- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Lê Ký Thương, Khép Lại Những Hẹn Hò...

14 Tháng Ba 20258:55 CH(Xem: 19756)
LE KY THUONG 2

Họa sĩ Lê Ký Thương (1946 - 2025) bên một tác phẩm của mình

tại triển lãm Lạy Tạ (2009) – Nguồn: vnexpress.net 



TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

Lê Ký Thương, Khép Lại Những Hẹn Hò...

 

 

Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...

Nhớ anh Lê Ký Thương là nhớ tới một người rất tài hoa và rất hiền, có biệt danh là Cóc, mà lúc đầu tôi nghĩ có lẽ anh đặt vui do câu “Con Cóc là cậu Ông Trời”. Nhưng không phải vậy, mà sâu sắc hơn nhiều. “Bọn trẻ con chúng tôi ngày ấy có hôm bắt được một con cóc, cho cóc ngậm thuốc lá. Thế là cóc say thuốc, quay mòng mòng. Chúng tôi được một bữa cười thỏa thích. Ngẫm lại thấy có tội trong việc hành hạ một sinh vật. Hình ảnh ấy chẳng khác gì những kẻ thủ ác đối với con người… Năm nay tôi đã ngoài 60 mà vẫn ám ảnh đến chuyện đó. Tôi bày Họ nhà Cóc để xin được xá tội. Vả lại tôi cũng thích một câu dân gian ‘Cóc cắn ba năm trời gầm mới nhả’ – sự quyết liệt trong một hành động mà tôi luôn phải học tập…” [1]

Mở lại thư ngày cũ, tháng 4/2023, khi về Sài Gòn thăm gia đình, tôi có hẹn với anh chị LKT và những anh chị khác trong nhóm Ý Thức cùng với Hoàng Kim Oanh ở café Đường Sách. HKO đã giữ lại cho chúng tôi khoảnh khắc quý giá đó bằng những hình ảnh thật đẹp. Các anh Đỗ Hồng Ngọc, Thân Trọng Minh, Châu Văn Thuận, anh chị LKT, Hoàng Kim Oanh và tôi, như trẻ hơn. Ai có thể ngờ đây là những “cụ ông, cụ bà” trong khoảng tuổi U70 – U90, khiến tôi tự hỏi hạnh phúc có phải là liều thuốc tiên? Oanh và tôi còn có hình chụp riêng với anh chị LKT và tôi có mấy tấm đứng với anh Thương cười rất tươi nữa. Rồi tháng 9 cùng năm tôi lại về. Lần này anh Đỗ Hồng Ngọc ra mắt cuốn “Một ngày kia đến bờ” (mới lấy từ nhà in ra nên còn nóng hổi) ở quán chay Phương Mai trên đường Võ Thị Sáu (Hiền Vương cũ). Lại được dịp gặp anh chị LKT. Tôi rất cảm động khi thấy anh khá mỏi mệt do mới cùng con đi thăm sui gia ở tỉnh về, nhưng vẫn ráng đến dự để gặp bạn xa...

Năm ngoái, nghe tin anh bệnh nặng, nhưng bác sĩ cho về nhà và chị Kim Quy chăm sóc anh rất tận tình 24/7. Do đó, tháng 9/2024 khi trở lại Saigon, tôi hẹn đến thăm anh. Chị Kim Quy rất chu đáo đã mời các bạn đến chơi để cùng gặp nhau. Bữa đó có anh Vũ Trọng Quang, Hoàng Kim Oanh và những ai nữa tôi không nhớ rõ. May sao anh Thương khỏe hơn, rất tỉnh và vui, còn đùa với các bạn là chị Quy chỉ đứng thứ nhì, còn hạng nhất thì anh không chịu tiết lộ. Tuy nhiên, ai cũng thấu hiểu trong “tim đen” của anh, chị Quy luôn là số 1. Chẳng thế mà năm xưa anh cầu hôn cùng chị, cô giáo dạy Sử cấp 3 người Huế, bằng bài thơ:

ANH MONG

Anh mong trong mái nhà này

Cùng em san sẻ đắng cay ngọt bùi

Con mèo khe khẽ ngoắt đuôi

Vờn qua những quyển sách đời anh mê

Và tình bạn suốt bốn mùa

Thiếu bao thứ ấy hóa thừa đời anh.

(Lê Ký Thương phỏng dịch từ nguyên tác Le Chat của Guillaume Apollinaire)

Và càng xác tín sau này: “Anh đã chọn con đường gian khổ/ Đâu bằng em chọn anh san sẻ cuộc đời/ Những đêm trắng, trắng trang giấy trắng/ Anh hiểu rằng: Em can đảm lắm, em ơi”.

Lê Ký Thương sinh năm 1946, quê quán làng Vĩnh Điềm Thượng, quận Vĩnh Xương, nay thuộc TP Nha Trang (cách Thành – Diên Khánh 6 cây số). Trong một lần trò chuyện với “người nhà quê già” Hai Trầu Lương Thư Trung, LKT cho biết đã “coi văn chương và nghệ thuật là NGHIỆP. Đã mang lấy nghiệp vào thân. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa (ND). Và mê vẽ trước khi biết tập tễnh làm thơ.” [2] Anh chia sẻ với nhà thơ Phan Vũ về thuở ban đầu đến với hội họa do cha là một nhà nho, chữ đẹp. Nên khi có người nhờ cha viết sớ thì anh phải mài thỏi mực to và cứng cả tiếng đồng hồ rất mỏi tay và chán nản, bù lại được xem cha “múa bút và rất thích thú với đường nét bay lượn của những con chữ. Ý thức về hội họa có lẽ bắt nguồn từ những giờ phút mệt mỏi và thú vị ấy…” [1]  Lê Ký Thương có tranh trong các bộ sưu tập cá nhân ở các nước: Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore”. [2] Đã tham gia nhiều cuộc triển lãm. Có thể kể: triển lãm tranh sơn dầu tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp – Đà Lạt (1974). Sau 1975 là những cuộc triển lãm tại phòng tranh Tự Do (Sài Gòn), chung với Thân Trọng Minh (1998); triển lãm cá nhân loạt tranh sơn dầu “Ký Ức Tuổi Thơ” (?), triển lãm tranh và tượng gốm “Họ nhà Cóc” (2007), triển lãm loạt tranh “Lạy tạ” (2009). Đó cũng là lần triển lãm cuối cùng của anh, do năm 2010 bị tai biến, tưởng không qua khỏi. May mắn thay, anh tâm sự, “sau 21 ngày nằm điều trị tại BV 115 SG, tôi hồi phục một cách thần kỳ. Từ đó, tôi bị yếu cơ tay mặt, chỉ sử dụng tay trái gõ bàn phím, điều khiển chuột hay cầm cọ vẽ trên khổ giấy A4 tối đa.” [2]

Tác phẩm thơ: Bếp lửa còn thơm mùi bã mía, Ý Thức 1974 (phổ biến hạn chế, in những bài thơ đã đăng trên tạp chí Đất Nước, Đối Diện, Ý Thức); Trò chơi Trời cho: Hành Trình Nghiệp Thơ (Bản Thảo 2018); Góp Nắng Cho Cây, (dành cho lứa tuổi Nhi đồng 6 – 11, Nhà xb Kim Đồng 2023).

 Về dịch thuật, Lê Ký Thương đã chuyển ngữ ba tác phẩm lớn: Một nỗi đau riêng dịch từ bản tiếng Anh tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản Kenzaburō Ōe, Nobel Văn chương 1994 (Nxb. Văn Nghệ, 1997); Phù thủy xứ Oz được dịch từ nguyên tác The Marvellous Land of Oz của nhà văn Mỹ L. Frank Baum (Nxb. Văn Nghệ, 1997) và Tchékhov – cuộc đời và tác phẩm dịch từ bản tiếng Pháp của Sophie Laffitte (Nxb. Thời Đại, 2009). Và bốn truyện thiếu nhi: Phép mầu – Mary Kay Roth, Con bướm cuối cùng – Michael Welzenbach, Kỷ niệm ngày mãn trường – Shirley Lord Bachelder, Nàng tiên cá – Selma  Lagerlöf.

Bên cạnh đó, anh có nhiều tạp văn và ký đi trên trang mạng Văn Chương Việt rất hay: Bài chòi quê ngoại, Bánh căn trên phố Saigon, Cơm cháy nồi đồng, Cơm mo cau giữa lòng thành phố, Dấu ấn từ một dòng sông, Hồn sách cũ, Hương vạn thọ, Lộc đầu năm, Như đường mía lau, Những người thiện tâm...

Chưa kể những tác phẩm còn trong dạng bản thảo dành cho những người thân trong gia đình và bạn thân:

– Nobel Văn chương Thế kỷ 20 (1901 – 2000) biên dịch theo tài liệu của Viện Hàn lâm Thụy Điển, S. 2004.

– 14 Họa sĩ Mỹ tiêu biểu (từ Gilert Stuart đến Jackson Pollock), S. 2004.

– Hành trình Nghiệp Vẽ – S.  2014

– Hành trình Nghiệp Văn [2]

Anh Hai Trầu chia sẻ, “Đọc hồi ức của Lê Ký Thương tôi dễ hòa nhập vào những trang đời mà tác giả đã từng trải… Chính cái “đức thành thật”, óc quan sát tỉ mỉ, với cách dùng chữ giản dị mà tinh xác và thuật miêu tả vừa phải mà tự nhiên trong những trang hồi ức của LKT, tác giả đã làm cho tôi thích thú và cảm động” [2]. Còn đối với nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy, “Chiêm ngắm chân dung Lê Ký Thương qua văn chương, tôi thật sự có ấn tượng với hình ảnh chàng trai tuổi đôi mươi trong một thời với Ý Thức và hình ảnh của “lão ngoan đồng” thích chơi với trẻ con trong độ bạc đầu. Tuổi thanh niên sôi nổi, dũng cảm chống chiến tranh, bất công, bạo quyền; tuổi lão niên đằm thắm, hiền lành góp từng tiếng lòng phụng sự lứa măng non. Vậy thì, xin mượn hai câu thơ của văn hào Lỗ Tấn để phác thảo chân dung văn học của Lê Ký Thương: “Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ/ Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”. Trợn mắt hay cúi đầu đều là sự lựa chọn thái độ sống dấn thân, hết mình rất đáng trân trọng. Thái độ đó đã được lưu giữ trong hành trình sáng tác lắm chông gai, nhọc nhằn của đời “phu chữ” được Lê Ký Thương kín đáo gửi gắm trong bài thơ Nợ văn chương như sau:

“Suốt một đời

Tường dính mồ hôi

đậm dấu lưng người – máu rỉ

Nhòe mặt chữ

Tình bằng duyên nợ cái văn chương!” [3].


LE KY THUONG

Lê Ký Thương
do Đỗ Hồng Ngọc vẽ.

02.08.2003



Họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, dịch giả Lê Ký Thương cuối cùng đã chọn ngày Lễ Tình Nhân để “dừng bước giang hồ”. Thôi thì, “Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây...” [4]. Anh thanh thản giã từ cõi tạm ở tuổi 80, để lại tiếc thương cho những người ở lại cùng bài thơ MƠ HOÀI NHỮNG GIẤC MƠ… ngọt ngào thấm đẫm thương yêu:

1.- Tháng mười, tiếng ễnh ương giục người gặt lúa. Cha lót ổ bên bụi chuối sau hè cho mẹ nằm. Con từ nơi đó sinh ra. Hương bưởi trong vườn phảng phất lưỡi dao tre. Bà mụ già run tay cắt rún. Giọt máu đầu đời con thấm sâu lòng đất ẩm. Biến thành những giấc mơ.

2.- Con lớn lên bằng nước cơm sôi và sữa mẹ thất thường. Ngày thôi nôi con cha mẹ nguyện cầu tám hướng bốn phương. Xin Ơn Trên cho con chọn một nghề nhàn hạ. Chiếc nia bày những mẫu vật tượng trưng. Con toét miệng cười sung sướng, giơ bàn tay nhỏ bé chụp vội nắm xôi. Nắm xôi tròn ôm trọn những giấc mơ con.

3.- Con thích rong chơi với những bạn chăn bò. Vô núi bẫy chim, ra đồng bắt dế. Chơi những trò chơi trời cho dân dã. Có lần con được làm vua. Ngồi trên chiếc ngai vàng làm bằng đôi cánh tay của hai “đô lực sĩ”. Nhưng con không mơ mình là thiên tử. Con chỉ mơ luôn là “hoàng tử bé” của người lớn thôi.

4.- Hoàng tử bé thì rất thảnh thơi. Khi chán học i tờ hay đồ tô theo nét chữ (bài học vỡ lòng Cha dạy với hy vọng con mình lớn lên thành thầy thông thầy ký), con chạy ra đường ngồi trên trụ cây số trước nhà. Ngóng chờ cha mẹ cày thuê gặt mướn đồng xa mau về. Thương cha mẹ con mơ mình thành họa sĩ.

5.- Con thả giấc mơ lên bất cứ nơi nào có thể được. Với cục than trên tay, con biến mái nhà tranh thành tòa lâu đài, bữa cơm độn bắp khoai thành cao lương mỹ vị, chiếc áo lành cho Cha, chiếc nón mới cho Mẹ, tán đường cho các em, những giọt nước miếng thèm thuồng thành những que kem… Con sung sướng thấy mình là ông Tiên… trong mơ.

6.- Con vẽ hoài, vẽ hoài những giấc mơ. Những giấc mơ không xa đời thực. Đầu đã bạc nhưng những giấc mơ của con chưa hề thành hiện thực. Nên con cứ mơ hoài mơ hoài những giấc mơ… (LKT)

 

Trần Thị Nguyệt Mai

Valentine’s Day 2025

 

Tham khảo:

(1)   Lê Ký Thương – Tranh và Cóc

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2018/07/09/le-ky-thuong-tranh-va-coc/

(2)   Trò chuyện với nhà văn Lê Ký Thương

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2021/06/22/tro-chuyen-voi-nha-van-le-ky-thuong/#more-39037

(3)   Lê Ký Thương: “Tình bằng duyên nợ cái văn chương!”

https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/l-k-thuong-tnh-bang-duyn-no-ci-van-chuong/

(4)   Lời bài hát Như một lời chia tay – Trịnh Công Sơn.

 

---

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Chín 20238:52 CH(Xem: 31353)
Mùa thu này, nhà thơ Hoàng Hưng và phu nhân trở lại thăm Thủ đô. Ông có gọi tôi cùng tới studio riêng của họa sĩ Trần Lương. Giữa cơn hứng trò chuyện với họa sĩ, ông tìm đến “quốc hồn quốc túy” qua sợi thuốc lào Vĩnh Bảo, và tôi đã chộp được một hình ảnh của ông để rồi chợt thấm một nỗi buồn…
05 Tháng Tám 20239:50 CH(Xem: 31987)
“Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà hoàng” - đó là một câu trong bộ tiểu thuyết sử thi “Con đường đau khổ” của nhà văn Nga A. Tolstoy mà bố từng lấy làm đề từ cho bài cảm ngôn “Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi” từ những năm bố còn là một chàng trai mơ mộng lang thang trên những nẻo rừng Tây Bắc. Vài chục năm sau, vào lúc con đọc những dòng này của bố, khi con chuẩn bị bước vào năm thứ hai đại học, cũng là lúc cả xã hội ta đang trong một cơn xáo động kinh hoàng với bao giá trị đảo lộn quay cuồng khiến những cô cậu sinh viên quen sống trong vòng tay gia đình che chở như con phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ…
09 Tháng Sáu 20234:29 CH(Xem: 34980)
Con gái tôi thích ăn canh ổ qua xắt mỏng nấu với tôm, khi chín bỏ chút hành ngò rắc chút tiêu, món ăn ngày xưa của mẹ con tôi hay nấu nhưng bây giờ tôi lại hay nấu canh rau mồng tơi với tôm vì bọn trẻ con thích món này hơn chúng chê canh ổ qua đắng. Ngày xưa, mỗi lần cúng giỗ nhà tôi hay nấu canh ổ qua nhồi thịt, món này ba má tôi đều thích ăn, cả chúng tôi cũng hưởng ứng nên ngày thường cũng nấu. Sau 75 lại ít có vì thời khốn khó mà, thứ gì cũng không dễ có mà ăn.
08 Tháng Ba 20236:56 CH(Xem: 36486)
Ai cũng ghét kẻ khoe khoang và gọi kẻ ấy là hợm hĩnh khó ưa. "Khoe khoang" có gọi là "phô bày" không? Có đó, vì cả hai đều đồng nghĩa như nhau nhưng tôi thấy kẻ phô bày lại đáng thương hơn là đáng ghét đó. Có ai trong đời này mà không hề có sự phô bày cho người ta thấy chứ, ta thích được người biết cùng, khen cùng ta những điều ta có. Bây giờ có facebook thì điều này thể hiện rõ nhất qua nút chia sẻ đó.
13 Tháng Hai 20232:24 SA(Xem: 33265)
Nhớ lại những tháng năm xưa thời còn ở quê nhà. Đêm giao thừa sau khi đặt mâm cúng xong cả nhà mình đều xuất hành về hướng đông đi lễ chùa, má mặc áo dài màu nâu còn mình và bọn trẻ lại mặc đồ tây bình thường theo má. Má lạy Phật lạy hương linh ông bà chùa Long Khánh rồi sang chùa Tâm Ấn cũng như thế. Mình nhớ ngày ấy trời trong lắm lại mang hương xuân lành lạnh, đường phố sạch đẹp và đâu đó vẫn còn lác đác vài người phu quét lá bên đường còn sót lại. Mình hít hương xuân ngày đầu năm mới vào hồn với cả hân hoan.
06 Tháng Giêng 202312:51 SA(Xem: 35217)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”. Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường CVA có một năm 52-53, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 51-52. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 53-60. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54.
05 Tháng Giêng 202311:09 CH(Xem: 35043)
Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em... Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.
11 Tháng Mười Một 202212:24 SA(Xem: 36850)
Mưa rơi trong màn hình laptop, tôi thèm nghe tiếng mưa. Đêm nay. Mưa Cali hiếm hoi, cứ như chẳng bao giờ muốn có. Nhưng dù đã cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể nhận ra cái rì rào ướt át, chút rét mướt của gió đêm, qua những giọt “mưa giả”, ” mưa máy móc”, “ mưa trong computer”.
01 Tháng Mười Một 202212:25 SA(Xem: 34781)
Sáng sớm, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng ý để tôi xuất viện vào trưa hôm nay và một tháng sau trở lại tái khám. Thú thực, tôi mừng lắm, nghĩ mình đã được sinh ra lần thứ ba! Lần đầu, vào lúc khởi diễn cuộc Thế Chiến Thứ Hai, Mẹ sinh tôi tại một làng quê thuộc Tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam; lần thứ hai cách đây bốn mươi năm, là lúc tôi được phóng thich khỏi trại tù Vĩnh-Quang, một trong những nơi giam giữ các sĩ quan miền Nam, dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú, cũng tại miền Bắc Việt-Nam. Và lần này, lần thứ ba được sinh ra, là ngày tôi xuất viện, sau một thời gian trị liệu nhiều “gian khổ”, “cam go” tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas.
05 Tháng Mười 20225:58 CH(Xem: 10362)
Thật khó ngỡ tôi có thể sống tới tuổi 80—dù chỉ lả tuổi khai sinh. Cha mẹ cho tôi “mang tiếng khóc bưng đầu mà ra” ngày mồng 6 tháng 10 năm Nhâm Ngọ —tức 13/11/1942—tại Phụng Viện thượng, tục gọi là Me Vừng, quận Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, sau ngày cha thoát khỏi những trại tù khổ sai của Việt Cộng, định cư tại tỉnh lỵ Hải Dương hoang tàn, đổ nát, rổi dàn xếp cho mẹ và hai anh em tôi trốn ra đoàn tụ, khi làm giấy thế vì khai sinh hai anh em tôi đều được khai sinh với năm tây lịch, và ngày tháng âm lịch. Ngày sinh trên giấy tờ trở thành 6/10/1942. Bởi thế, từ buổi di dân qua Mỹ, mỗi năm tôi có tới ba sinh nhật. 6/10, 13/11 và một ngày tây lịch nào đó tương ứng với ngày 6/10 âm lịch. Vợ tôi—người tình đầu đời từ trại Bác Ái xóm Cây Quéo, Gia Định 62 năm trước, cũng nguổn cảm hứng của những vần thơ khởi đầu văn nghiệp—thường tăng khẩu phần lương thực với lời chúc..