đem đại-nghĩa thắng hung tàn; lấy chí nhân thay cường bạo ”.Tôi cũng đã nêu ý kiến cá nhân tôi và tha thiết đề nghị: không phổ biến rộng rãi những nhạc phẩm mang nội dung làm chiến sĩ mềm lòng hay nhụt chí, trước khi lên đường vào nơi lửa đạn. Làm gì còn hăng say, làm gì còn hùng khí, quyết tâm ra chiến trường giết giặc lập công, khi trong tim trong óc còn vang vọng những tâm sự của người yêu lúc chia tay, lúc giã từ; và còn mang theo hình ảnh người yêu, quấn khăn tang trắng, gục đầu bên chiếc quan tài phủ quốc kỳ. Các chiến binh oai hùng liệu có an lòng khi người yêu rưng rưng ngấn lệ trước giờ chia tay: “Em hỏi anh…bao giờ trở lại ..Anh trở về trên đôi nạng gỗ”  “Anh …trở về có khi là hòm gỗ cài hoa …” Tôi nói nhiều, nhưng thời gian đã quá xa, nên không nhớ hết. Đã có rất nhiều ý kiến về những bản nhạc có ca từ thuộc dạng này. Người thì cho là phản chiến, người thì cứng rắn nghiêm khắc hơn, cho là “đâm sau lưng chiến sĩ”. Riêng tôi, hôm ấy chỉ nêu lên suy nghĩ cá nhân là có những bản nhạc chỉ nên hát cho nhau nghe, trong chỗ riêng tư; không nên phổ biến rộng rãi, ảnh hưởng không tốt đến tinh thần chiến sĩ trên đường ra mặt trận. Những phát biểu của tôi hôm ấy, hoàn toàn chỉ là thành ý, nhưng hình như quan khách tham dự và đặc biệt, các nhân viên của khối Chiến-Tranh Chính-Trị nhìn tôi với ánh mắt khác thường. Đó là những kỷ niệm của thời xa xưa, cách nay trên bảy chục năm…

 Thế rồi, vật đổi sao dời, dòng đời cứ trôi. Gia đình tôi cũng trôi giạt đến một đất nước xa lạ, nằm bên bờ đông biển Thái-Bình, cách xa quê hương nửa vòng trái đất. Sau hơn ba mươi năm định cư nơi xứ người, nay ở độ tuổi người ta gọi là xế chiều hay hoàng hôn gì đó và chuyện chiến tranh, chuyện đời quân ngũ, đối với tôi chỉ còn nằm trong ký ức. Hôm nay, trong căn phòng khách nhỏ, bình thường như mọi ngày, tôi tựa lưng vào chiếc ghế da, để đầu óc thư giãn, tâm hồn lắng xuống, yên vui tuổi già. Thực bất ngờ, từ máy thu hình mỏng treo trên tường đối diện, vang lên tiếng hát của một nữ ca sĩ, hoàn toàn không vương mùi thuốc súng, không vang vọng tiếng đạn pháo ì ầm, mà đang nức nở, nghẹn ngào, có thể nói là “nhói buốt” con tim. Lời ca phổ từ một bài thơ ngắn phản ảnh tâm sự của hai người yêu nhau mà không được chung sống bên nhau. Họ có duyên mà không có nợ, nên khi chia xa đã kêu gào thảm thiết. Thơ hòa quyện trong nhạc. Lòng tôi chùng xuống, mơ màng, đưa trí tưởng nhớ lại một câu chuyện tình thưở xa xưa, không phải của cá nhân tôi…

-“Ông lại uống lộn thuốc nữa rồi à?” Giật mình, tôi ngơ ngác. Người bạn đời, tay cầm ly cà phê tỏa hương thơm đang ngồi kế bên. Chưa kịp trả lời, nàng tiếp :

-“Hôm trước, Ông ngân nga thơ phú gì đó; hết văn, đến thơ, giờ lại tới nhạc. Sao Ông nhiều chuyện quá!? Thế Ông còn nợ ai vậy?” Không đợi tôi trả lời, nàng trao ly cà phê cho tôi và tiếp:

-“Ông uống cà phê trước đã, rồi trả nợ sau nhé!” Tôi hơi bối rối, đón ly cà phê uống một chút để lấy lại bình tĩnh và chậm rãi, nhẹ nhàng phân trần với người bạn đời: bản nhạc vừa nghe qua máy thu hình, làm tôi nhớ đến câu chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B, một Sĩ-Quan cộng sự của tôi và cô hàng sách Th-L ngày nào…

Ngày xưa ấy, đơn vị tôi, đồn trú cách Saigon gần 60 km về phía Bắc; cứ mỗi độ Xuân về, có đoàn nữ sinh thủ đô lên thăm. Sự kiện sinh hoạt này nằm trong kế hoạch lớn của cấp trên. Tôi giao Sĩ quan phụ tá, kiêm Chiến-Tranh-Chính-Trị, Đại-Úy Huỳnh-Khắc-B. lo liên lạc, chuẩn bị từ phương tiện đưa đón đến ẩm thực, nơi nghỉ ngơi, địa điểm giao lưu hội ngộ v.v Không ai phủ nhận được, những chuyến viếng thăm tiền đồn, nơi đóng quân, hay những cánh thư của em gái hậu phương đã có những tác động đáng kể đến tinh thần quân sĩ. Phải chứng kiến niềm hân hoan gặp gỡ hay lúc bịn rịn, lưu luyến khi chia tay, mới thấm được, mới hiểu được tình người chiến sĩ tiền tuyến và các em gái hậu phương. Những tà áo dài của các em nữ sinh, xen lẫn những bộ áo trận bạc màu, tựa như những cánh bướm trong vườn cây xanh lá. Những nụ cười hồn nhiên, những tiếng hát vang vang, kết hợp tiếng vỗ tay nhịp nhàng làm bầu không khí rộn ràng, vui tươi, thắm đượm tình quân dân. Có những ánh mắt trao nhau trìu mến; có những cánh tay vững chắc, bàn tay xạm nắng nâng niu ngón tay thon gọn, ngọc ngà …Tiếc quá! Tôi không phải nhà thơ, nhà văn nên không biết diễn tả sao cho hết ý nghĩa của khoảnh khắc hội ngộ đáng nhớ ấy, giữa người lính tiền tuyến xa xôi và các em gái hậu phương. Người ta ghi nhận đã có nhiều mối tình, mối lương duyên phát sinh từ những buổi gặp gỡ ủy lạo chiến sĩ, những chuyến viếng thăm tiền đồn…

 Thời đó, tình trạng chiến tranh, vì nhu cầu chiến trường, biết bao nhân tài, tinh hoa đất nước, phải lên đường nhập ngũ. Cũng không ngạc nhiên khi các em nữ sinh dễ thương, duyên dáng, đón nhận …tình yêu của những sĩ quan trẻ. Huỳnh-Khắc-B, người Sĩ-Quan phụ tá của tôi, vừa được thăng cấp Đại-Úy. Trước khi nhập ngũ, B. từng làm việc ở Bộ Thông-Tin, nay tuổi đời chưa tới ba mươi, còn độc thân, người cũng “dễ coi”..

 Vào buổi sáng đầu Xuân năm ấy, tay cầm một bìa cứng trong có nhiều giấy tờ, B. lên văn phòng tôi và trình bày muốn lập hồ sơ kết hôn. Người yêu của B. tên Th-L, là cựu nữ sinh trường áo tím Gia-Long ở Saigon. Th-L gặp Đại-Úy B. trong chuyến viếng thăm đơn vị tôi trước đây và đã “phải lòng” nhau. Người ta thường nói “Con tim có lý lẽ riêng cuả nó”! B. cho biết: Sau khi học hết trung học, Th-L phụ gia đình trông coi tiệm sách ở trung tâm thành phố Saigon. Biết bao chàng trai trẻ ghé qua mua sách, còn được ngắm “cô hàng sách” duyên dáng, thân thiện. Sợ mất người yêu, B.lo thủ tục kết hôn gấp.Tôi duyệt hồ sơ và chỉ thị chuyển ngay lên phòng An-Ninh Quân-Đội. Hồ sơ kết hôn chỉ còn chờ giấy xác nhận điều chuẩn an ninh gủi về thì ngày 30 tháng Tư ập đến. Và rồi, như sét đánh ngang tai, Tổng-Tư-Lệnh quân đội ra lệnh: Buông súng đầu hàng! B. buông súng và rời đơn vị. Trên đường tìm về Saigon, B. bị chặn lại, đưa đi ... tù, rồi bị đày ra miền Bắc, không kịp chia tay người yêu. Suốt tám năm tù đày, không nhận tin tức gì về Th-L, kể cả hung tin. Khi được phóng thích, B. đi tìm lại người yêu. Than ôi… cửa hàng sách xưa kia, nay là cửa hàng kim khí điện máy và cô hàng sách không biết trôi giạt phương trời nào. Thành phố thủ đô trước đây đã thay đổi quá nhiều!  Các tiệm bán sách và dụng cụ văn phòng thân thương ngày xưa, các quầy bán sách báo, băng nhạc dọc theo đại lộ náo nhiệt giữa Saigon, sau 1975 không còn nữa. Cả thành phố, nay chỉ có một vài nơi bán sách báo, mang bảng hiệu mới:

Trung tâm phát hành sách. Người ta kể lại sau 1975, nhiều cư dân Saigon phải đi tái định cư, lao động sản xuất ở vùng sâu, vùng xa. Căn nhà Th-L ở ngày xưa, nay là trụ sở đồn Công-An nên B chỉ đi ngang qua mà không dám ghé vào dò thăm tin tức. Người cựu tù B.đã tìm Th-L khắp nơi. Từ những con đường ở trung tâm Saigon, B. đã lê bước chân đến vùng xa xôi gọi là “Khu kinh tế mới”. Từ Đồng-Ban Tây-Ninh đến Đồng-Hiệp, Phương-Lâm, Định-Quán, qua Long-Khánh, Xuân-Lộc v.v  nhưng không có được một tin tức nào!

Những ngày còn vất vả, long đong nơi quê nhà, vài lần, B. ghé thăm gia đình tôi và cho biết vẫn chưa có tin tức gì của Th-L. Cuối thập niên 1980, chương trình định cư các cựu tù ra đời, B. chần chừ, không lập hồ sơ ngay, muốn kéo dài thời gian ở lại quê nhà để tiếp tục đi tìm người yêu. Gia đình tôi rời Việt-Nam, định cư tại Hoa-Kỳ từ mùa Xuân năm 1990, thoắt đã 36 năm; không biết giờ này B. có tìm được và đã trả được nợ tình cho cô hàng sách dễ thương Th-L chưa ?

Nghe tôi kể lại chuyện tình của Huỳnh-Khắc-B. và cô hàng sách, người bạn đời buông tiếng thở dài, cảm thương cho số phận của bao đôi tình nhân, vì hoàn cảnh đất nước mà không được chung đường chung lối. Âu cũng là Ý Trời! Họ có duyên gặp gỡ, nhưng tiếc thay không có cơ hội để trả nợ… tình cho nhau; trong lòng họ còn nhiều tiếc nuối, còn nhiều kỷ niệm đẹp của cuộc tình dang dở, không trọn vẹn…Bởi thế, đã vang vọng những lời kêu gào thảm thiết, ai oán, thổn thức con tim, Tôi thầm cám ơn Trời Phật, đã phù hộ tôi sáng suốt, tỉnh táo, chừng mực và may mắn không mang món nợ nào, kể cả nợ tình. Tuy vậy, tôi không thể nào quên, có một thời xa xưa lắm, sau ngày đau buồn cuối tháng Tư năm ấy, ai đó đã áp đặt cho chúng tôi, những cựu Sĩ-Quan miền Nam, đi trình diện để tù cải tạo, không phải vì lý do đã mang món “nợ tình” nào đó, mà vì có “nợ máu” với .. ? Thực bó tay!

Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, người đẹp và tình yêu có lẽ là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng tuyệt vời, vô tận, lan tỏa trong mọi lãnh vực sáng tác của nghệ sĩ. Riêng trong kho tàng âm nhạc Việt, chắc chắn rằng rất nhiều người đã từng nghe những bản nhạc “Cô hàng nước”, “Cô hàng cà phê”, “Cô láng giềng”, “Cô hái mơ”, “Cô hàng xóm”, “Cô lái đò”; nhưng không biết có ai đã nghe nhạc phẩm nào nhắc đến ngày xưa, có một cô em tươi trẻ, duyên dáng, thân thiện bán sách báo giữa lòng thành phố Saigon không nhỉ? Biết đâu chừng, có thể lắm, trong tương lai, một bài ca có tựa đề “Cô hàng sách” ra đời, làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc Việt-Nam.

 

TRIỆU  VŨ  ( 23-02-2026 ) 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Chín 20238:52 CH(Xem: 31408)
Mùa thu này, nhà thơ Hoàng Hưng và phu nhân trở lại thăm Thủ đô. Ông có gọi tôi cùng tới studio riêng của họa sĩ Trần Lương. Giữa cơn hứng trò chuyện với họa sĩ, ông tìm đến “quốc hồn quốc túy” qua sợi thuốc lào Vĩnh Bảo, và tôi đã chộp được một hình ảnh của ông để rồi chợt thấm một nỗi buồn…
05 Tháng Tám 20239:50 CH(Xem: 32004)
“Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà hoàng” - đó là một câu trong bộ tiểu thuyết sử thi “Con đường đau khổ” của nhà văn Nga A. Tolstoy mà bố từng lấy làm đề từ cho bài cảm ngôn “Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi” từ những năm bố còn là một chàng trai mơ mộng lang thang trên những nẻo rừng Tây Bắc. Vài chục năm sau, vào lúc con đọc những dòng này của bố, khi con chuẩn bị bước vào năm thứ hai đại học, cũng là lúc cả xã hội ta đang trong một cơn xáo động kinh hoàng với bao giá trị đảo lộn quay cuồng khiến những cô cậu sinh viên quen sống trong vòng tay gia đình che chở như con phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ…
09 Tháng Sáu 20234:29 CH(Xem: 35002)
Con gái tôi thích ăn canh ổ qua xắt mỏng nấu với tôm, khi chín bỏ chút hành ngò rắc chút tiêu, món ăn ngày xưa của mẹ con tôi hay nấu nhưng bây giờ tôi lại hay nấu canh rau mồng tơi với tôm vì bọn trẻ con thích món này hơn chúng chê canh ổ qua đắng. Ngày xưa, mỗi lần cúng giỗ nhà tôi hay nấu canh ổ qua nhồi thịt, món này ba má tôi đều thích ăn, cả chúng tôi cũng hưởng ứng nên ngày thường cũng nấu. Sau 75 lại ít có vì thời khốn khó mà, thứ gì cũng không dễ có mà ăn.
08 Tháng Ba 20236:56 CH(Xem: 36530)
Ai cũng ghét kẻ khoe khoang và gọi kẻ ấy là hợm hĩnh khó ưa. "Khoe khoang" có gọi là "phô bày" không? Có đó, vì cả hai đều đồng nghĩa như nhau nhưng tôi thấy kẻ phô bày lại đáng thương hơn là đáng ghét đó. Có ai trong đời này mà không hề có sự phô bày cho người ta thấy chứ, ta thích được người biết cùng, khen cùng ta những điều ta có. Bây giờ có facebook thì điều này thể hiện rõ nhất qua nút chia sẻ đó.
13 Tháng Hai 20232:24 SA(Xem: 33295)
Nhớ lại những tháng năm xưa thời còn ở quê nhà. Đêm giao thừa sau khi đặt mâm cúng xong cả nhà mình đều xuất hành về hướng đông đi lễ chùa, má mặc áo dài màu nâu còn mình và bọn trẻ lại mặc đồ tây bình thường theo má. Má lạy Phật lạy hương linh ông bà chùa Long Khánh rồi sang chùa Tâm Ấn cũng như thế. Mình nhớ ngày ấy trời trong lắm lại mang hương xuân lành lạnh, đường phố sạch đẹp và đâu đó vẫn còn lác đác vài người phu quét lá bên đường còn sót lại. Mình hít hương xuân ngày đầu năm mới vào hồn với cả hân hoan.
06 Tháng Giêng 202312:51 SA(Xem: 35265)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”. Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường CVA có một năm 52-53, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 51-52. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 53-60. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54.
05 Tháng Giêng 202311:09 CH(Xem: 35090)
Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em... Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.
11 Tháng Mười Một 202212:24 SA(Xem: 36890)
Mưa rơi trong màn hình laptop, tôi thèm nghe tiếng mưa. Đêm nay. Mưa Cali hiếm hoi, cứ như chẳng bao giờ muốn có. Nhưng dù đã cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể nhận ra cái rì rào ướt át, chút rét mướt của gió đêm, qua những giọt “mưa giả”, ” mưa máy móc”, “ mưa trong computer”.
01 Tháng Mười Một 202212:25 SA(Xem: 34833)
Sáng sớm, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng ý để tôi xuất viện vào trưa hôm nay và một tháng sau trở lại tái khám. Thú thực, tôi mừng lắm, nghĩ mình đã được sinh ra lần thứ ba! Lần đầu, vào lúc khởi diễn cuộc Thế Chiến Thứ Hai, Mẹ sinh tôi tại một làng quê thuộc Tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam; lần thứ hai cách đây bốn mươi năm, là lúc tôi được phóng thich khỏi trại tù Vĩnh-Quang, một trong những nơi giam giữ các sĩ quan miền Nam, dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú, cũng tại miền Bắc Việt-Nam. Và lần này, lần thứ ba được sinh ra, là ngày tôi xuất viện, sau một thời gian trị liệu nhiều “gian khổ”, “cam go” tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas.
05 Tháng Mười 20225:58 CH(Xem: 10364)
Thật khó ngỡ tôi có thể sống tới tuổi 80—dù chỉ lả tuổi khai sinh. Cha mẹ cho tôi “mang tiếng khóc bưng đầu mà ra” ngày mồng 6 tháng 10 năm Nhâm Ngọ —tức 13/11/1942—tại Phụng Viện thượng, tục gọi là Me Vừng, quận Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, sau ngày cha thoát khỏi những trại tù khổ sai của Việt Cộng, định cư tại tỉnh lỵ Hải Dương hoang tàn, đổ nát, rổi dàn xếp cho mẹ và hai anh em tôi trốn ra đoàn tụ, khi làm giấy thế vì khai sinh hai anh em tôi đều được khai sinh với năm tây lịch, và ngày tháng âm lịch. Ngày sinh trên giấy tờ trở thành 6/10/1942. Bởi thế, từ buổi di dân qua Mỹ, mỗi năm tôi có tới ba sinh nhật. 6/10, 13/11 và một ngày tây lịch nào đó tương ứng với ngày 6/10 âm lịch. Vợ tôi—người tình đầu đời từ trại Bác Ái xóm Cây Quéo, Gia Định 62 năm trước, cũng nguổn cảm hứng của những vần thơ khởi đầu văn nghiệp—thường tăng khẩu phần lương thực với lời chúc..