- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,539,366

Sống với lòng Nhân

20 Tháng Tư 20215:10 CH(Xem: 521)


Le Thi Tham Van-song voi long nhan

LÊ THỊ THẤM VÂN

 

Sống với lòng Nhân[i]

 

 “You may say I’m a dreamer,

 but I’m not the only one

 I hope someday you’ll join us,

 And the world will live as one.”

 John Lennon

 

Hai mươi năm sau, trở về, để thấy miền Bắc đã thắng trên mặt trận quân sự, nhưng rõ ràng miền Nam đang thắng trong thời bình.” Một người bạn quen biết lâu năm, từng về lại Việt Nam nhiều lần, nói với tôi như thế, giọng chắc nịch.

 Mỗi lần nghĩ đến chiến tranh, giải phóng đất nước, cách mạng dân tộc, tự do nhân quyền, xuống đường biểu tình... đầu óc tôi lơ mơ liên tưởng đến vụ Thiên An Môn năm nào. Hình ảnh người đàn ông hiên ngang tiến ra giang rộng hai tay đòi hỏi tự do, chận đứng xe tăng, chống lại quyền lãnh đạo độc tài của đảng cộng sản Trung Quốc. Hình ảnh anh hùng, xem cái chết tựa lông hồng, với lòng đầy thách thức, đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho xứ sở. Hình ảnh đó đã đánh mạnh vào tâm não toàn thể người dân trên toàn thế giới. Riêng tôi, vẫn âm thầm nghĩ tới người lính lái chiếc xe tăng khổng lồ đầy răng sắt. Hẳn ông phải là một người rất đỗi từ bi, nhân hậu? Thương người như thể thương thân. Ông từ chối giet người, dù trong tay nắm toàn quyền nghiền nát người đàn ông hiên ngang hùng dũng kia. Hành động nghiền nát đó, sẽ được coi như một chiến công hiển hách đối với đảng và nhà nước. Bởi biết đâu, sau khi đám đông rã đám tan hàng. Trong khi người đàn ông đứng chặn đoàn xe tăng được cả thế giới ca ngợi, thì người lính lái xe tăng bị cấp trên trừng phạt, đánh đập, tra tấn, thậm chí thủ tiêu vì nghi ngờ là tay sai của địch, hoặc đã không thi hành chu toàn nhiệm vụ. Ai đúng, ai sai trong biến cố Thiên An Môn tại quảng trường đỏ thuộc đất ngàn năm văn hiến kia?

 

Cuộc chiến quốc-cộng vừa qua. Nam Bắc phân tranh, máu đổ tương tàn, nồi da xáo thịt, giết hại lẫn nhau... tưởng đã không thể chấm dứt. Như trong gia đình, vì bất đồng chính kiến, hoặc nghe lời người ngoài xúi bảy, hai anh em nhất định một ăn một thua, không ai nhường nhịn ai. Cuối cùng, vì lý do nào đấy, người anh dừng tay chịu thua người em. (Có thể) vì người anh sớm ý thức được điều mình đang làm là bậy, vì hèn nhát sợ chết, vì thù ghét bất công, vì nhận thấy sự vô nghĩa của việc đang làm, vì không muốn thấy bố mẹ buồn khổ, vì đơn giản là chan tiếp tục đánh đấm nhau, vì không còn tin vào lời của người ngoài, vì nghĩ hành động đánh nhau là vô lý, ngu xuẩn, vì thể chất sinh ra vốn yếu đuối, vì bản tính ham vui sống, vì tin vào một sự nhịn, chín sự lành...

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dĩ nhiên còn/vì/bởi nhiều nguyên nhân sâu xa. Nhưng đây, tôi chỉ đưa ra một cái nhìn.

Người anh là miền Nam, người em là miền Bắc. Người em như con ngựa bị bịt mắt phóng nước đại. Chiêu bài ngoại bang, viện dẫn bao lý tưởng tốt đẹp, vì dân vì nước, vì thế giới đại đồng. Lý tưởng là ảo tưởng, nếu không đi đôi với đầu óc, mà thuần dựa vào con tim.

Vì chủ nghĩa Cộng Sản, giáo điều ý thức hệ, bánh vẽ khổng lồ tạo bằng khoảng trống đã đẩy đưa bao kẻ trở thành đồ tể giết người. Thề nguyền “phanh thây, uống máu quân thù.”

 “Tiếng người thét:

 ‘Mau lên gươm lắp súng!’

 Và cả đoàn quân

(…) Vụt ào lên, quyết phân thây uống máu

Giặc cường quyền!

Ôi khoái trá vô biên!”

 Tố Hữu

 

“Vùng lên chiến sĩ ta ơi!

(…) Bụi hè đường cuốn lốc tung bay,

Xác thù rơi dưới gót giày

Ầm ầm tiếng súng vui thay

Trông ngày mai sáng láng...”

 Nguyễn Đình Thi

 

“Súng của ta

 tính tầm tính hướng

Tính theo góc độ của lòng căm.”

 Chính Hữu

 

 “Một ý chí bay ra đầu ngọn súng

Một niềm vui nghiến nát mọi quân thù.”

 Vũ Hữu

 

“Vì độc lập vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

Tiến lên!

Chiến sĩ, đồng bào!”

 Hồ Chí Minh

 

 “Nền độc lập đúc trong lò lửa máu

 Gương anh hùng sáng rực cả non sông.

Trên vũ đài nhân loại cuộc vui chung

Có tiếng hát dân Việt Nam hoàng tráng.”

 Sóng Hồng

 

Để rồi, khi vừa đặt chân vào đất miền Nam ngày 30 tháng 4,1975 người Cộng Sản mới bật ngửa, “ai giải phóng ai?”

Những lấp liếm, mị dân, che đậy, tối lòng, cuồng tín đã gây nên biết bao oan nghiệt, khổ đau chồng chất thêm trên mảnh đất von đầy tai ương, bất hạnh từ ngày lập quốc.

 

Người lính Cộng Hòa, đã một thời xưng danh như thế. Dù người miền Bắc chiến thắng muốn tiêu diệt, người ngoại quốc hoàn toàn không chút thiện cảm, người Mỹ phủi tay. Tất cả đều muốn quên, cố tình gạt bỏ, xóa nhòa sự hiện hữu người lính Cộng Hòa cũng chẳng thể được. Họ đã có mặt trong khoảng vài ba chục năm trong dòng lịch sử dân tộc.

Tuổi thanh xuân, tuổi bước vào đời là bước vào bên trong cửa thần chết, ngửi mùi tử khí của chính mình. Chiến tranh đồng nghĩa với sự tàn bạo. Biết là tàn bạo nhưng phải sống với tàn bạo. Và bất nhẫn là, sự tàn bạo được chấp thuận, đánh bóng tối đa.

Sống trong sự chết như mảng lưới giăng ngang đỉnh đầu, chực chờ phủ chụp. Mà trên đời ai chẳng sợ chết? Bản tính con người. Vả lại, chưa được sống tại sao phải chết?

Chiến đấu trong sự vô nghĩa, vô vọng, vô lý, lại không có tương lai, vô tình làm tay sai cho ngoại bang, đế quốc.

Cách đây khá lâu, người bạn lớn tuổi kể tôi nghe câu chuyện đã ám ảnh anh. Người anh cả của anh thuở học chưa xong tiểu học trường làng, tóc cắt ngắn, quanh năm quần đùi, hai bàn chân hiếm khi gần gũi với đôi dép. Một buổi chiều hè trời chạng vạng, người anh cả đang đứng sớ rớ ở vườn sau với túi trĩu nặng những viên bi sau một ngày cong lưng ăn thua cùng mấy đứa bạn, thì ông anh hàng xóm ở sát vách cả chục năm, lớn hơn người anh cả gần chục tuổi, trước ngày nhập ngũ, bỗng dưng xoa đầu người bạn nhỏ, “Mày may hơn tao, khi mày lớn thì chiến tranh chắc đã chấm dứt, khỏi bị đi lính.” Thằng bé giương mắt ngước nhìn ông anh hàng xóm, ông anh hàng xóm ngước mắt nhìn trời. Lần đầu tiên trong đời, thằng bé biết suy tư vì một câu nói. Chiến tranh làm người ta trưởng thành trong suy nghĩ, nhưng xác thân thì cứ lì lợm thách thức thời gian.

Rồi thằng bé theo gia đình trôi nổi. Ông anh hàng xóm một thời chia chung tấm vách cũng chìm trôi theo dòng đời, dòng thời gian, dòng chinh chiến. Thế hệ thằng bé lớn lên, chẳng những chiến cuộc chưa chấm dứt, trái lại càng ngày cang tàn khốc, dữ dội. Rồi một ngày, thằng bé cũng nối gót ông anh hàng xóm lên đường tòng quân giết giặc. Đêm trước ngày đi, anh hoang mang nghĩ nhiều về ông anh hàng xóm thời tuổi dại. Chẳng biết còn sống hay đã chết, hoặc có thể ở một xó xỉnh nào đó trong thành phố, ông đang nửa say nửa tỉnh, khề khà vỗ về cái chân bị cụt. Rồi anh vẩn vơ nghĩ tiếp, “Ngày mai vào quân trường, không chừng ông anh hàng xóm là cấp chỉ huy của mình?” Kết cuộc là chiến tranh không chấm dứt khi thằng bé lớn lên như ông anh hàng xóm đã hi vọng. Và không những là thằng bé kia, tức người anh cả của bạn tôi, đã trở thành một tổn thất vô danh, mà luôn cả người em út của ban tôi cũng đã trở thành một tên tù cải tạo, lần đầu được trông thấy miền Bắc, quê hương cha mẹ, với tư cách là một tù nhân.

Trong thời chinh chiến, thanh niên đánh mất quãng đời trai trẻ. Cứ đến tuổi là phải nhập ngu. Lớp lớp hàng hàng xếp dọc tiến thẳng tiến nhanh vào quân đội, đi vào nơi gió cát. Anh chàng thư sinh ngồi cạnh chị cả tôi suốt niên học, tướng trói gà không chặt. Chị thường nói đùa anh có cổ tay chẳng lớn hơn cổ tay chị là bao. Qua một mùa hè, tình cờ gặp lại, tóc đã cắt ngắn, hỏi ra anh sắp nhập ngũ, đã có giấy gọi. Một năm sau gặp lại trên hè phố, mặt anh sạm đen, quần áo nhà binh, đang nghỉ phép. Vài năm sau gặp lại, anh bạn thư sinh ngày nào, nay bỗng dưng biết đâm chém giết người, khướt say ngất ngưởng, ăn tục nói phét, coi cuộc đời là sàn vũ trường & bãi chiến trường. Triết thuyết hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hiểu theo lối bình dân, du nhập vào miền Nam được giới trẻ hưởng ứng nhiệt liệt vì hoàn cảnh thời sự xô đẩy. Họ áp dụng vào đời sống hết sức chân thành, đầy nhiệt tâm và nhiệt tình.

Truyện đầu tay của Nhã Ca tôi đọc lúc mới sang Mỹ, Đêm Nghe Tiếng Đại Bác. Bà tả tâm trạng đợi chờ của một gia đình – cả người tình – chuyến về phép của người con từ chiến trận trong đêm giao thừa. Cả nhà chờ đợi mãi, ruột càng lúc càng nóng, trong khi đĩa chả giò đã nguội ngắt. Hy vong càng về khuya càng héo hắt như tấm vé số trong tay người mẹ. Rồi cuối cùng cửa mở, người về không phải là người cả nhà đang mong đợi, mà là đồng đội đến báo hung tin. Nhã Ca viết truyện này trong giai đoạn đầu cuộc chiến, dù oan nghiệt nhưng còn đượm nét dịu dàng, đằm thắm. Nhưng là thông điệp dự báo mùa thương khó, khổ nạn sắp đến. Nhã Ca chưa tả anh lính chết trận như thế nào, thảm thiết, đau đớn ra sao. Mãi về sau, cả nước tìm thay điều này trong Giải Khăn Sô Cho Huế.

Cách đây không lâu, trong quán ăn nằm trên mép vịnh San Francisco trông ra biển. Gió và nắng đầu hè lồng lộng. Quanh vài bạn văn thân thiết. Một người, vì lý do lan man nào đó, đẩy đưa như tình cờ, nhắc lại ký ức trong một chuyến hành quân, đồng đội cũng là bạn thân của anh bị địch bắn chết, xác nằm cách xa anh một đoạn. Đạn bắn như mưa rào. Anh chạy ào ra, cố lôi cho được xác thằng bạn. Chẳng biết lôi đi đâu. Nó là cái xác không hồn, không còn nhúch nhích, cựa quậy. Nó đã chết. Chết là hết. Nhưng anh vẫn cứ lôi, cứ kéo. Chẳng lẽ để nó nằm đó một mình? Anh lôi như đánh thức nó dậy, bảo nó chạy theo anh em đồng đội. Đạn chi chít trong không gian, anh kéo lê xác người bạn trong tiếng bom đạn, tiếng gào thét, tiếng gió thổi cây cối kêu vù vù... Và rồi, xác thằng bạn lại là cái bia đỡ đạn cho anh. Những viên đạn nã vào cái xác, nằm gọn trong đó, không xuyên qua để gắm chặt vào thân thể anh. Anh kể cùng những giọt nước mắt trào ra bất chợt. Anh đã cố chôn vùi một khoảng thời gian đầy bất trắc và bất hạnh trong phần đời thuộc miền sâu quá khư. Xác người bạn đồng đội nay đã rã mục đâu đó trên quê hương. Cái xác mà, rã bên này sông Bến Hải được liệt vào phân bón tươi tốt sơn hà. Rủi thay rã ở bên kia sông, bị xem làm ung thối đất đai.

Câu chuyện khác tôi nghe từ ông khách khi còn là sinh viên thỉnh thoảng tham gia công tác xã hội ở câu lạc bộ Viễn Xứ, thành phố Milpitas. Sau một trận giao tranh, trong số tử thi để lại trên chiến trường, xác chú bộ đội còn rất trẻ. Một người lính cấp dưới tò mò lục xem ví người chết. Ở ngăn sâu kín nhất, là giấy bạc năm trăm đồng. Kẹp giữa giấy bạc, là lá thư viết vài câu dở dang: “Kính thăm Thầy Đẻ. Con đang nghỉ trên đường. Thầy Đẻ gắng giữ gìn sức khỏe. Con vẫn mạnh...” Thằng lính đứng cạnh buột miệng chửi thề, “Đụ má! vầy là kể như thư này đéo tới tay thầy đẻ rồi!” Ông nghe, bỗng dưng tim thót mạnh. Biết đâu ngày mai xác ông cũng như thằng bộ đội đang nằm sấp kia, máu và đất bê bết mặt, nhưng hai mắt cố mở trừng trừng nhìn ông... Tuần trước, ông nhận được thư vợ, báo tin cái thai đã hơn năm tháng. Có lẽ giờ này đứa bé bắt đầu ngọ nguậy trong bụng mẹ nó. Biết ông có còn sống đến ngày thấy mặt con không? Lúc đó, ông chỉ muốn buông súng, về ngay với gia đình.

Cảnh những đứa con ngơ ngác bao quanh xác cha, như ngơ ngác trước cuộc đời. Cuộc đời vốn là con sư tử lúc nào cũng chực giang móng nhọn ra vồ chụp. Dù vô tâm đến đâu, dù chai sạn đến đâu, dù tàn nhẫn đến đâu, người lính cũng không khỏi băn khoăn bứt rứt khổ nhọc khi đến nhà đồng đội báo hung tin. Phải chăng lòng nhân ái chỉ tỏ lộ qua sự chết chóc?

Hình ảnh những người lính mặt mày còn trẻ thơ, cơ thể chưa phát triển toàn diện, mắt cứ dõi nhìn khắp bốn phương, lòng ngẩn ngơ tự hỏi, phương nào là cả nhà đang quây quần trước mâm cơm chiều?

Cuối cùng, vô tình hay chủ ý, hay vì lý do phức tạp vượt ngoài lý giải/quyền hạn của mình, người lính buông súng, buông ba lô, giã từ vũ khí. Họ muốn trở về làm người dân thường đúng nghĩa. Tốt hay xấu? đúng hay sai? thiện hay ác? khôn hay dại? hèn nhát hay đại nhân? Họ phải bịt tai để khỏi phải nghe tiếng chê bai, thóa mạ, hèn yếu, thua trận, không dốc lòng chiến đấu, đồ bất lực, quân khiếp nhược, phản bội dân tộc, thứ vứt đi, không lý tưởng, thiếu dũng cảm... Thôi thì muôn vàn chữ nghĩa xấu xa nhất áp đặt lên vai người lính miền Nam Cộng Hòa.

Không tiếp tục chiến đấu, không thích giết người, mong mỏi hòa bình, ý thức hệ nhân bản, thương người như thể thương thân... thì có gì là xấu xa bỉ ổi đớn hèn? Nếu không cho rằng, phải giàu lòng nhân ái mới hành động được như thế.

Người lính miền Nam Cộng Hòa dầu gì cũng được thấm nhập văn minh, văn hóa từ thế giới tự do nhiều hơn. Họ không bị đào tạo sắt đá. Máu ảo tưởng không bị bơm vào người? Vì thế họ suy nghĩ hiện đại, phóng khoáng hơn người lính Cộng Sản miền Bắc. Bởi được tự do – dù là tương đối – trong thời điểm đó, nên họ biết quý trọng mạng sống, thấm đẫm tình ngươi hơn?

“tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng

tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người

(…) tôi mặc đồ xanh

 và mang đồng hồ da đen

 tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên

Trong sáu diêm quẹt còn rớt lại.”

 Phạm Công Thiện

 

 “Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi

(...) Chiều trên Phá Tam Giang

Mày nhìn con nước xiết

Nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành

Mà mày bỏ dở.

(...) Trên mịt mùng nghi hoặc

Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự bao giờ.”

 Tô Thùy Yên

 

“Kẻ thù ta đâu có phải là người

Giết người đi thì ta ở với ai?”

 Thích Nhất Hạnh

 

“Người đàn ông khóc vì phải khóc

Như anh ôm em và tủi cực vô cùng

Cuộc đời cứ mở tròn những con mắt thản nhiên nhìn tội lỗi.

(...) Hãy cho anh la bằng cổ em

Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác

Chúng nó say giết người như gạch ngói

Như lòng chúng ta thèm khát tương lai

(...) Lùa những ngón tay vào nhau

thân thể anh chờ đợi

đau dấu đạn

trong giây xích chiến xa...

Đêm không bao giờ không bao giờ đêm.”

Thanh Tâm Tuyền

 

Cùng thời điểm đó, bên kia Mỹ quốc, thanh niên đồng tuổi cũng bị áp đẩy lên máy bay, chở sang xứ nhiệt đới Việt Nam, nơi tên chốn mà tân binh phát âm còn ngọng nghịu, thậm chí địa danh chưa định vị được trên bản đồ thế giới. Số người còn lại, phản chiến bằng nhiều cách thức, biểu tình bạo động thì đốt xe, xung đột với cảnh sát. Hoac ôn hòa chống đối thì thắp nến đi chân trần vòng quanh khuôn viên đại học, cùng nhau nắm tay đồng ca“Give Peace a Chance.”  Kêu gọi thế giới hãy làm tình thay vì làm tội. Giơ cao biểu tượng hòa bình con chim bồ câu trắng, chận đứng giết nhau hình ảnh đóa hoa nở đầu họng súng.

 

30/4/1975 chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Người lính cả hai phiá đều thở phào nhẹ nhõm. Không tin cũng phải tin, là họ có số tốt, còn được sống sót. Quê hương đồng ca hòa bình trong tiếng đàn hát Trịnh Công Sơn.,”Rừng núi giang tay nối lại biển xa. Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà. Mặt đất bao la, anh em ta về... cùng nhau mừng vui như bão cát...” Cửa nhà thông mở Bắc Trung Nam. Người dân mọi miền nắm chặt tay nhau, nhưng lại hất tay người lính quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Con đường độc đạo họ bị lùa vào, là con đường học tập lao tù cải tạo. Những người Cộng Sản chiến thắng miền Bắc, đã biết trong đầu những người lính “thua trận” này nghĩ gì, dự định làm gì, có kịp tìm hiểu họ đâu mà đã lùa họ vào nhà tù tập thể, gấp rút vội vã chẳng khác lùa bầy lợn, để rồi đầy đọa, tra tấn họ bằng đủ mọi cách. Vắt cạn tinh thần lẫn thể xác họ như vắt đất khô chắt từng giọt nước. Cuối thế kỷ 20, ngoài kia nhân loại đang làm bảng liệt kê, nhân quyền được ưu tiên hàng đầu, viết hoa, gạch dưới. Mà nơi đây, người đối xử người tàn ác, dã man không kém gì thời trung cổ tra tấn tội nhân bằng vạc dầu sôi, voi dày ngựa xé, bằng chôn sống tập thể những người đang giơ tay gào thét van xin được buông tha.

Tù nhân dân sự bị nhốt còn biết trước được ngày tha, tùy tội phạm nặng hay nhẹ. Một năm, năm năm, mười năm, hay hai mươi năm. Nhưng với người tù cải tạo, là bản án chung thân. Tuyệt vọng thay cho hi vọng. “Giấy đây, kê khai tội ác của anh ra!” Trong đây, thua trận đồng nghĩa phạm tội. Vinh quang không nằm ở phe bại trận. Ngoài kia, thiên hạ phù thịnh hơn phù suy.

Chết bị đày xuống địa ngục, nghe quỷ Satan kể tội mình. Nếu được lên thiên đàng, nghe Chúa kể công mình. Đang sống mà phạm tội, ra trước tòa nghe bị cáo buộc tội mình. Chỉ trong lao tù Cộng Sản, chính mình buộc tội mình. Còn không, chẳng lẽ thành thật khai báo rằng, “Tội của tôi là đã không giết các anh!”

Đã vậy, cái bụng lúc nào cũng trống rỗng, làm sao để có chút gì trút vào trong đó, bất cứ gì. Mắt hoa lên vì đói. Lãnh phần ăn, bao giờ cũng nghĩ chén mình ít hơn bạn tù kế cạnh. Lắm lúc ước ao phải chi “nó” chết phắt thì chén mình được thêm vài hạt cơm. Nơi đây bao tử điều khiển cái đầu. Là địa ngục trần gian, không còn phân biệt được hèn nhát, khí phách, lương tri, tự trọng, đạo đức. Nhân phẩm là xa xỉ phẩm. Tất cả sống như bản năng gốc. Ăn ngủ đái ỉa và thở. Con vật còn có lúc được làm tình, “con người” này hoàn toàn không. Tỉnh táo một chút, đi lòng vòng quanh trại, mắt dáo dác mong kiếm được cái đinh, rồi lén lút dũa nhọn. Một đêm nào đó, dựng đứng đầu đinh chĩa thẳng lên trời, nằm ập xuống, đầu đinh nhon cắm phập lút ót. Giấc ngủ thiên thu. Nhưng đinh cũng không có. Tự kiếm cái chết liêm sỉ cũng chẳng phải dễ.

Một buổi chiều trời chập choạng, đi loanh quanh trong trại, bất chợt nhìn thấy những hột bo bo tụm lại một nhúm dưới bụi cây, mừng rỡ ngỡ chén cơm trời thương lén mang tặng riêng mình. Vội vã bốc ăn. Ăn lấy ăn để, sợ bọn tù khác phát giác. Ôi! những hạt bo bo cứng như đá sạn, được thải ra từ bụng một tù nhân khác. Đêm nay lai thải ra từ bụng người đang ăn. Ngày mai lại vào bụng một tù nhân khác. Cứ thế.

Vợ con còn đâu đó trên quê hương mà tưởng đang ở hành tinh khác hay thuộc về tiền kiếp. Những người đàn bà đầu tắt mặt tối, chạy ngang chạy dọc, ngược xuôi vất vả chắt mót từng bửa ăn nuôi sống cả nhà. Nghề dạy nghề. Chợ trời, bán từng cái quần đen áo lót thời ngụy. Bán bàn bán ghế, bán dần dà, có gì bán nấy, còn gì bán hết. Từ cái nhỏ đến cái lớn, cuối cùng bán tuốt luốt. Nếu cần, thân xác này nghĩa lý gì. Chúa Phật đều đúng, tâm linh mới là cốt yếu. Em bán em vì anh. Vì một nắm cơm, ít muối khô, chút thịt xào mặn, vài cái bánh, gói chè khô, bao thuốc lá. Chắt chiu gói ghém lòng thương yêu lẫn oan nghiệt. Đường dài không quản ngại. Niềm vui là giờ phút chen chân ngủ gật trên những toa xe lửa đầy người và thú. Đường dài nắng nóng nung người, nhưng hề hấn chi. Đầu tóc rũ rươi biếng chải, mặt mày lâu ngày quên bẵng phấn son. Tình nghĩa vợ chồng là chút này đây. Nhìn thấy nhau một năm được mười lăm phút, biết anh còn sống là còn hi vọng, còn cho em đủ nghị lực bươn bả một hai với đời. Và như thế, em cần phải sống, và sống thẳng sống hùng sống mạnh hơn bao giờ hết. Bởi vì sự sống của em cần thiết và ý nghĩa biết bao!

Nhiều đêm cố xua đuổi hình ảnh vợ con ra khỏi đầu. Như đưa tay mằn mò bắt, kiếm từng con chí, rệp bám trên tóc, ẩn trốn trong nếp da để giết, thầm nghĩ coi như mình đã chết, may ra mới nhẹ lòng.

 

Nhưng rồi người tù cải tạo không chết. Bức màn sắt mấy chục năm tự bịt mắt, nay từ từ chuyển mình. Tường Bá-linh đã bị sụp. Khối Cộng Sản Đông Âu lần lượt gẫy đổ. Liên Xô theo gương tư bản Nhật, Mỹ. Nhà tù chính trị được giải tán dần. Cùng nhau rủ bùn đứng dậy sau hơn nửa thế kỷ u mê tăm tối sai lầm.

Hoa Kỳ bắt đầu lộ diện sau gần hai mươi năm thống nhất đất nước. Nay lại cũng tự đứng ra đóng vai anh hùng cao bồi cứu vớt dân tộc Việt bằng dollars xanh thay cho súng đạn thời chiến. Và rồi, không quên đưa ngón tay út vực người tù cải tạo đứng dậy. Nhưng người đã một thời hô hào, hứa chắc, chúng ta là đồng minh, chiến hữu, sống chết có nhau, nhưng đã phủi tay nửa chừng không chút xót thương. Việt Nam luôn là mảnh đất người ngoại quốc xử dụng để thử mọi loại vũ khí tối tân. Là thí điểm để thải khí cụ lỗi thời của những siêu cường tranh dành quyền lực. Là con điếm rẻ tiền cho bất cứ hạng đàn ông nào muốn hành lạc. Là thùng rác vĩ đại có sức chứa mọi thứ dơ bẩn nhất trên đời. Là nơi chốn áp dụng mọi cặn bã của bất cứ triết lý – chủ nghĩa – tư tưởng, trò chơi trí thức do con người nghĩ ra.

Bắc Việt Hồ Chí Minh và Trung Cộng Chu Ân Lai một thời hữu nghị thắm thiết môi hở răng lạnh. Răng cắn môi đau. Nay Việt Nam độc lập, thống nhất, chẳng những không nhận được thiệp “chia vui” mà còn đe dọa đưa quân sang chiếm đất dành dân như thời lập quốc Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh... Nga Sô cũng một thời chủ trương đồng minh hữu nghĩ. Anh anh em em. Nay hòa bình, giang sơn thu về một mối, tôi về thăm lại cố hương, đi từ Bắc chí Nam, vòng ra Trung, hình ảnh còn sót lại là tượng ông Lenin đứng giữa công viên Hà Nội, với câu vè trẻ con diễu cợt:

 Ông Lênin sanh ở nước Nga

 Cớ sao lại gác vườn hoa nước mình.

Mà trong thời chiến, nhà thơ Xuân Thủy từng ca ngợi, “Ôi Lenin! Bộ óc thiên tài.” Dấu tích Nga Sô gần như bị xóa sạch, tưởng chừng như chưa từng tham dự, liên hệ ở đất nước này dù chỉ ngược giòng thời gian chưa tới phần tư thế kỷ. Nơi họ từng gieo gió rắc mưa. Ho một tiếng là mấy ông tướng lãnh miền Bắc mất hồn khiếp vía. Giờ đây, cả nước chỉ còn thấy Mỹ. Mỹ là chính. Mỹ là đúng. Mỹ là number one. Mỹ là tất cả. Mỹ là quốc giáo. Mọi người già trẻ lớn bé đàn bà đàn ông đua nhau học tiếng Mỹ, lấy lòng Mỹ, làm bồi Mỹ, bợ đỡ Mỹ, van xin Mỹ, thiếu điều lạy lục xin được trở thành công dân Mỹ bằng bất cứ giá nào.

 

Cộng Sản hất tay. Mỹ phủi tay. Cả hai cùng đối xử tệ hại/bạc, nhưng “cựu” tù nhân cải tạo, lần đầu tiên trong đời có được sự lựa chọn. Đi hay ở, lựa chọn nào cũng khắc nghiệt. Nhưng đành chọn cái đỡ khắc nghiệt hơn. Ít ra có được tự do - trên một nghĩa nào đó - là không buộc phải suy nghĩ theo cái đầu của người khác. Bù lại ra đi, đồng nghĩa bước vào nhà tù lưu thân biệt xứ. Bắt đầu lại bằng hai bàn tay trắng, với ngôn ngữ, văn hóa hoàn toàn khác biệt, và với cơ thể rã rệu về chiều, như những toa tầu chất chứa nặng nỗi khổ đau, chán chường, mệt mỏi, bất lực.

Mỹ đặt nặng nhân quyền là danh dự quốc gia, với truyền thống tự do, dân chủ. Một thời từng nhúng tay khuấy động cuộc chiến Việt Nam, nay họ nhìn về Việt Nam như một biến cố, dửng dưng, không dính líu tình cảm. Đúng là ngoại quốc và ngoại cuộc. Cuốn sách nghiên cứu Việt Nam của cựu bộ trưởng MacNamara sau hai mươi năm chiến tranh kết thúc, với biết bao vật đổi sao dời, xương người chất thành núi, máu người chảy thành biển, giờ đây khơi khơi nhìn về “Việt Nam” như một bài học lầm lẫn đáng tiec. Như lời thú tội, biện minh, tỉnh táo nhận lỗi trước lịch sử nhân loại. Nhưng vẫn giữ vững lập trường cố hữu, là chối bỏ hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Danh xưng “họ” lại bị đổi thêm lần nữa. Từ tù nhân cải tạo, bỗng dưng một sáng một chiều trở thành cựu tù nhân chính trị, không ngoài mục đích hợp thức hóa để được sang Mỹ. Số phận họ trở thành những con vật trao đổi, dùng để đặt điều kiện tìm kiếm hài cốt lính Mỹ rã mục vo tăm biệt tích trên đất nước Việt Nam. Chẳng khác cuộc bán buôn nô lệ da đen thuở thành lập Hiệp Chủng Quốc. Chỉ khác, nô lệ da đen ngày trước khắc số trên da để khỏi lẫn lộn, thất lạc. Ngày nay hiện đại tân kỳ hơn, những mẫu số riêng gõ bằng computer in trên hồ sơ của mỗi HO, rồi được ưu đãi khoác cho tấm áo nhân quyền, kẻ hưởng đặc ân nhân ái cuối mùa ở cuối thế kỷ hai mươi do dân tộc Mỹ ban phát. Họ sống chưa trọn kiếp người, tiếp tục làm kẻ lưu vong, bị tách bật ra khỏi mảnh đất chôn sâu cuống rún ngày vừa lọt lòng mẹ, nhưng không được dung dưỡng, đùm bọc, nuôi nấng, thương yêu. Trái lại, còn bị đối xử cực kỳ tàn nhẫn, dù rằng họ đã tận tuy ở với “nó” suốt dọc cuộc đời.

Giờ đây anh hoàn toàn là free man!

Nhưng là free man trong lưu đày, biệt xứ.

Và để giữ tâm hồn được bình yên thanh thản ở những năm cuối đời, người HO phải tự huân tập lòng bao dung, từ bi, tha thứ. Tha thứ cho những người đã từng hãm hiếp mình. Nhục này quyết trả, hận thù sục sôi, oan nghiệt chồng chất... Tất cả giờ đây phải chính họ tự tay tháo gỡ, hất tung tảng đá nghìn cân đeo cứng trong lòng. “Hận thù chỉ phá hủy cuộc đời.” Lời Phật dạy. Phúc âm nhân ái của Chúa nay cũng được cựu tù nhân đưa ra áp dụng tận tình.

Đầu mùa hè 1996, buổi triễn lãm tranh với chủ đề An Ocean Aparts – Nghìn Trùng Xa Cách của một số họa sĩ Việt Nam cư ngụ trong và ngoài nước, treo ở bảo tàng viện giữa lòng phố San José miền bắc California, thành phố đông dân cư Việt đứng thứ nhì hải ngoại. Câu chuyện xảy ra trong gia đình tôi quen biết. Người con trai lớn sang đây cùng với mẹ từ năm 1975, là kỷ sư tốt nghiệp đại học Berkeley. Người mẹ hiện làm phụ tá văn phòng luật sư. Hai mẹ con hăm hở tham dự buổi triễn lãm. Người bố cùng cô con gái chậm chân kẹt lại Việt Nam. Người bố trả cái giá cho sự chậm chân bằng mười lăm năm tù, vừa tội “lính ngụy” vừa tội vượt biên. Cô con gái học chưa xong tiểu học. Hành trang vào đời là những năm tháng bụng rỗng chân trần cháy bỏng rượt đuổi theo khách hang xe đò năn nỉ mua giùm từng củ khoai, gói đậu phộng luộc, vài điếu thuốc lá lẻ, thỏi kẹo cao su. Ông bố HO tỏ ý ngăn cản, “Ngày nào còn Cộng Sản là dân còn bị đọa đày. Cộng Sản không hề chủ trương giao lưu văn hóa.” Kinh nghiệm đắng cay dạy ông điều này. Tông thống Nguyễn Văn Thiệu, với tài lãnh đạo vô cùng giới hạn, nhưng để lại một câu nhớ đời, “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.” Nhưng người con trai vẫn nhất định đi tìm hiểu văn hóa cội nguồn. Người vợ vẫn cương quyết thể hiện tự do dân chủ nhân quyền.

Đêm đó, ông HO thức trắng ôm đầu suy nghĩ. Chuyện nọ dẫn tới chuyện kia. Chuyện này chồng lên chuyện khác... Chuyện đời, chuyện người, chuyện ta, chuyện nước, chuyện chung, chuyện riêng... Nỗi bất lực tuyệt vọng lại làm tê liệt tấm/tâm thân ông. Từng ấy tháng năm xa cách người thân yêu ruột thịt, là từng ấy khoảng cách khó khăn buộc chặt (lại) lòng nhau.

Trong đầu ông hiện ra những khuôn mặt thờ ơ, lạnh lẽo của những ông HO sáng-trưa-chiều-tối ngồi dính chặt thân xác trong những chiếc ghế nhựa xỉn màu trong khu Lion. Ngồi chỉ mà ngồi, như sống, hoàn toàn vô dụng, vô nghĩa, vô trách nhiệm, hoàn toàn bị bôi xóa.

Buổi chiều mùa đông, đâu đó trong thành phố thuộc miền đông nước Mỹ. Ông HO Việt Nam mở cửa nhìn quanh bốn phía. Trời đất bao phủ màu tuyết trắng xóa. Tuyết đồng nghĩa là lạnh, và nơi mỗi ngày ông mỗi lăn lại gần, là huyệt mộ.

Buổi sáng mùa hè, ở góc phố miền Nam, California. Ông HO Việt Nam nhỏ thó, còm cõi như cả đời thiếu ăn. Thò tay nhặt nhanh tờ báo chợ. Đọc, đọc, đọc ngấu nghiến. Niềm an vui, dịu lòng chốc lát. Những năm lính tráng, những năm tù rạc, là những năm đầu óc bị đóng cửa tối om. Nơi đây, chữ người đọc không hiểu. Những tờ báo chợ, báo biếu, báo lượm vẫn là niềm lưu luyến nối liền quê nhà.

Rồi một lúc nào đó, bất chợt ông HO nghĩ, ban đầu chỉ là tưởng tượng vẩn vơ nhưng dần dà tin rằng sự thật, người Việt Nam mắc nợ ông, người Mỹ mắc nợ ông. Nợ ông những năm lính tráng thanh xuan, những năm tù đầy trung niên cải tạo. Rồi ông cuồng nộ, giận dữ, la hét, đập phá... Lại bị gán ngay thêm nhãn hiệu mới: “Hội chứng hậu chiến tranh.”

Đêm về, toàn thân ông phủ chụp bởi những cơn ác mộng. Tiếng kẻng, giọng quát tháo, chửi rủa cùng ánh mắt gườm gườm đe dọa của những tay quản giáo, cai ngục như sẵn sàng nhai tươi nuốt sống ông bất cứ lúc nào. Mồ hôi tuôn vả như tắm. Quá khứ vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi. Ông HO giơ đây hội đủ điều kiện lãnh trợ cấp tàn tật, không tâm thần thì cũng thể xác, hoặc cả hai.

Hầu hết, cuối đời của những ông HO là những kẻ không nhà, không quê hương, không vợ, không con, không tiền, không của cải, không chỗ đứng trong xã hội. Sống hoang mang không biết để làm gì. Ý nghĩa cuộc sống nằm nơi đâu? Họ mất hẳn sự thăng bằng, như đang đi trên sợi dây căng cứng, có thể ngã nhào bất cứ lúc nào.

Mắt mờ răng rụng, thể chất yếu kém. Những cơn đau bao tử hoành hành đến lạnh toát mồ hôi hột. Hậu quả của những năm tù tội, nhưng họ phải dốc sức kéo lê kiếp sống còn lại.

Rồi cũng phải trút bỏ tất cả, sống với tấm lòng vị tha. Cứ sống, trường tồn trong mọi tình huống bi đát, oan nghiêt. Soi bóng mình bằng lòng nhân. Lòng nhân có thật, bởi họ đã chứng tỏ, thực hành được điều này. Và đó là dấu tích của họ để lại, một lần đi qua trần thế này.

Người tin vao triết lý nhà Phật, nghĩ nghiệp chướng mình còn nặng. Biết đâu những tay công an, quản giáo, cai ngục kia là oan hồn dân Chiêm Thành quật khởi đòi món nợ tiền kiếp.

Người theo Thiên Chúa giáo, tự an ủi vào lời Chúa dạy, “Ai theo ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá.” Sống ở thế gian càng nhiều thử thách, thì chết càng sớm vào nước thiên đàng.

Người không dựa/tin vào bất cứ tín ngưỡng nào thì gạt hận thù sang một bên, như đẩy tảng đá đè ngan cỏ dại.

Người còn chút tàn hơi, cần cho mọi người biết mình vẫn còn hiện hữu, thì viết báo lên án hoặc xuống đường biểu tình chống đối chế độ cộng sản bên quê nhà. Hành động mà lắm người đồng hương kết án chống cong lỗi thời hoặc quá khích, ung nhọt cộng đồng. Người bản xứ nhìn ho là đám người tội tình, tội nghiệp của chiến tranh Việt Nam rơi xót lại.

Người thực tế, tỉnh táo, “Chúng đã cướp đất ta, dân ta, gia đình ta, bao nhiêu năm đời ta, chẳng lẽ để chúng cướp luôn cái tâm bình an cuối đời của ta.”

Người công tâm, trí tuệ nhìn thấu rõ sự việc trong cuộc chiến vừa qua, minh định rằng mọi người dân hai miền Nam Bắc, bộ-độ- cộng-sản hay quân-đội-quốc-gia, tất cả đều là nạn nhân. Không nên vuốt ve vết đau của riêng mình, mà bôi xóa vết đau của người khác.

Người quá yếu đuối thì ngập chìm trong rượu bia, bài bạc, ngắc ngoải sống dở chết dở.

 

Quá khứ là một phần của đời sống. Sống không chỉ thuần thuần thắng, thuần hủy diệt, thuần muốn cả về mình. Định nghĩa anh hùng thời nay không còn nhất thiết phải chiếm đất giành dân, giết hại bao nhiêu mạng người, mà trái lại, thể hiện hành động cứu/vớt người. Những câu tuyên truyền ngụy biện, Giết lầm còn hơn bỏ sót. Hoặc, Giết một người, cứu vạn người phải kết án là khát máu, bởi một người hay vạn người đều là con người.

Sự thù hằn như bóng với hình, khó lòng dứt lìa. Cố quên, cố đẩy, cố xua đuổi quả là khó khăn, khổ nhọc. Và thường thì trong trong những biến cố – thời gian ngắn hạn – những người sống với lòng nhân, có thể không đưa tới những thành công thực tiễn, trái lại họ phải gánh chịu sự bất công, thiệt thòi. Nhưng xét về đường lâu đường dài – quá trình lịch sử văn minh nhân loại – loài người còn tồn tại được đến ngày hôm nay là do bởi lòng nhân. Khổng tử từng phát biểu khi được hỏi về yếu tính của con người, “Nhân giả nhân dã.” Con người là thiện. Con người sống với với từ tâm, độ lượng. Người Thiên Chúa Giáo tin rằng Chúa Giêsu ngày trước bị đóng đinh trên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại. Thì ngày nay, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã và đang gánh chịu sự oan nghiệt khổ đau. Phải chăng, đó là cái giá phải trả cho sự huy hoàng mai hậu của tổ quốc Việt Nam?

 

LÊ THỊ THẤM VÂN

 



[i] Trích Việt Nam, ngày tôi trở về -Nxb Anh Thư 1996.

 

-Nguồn HỢP LƯU 82

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Ba 202110:39 CH(Xem: 1260)
Đã 43 năm trôi qua, sự khe khắt về lý lịch, về người của chế độ cũ dần rồi cũng nguôi ngoai. Nhờ đó mà tôi mới được viết lên những dòng này cho chị họ tôi. Chị Bảy Long, vợ một sỹ quan VNCH, người phụ nữ thầm lặng gánh chịu những đau thương mất mát của chiến tranh của nghiệp đời. Chị đã già, tuổi xuân đã qua đi, chị còn bất hạnh hơn cả bà quả phụ đại úy Đương vì không ai biết đến chị. Hết một đời đến khi nhắm mắt, chị sẽ vĩnh viễn không bao giờ được hốt một nắm đất nơi anh đã hy sinh để về chùa cúi lạy. Chị chẳng còn một đứa con nào để nương tựa tuổi già heo hắt bên song. Ôi đất mẹ Việt nam còn có bao người như thế... Thương biết bao!
08 Tháng Ba 20216:50 CH(Xem: 1341)
Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ.
03 Tháng Ba 202112:01 SA(Xem: 1235)
Tôi nhớ rõ ràng như chỉ mới hôm qua. Những năm còn bé nhỏ ở tuổi 12. Có một chiều, tôi ôm con gà đứng khóc tỉ tê, khóc sướt mướt, dai dẳng trước căn lều của người hàng xóm. Đã qua không biết bao nhiêu thăng trầm, trôi nổi của những tháng năm dài… Vậy mà sự rúng động trong trái tim bé nhỏ của tôi vẫn y nguyên, vẫn còn như rất mới.
02 Tháng Ba 202111:49 CH(Xem: 1418)
Năm ấy tôi chỉ mới tuổi mười ba, đang học lớp đệ lục trường Nữ trung học Quy nhơn. Cái tuổi be bé mới lớn ấy đã biết mộng mơ nhưng chưa biết chút chút nào về tình yêu đôi lứa cả. Thế nhưng tôi lại có một buổi thuyết trình về tình yêu và đó lại là một kỷ niệm tôi thương của thuở học trò.
20 Tháng Hai 20213:06 CH(Xem: 1323)
Dù Marquez phải sống lưu vong ở Mễ Tây Cơ, 30 năm cuối cuộc đời vì chống độc tài tham nhũng, dù ông bị thuyết Cộng Sản mê hoặc, dù Colombia và cả đại lục Nam Mỹ không nước nào theo Cộng Sản, nhưng khi ông mất năm 2014, ông vẫn là niềm hãnh diện của họ. ...Năm 1991, Liên Sô Cộng Sản tan rã, là một thất vọng nảo nề cho Marquez. Không hiểu sau đó ông có phản tỉnh không khi nhìn lại còn một vài nước còn theo chế độ cộng sản như Cuba, Triều Tiên, Việt Nam, Trung Hoa, độc tài và tham nhũng còn gấp trăm lần so với chế độ mà ông sống thời ông còn ở Colombia.
11 Tháng Hai 202111:43 CH(Xem: 1163)
Aó tím ơi! Tôi đã mất em trong cuộc đời này nhưng tôi vẫn hạnh phúc vì em thường trực trong trái tim rách nát này. Bên cửa sổ trăng đã lặn, chồi non mơn mởn hàng cây trong gió bấc rét mướt. Ừ nhỉ… Tháng chạp đã tàn…
29 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 2293)
Như những cô học trò nhỏ, áo trắng điệu đà tha thướt. Tôi còn có thêm giọng nói êm êm, thanh thoát và dịu dàng. Chúng tôi, những cô thiếu nữ đẹp như trăng, sáng rỡ và líu lo những khi tới lớp, những lúc tan trường… / Thày đứng lớp Kim Văn, hai lần một tuần. Chúng tôi chờ giờ của Thày, như đợi chờ để được nghe những vần thơ trác tuyệt và để học trong cuốn sách đặc sắc, mỏng, nhưng tràn đầy những nét tinh hoa... / Thày không giáo điều, không nhất định cứ giảng dạy đúng theo chương trình của Bộ Giáo Dục đưa ra. Những thứ mà với chúng tôi đã gần như nhàm chán. Ngoại trừ có lần Thày giảng và bàn rất vui, rất dí dỏm về Tây Môn Khánh và Phan Kim Liên trong Kim Bình Mai…
23 Tháng Mười Hai 20209:35 CH(Xem: 1746)
Mùa gió! gió nhiều hơn bình thường, thậm chí nếu nàng không đứng vững, gió có thể làm nàng ngã, giờ thì một cơn gió cũng có thể làm nàng ngã… / Buổi sáng! Nàng nghe thấy tiếng gió tạt vào khung cửa, thi thoảng có tiếng rít của lá cây rừng, tuyệt nhiên không có một tiếng chim, nàng nghĩ “giá mà có một tiếng chim, nàng sẽ đáp lời nó”. Cuối cùng thì không có tiếng chim nào ngoài tiếng rít của gió… nàng co hai chân sát tận ngực, chắc giờ này anh đang bắt đầu chuyến hành trình của mình!
23 Tháng Mười Hai 20201:49 SA(Xem: 1622)
Tôi yêu cây Khế, yêu từ thuở ấu thời cho đến bây giờ vẫn mãi còn yêu. Chiều hôm qua ngang qua nhà xưa của ba mẹ ở đường Phan bội Châu trời bỗng đổ mưa to; tôi đứng đụt mưa trước hiên nhà cũ, lòng chợt chùng xuống nhớ nhung kỷ niệm của một thời xa xôi và tôi nhớ cây Khế. Đó là kỷ niệm của tôi.
13 Tháng Tám 20203:03 CH(Xem: 3321)
Mãi tới năm 2010, hơn 45 năm sau, chúng tôi mới có dịp quay lại Phú Quốc. / Chuyến bay hôm đó, ngồi trong một máy bay cánh quạt của Nga, gần giống như máy bay DC3 thời xưa của Air Vietnam, nhưng xập xệ hơn nhiều. Bầu trời vẫn xanh, nắng vẫn rực rỡ, những đám mây vẫn bạc trắng tinh. Phía dưới những thị trấn nhỏ mới mọc lên bên các nhánh Cửu Long Giang. Ruộng đồng xanh mát không còn những hố bom đạn loang lổ như ngày xưa.