- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Sống với lòng Nhân

20 Tháng Tư 20215:10 CH(Xem: 33250)


Le Thi Tham Van-song voi long nhan

LÊ THỊ THẤM VÂN

 

Sống với lòng Nhân[i]

 

 “You may say I’m a dreamer,

 but I’m not the only one

 I hope someday you’ll join us,

 And the world will live as one.”

 John Lennon

 

Hai mươi năm sau, trở về, để thấy miền Bắc đã thắng trên mặt trận quân sự, nhưng rõ ràng miền Nam đang thắng trong thời bình.” Một người bạn quen biết lâu năm, từng về lại Việt Nam nhiều lần, nói với tôi như thế, giọng chắc nịch.

 Mỗi lần nghĩ đến chiến tranh, giải phóng đất nước, cách mạng dân tộc, tự do nhân quyền, xuống đường biểu tình... đầu óc tôi lơ mơ liên tưởng đến vụ Thiên An Môn năm nào. Hình ảnh người đàn ông hiên ngang tiến ra giang rộng hai tay đòi hỏi tự do, chận đứng xe tăng, chống lại quyền lãnh đạo độc tài của đảng cộng sản Trung Quốc. Hình ảnh anh hùng, xem cái chết tựa lông hồng, với lòng đầy thách thức, đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho xứ sở. Hình ảnh đó đã đánh mạnh vào tâm não toàn thể người dân trên toàn thế giới. Riêng tôi, vẫn âm thầm nghĩ tới người lính lái chiếc xe tăng khổng lồ đầy răng sắt. Hẳn ông phải là một người rất đỗi từ bi, nhân hậu? Thương người như thể thương thân. Ông từ chối giet người, dù trong tay nắm toàn quyền nghiền nát người đàn ông hiên ngang hùng dũng kia. Hành động nghiền nát đó, sẽ được coi như một chiến công hiển hách đối với đảng và nhà nước. Bởi biết đâu, sau khi đám đông rã đám tan hàng. Trong khi người đàn ông đứng chặn đoàn xe tăng được cả thế giới ca ngợi, thì người lính lái xe tăng bị cấp trên trừng phạt, đánh đập, tra tấn, thậm chí thủ tiêu vì nghi ngờ là tay sai của địch, hoặc đã không thi hành chu toàn nhiệm vụ. Ai đúng, ai sai trong biến cố Thiên An Môn tại quảng trường đỏ thuộc đất ngàn năm văn hiến kia?

 

Cuộc chiến quốc-cộng vừa qua. Nam Bắc phân tranh, máu đổ tương tàn, nồi da xáo thịt, giết hại lẫn nhau... tưởng đã không thể chấm dứt. Như trong gia đình, vì bất đồng chính kiến, hoặc nghe lời người ngoài xúi bảy, hai anh em nhất định một ăn một thua, không ai nhường nhịn ai. Cuối cùng, vì lý do nào đấy, người anh dừng tay chịu thua người em. (Có thể) vì người anh sớm ý thức được điều mình đang làm là bậy, vì hèn nhát sợ chết, vì thù ghét bất công, vì nhận thấy sự vô nghĩa của việc đang làm, vì không muốn thấy bố mẹ buồn khổ, vì đơn giản là chan tiếp tục đánh đấm nhau, vì không còn tin vào lời của người ngoài, vì nghĩ hành động đánh nhau là vô lý, ngu xuẩn, vì thể chất sinh ra vốn yếu đuối, vì bản tính ham vui sống, vì tin vào một sự nhịn, chín sự lành...

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Dĩ nhiên còn/vì/bởi nhiều nguyên nhân sâu xa. Nhưng đây, tôi chỉ đưa ra một cái nhìn.

Người anh là miền Nam, người em là miền Bắc. Người em như con ngựa bị bịt mắt phóng nước đại. Chiêu bài ngoại bang, viện dẫn bao lý tưởng tốt đẹp, vì dân vì nước, vì thế giới đại đồng. Lý tưởng là ảo tưởng, nếu không đi đôi với đầu óc, mà thuần dựa vào con tim.

Vì chủ nghĩa Cộng Sản, giáo điều ý thức hệ, bánh vẽ khổng lồ tạo bằng khoảng trống đã đẩy đưa bao kẻ trở thành đồ tể giết người. Thề nguyền “phanh thây, uống máu quân thù.”

 “Tiếng người thét:

 ‘Mau lên gươm lắp súng!’

 Và cả đoàn quân

(…) Vụt ào lên, quyết phân thây uống máu

Giặc cường quyền!

Ôi khoái trá vô biên!”

 Tố Hữu

 

“Vùng lên chiến sĩ ta ơi!

(…) Bụi hè đường cuốn lốc tung bay,

Xác thù rơi dưới gót giày

Ầm ầm tiếng súng vui thay

Trông ngày mai sáng láng...”

 Nguyễn Đình Thi

 

“Súng của ta

 tính tầm tính hướng

Tính theo góc độ của lòng căm.”

 Chính Hữu

 

 “Một ý chí bay ra đầu ngọn súng

Một niềm vui nghiến nát mọi quân thù.”

 Vũ Hữu

 

“Vì độc lập vì tự do

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

Tiến lên!

Chiến sĩ, đồng bào!”

 Hồ Chí Minh

 

 “Nền độc lập đúc trong lò lửa máu

 Gương anh hùng sáng rực cả non sông.

Trên vũ đài nhân loại cuộc vui chung

Có tiếng hát dân Việt Nam hoàng tráng.”

 Sóng Hồng

 

Để rồi, khi vừa đặt chân vào đất miền Nam ngày 30 tháng 4,1975 người Cộng Sản mới bật ngửa, “ai giải phóng ai?”

Những lấp liếm, mị dân, che đậy, tối lòng, cuồng tín đã gây nên biết bao oan nghiệt, khổ đau chồng chất thêm trên mảnh đất von đầy tai ương, bất hạnh từ ngày lập quốc.

 

Người lính Cộng Hòa, đã một thời xưng danh như thế. Dù người miền Bắc chiến thắng muốn tiêu diệt, người ngoại quốc hoàn toàn không chút thiện cảm, người Mỹ phủi tay. Tất cả đều muốn quên, cố tình gạt bỏ, xóa nhòa sự hiện hữu người lính Cộng Hòa cũng chẳng thể được. Họ đã có mặt trong khoảng vài ba chục năm trong dòng lịch sử dân tộc.

Tuổi thanh xuân, tuổi bước vào đời là bước vào bên trong cửa thần chết, ngửi mùi tử khí của chính mình. Chiến tranh đồng nghĩa với sự tàn bạo. Biết là tàn bạo nhưng phải sống với tàn bạo. Và bất nhẫn là, sự tàn bạo được chấp thuận, đánh bóng tối đa.

Sống trong sự chết như mảng lưới giăng ngang đỉnh đầu, chực chờ phủ chụp. Mà trên đời ai chẳng sợ chết? Bản tính con người. Vả lại, chưa được sống tại sao phải chết?

Chiến đấu trong sự vô nghĩa, vô vọng, vô lý, lại không có tương lai, vô tình làm tay sai cho ngoại bang, đế quốc.

Cách đây khá lâu, người bạn lớn tuổi kể tôi nghe câu chuyện đã ám ảnh anh. Người anh cả của anh thuở học chưa xong tiểu học trường làng, tóc cắt ngắn, quanh năm quần đùi, hai bàn chân hiếm khi gần gũi với đôi dép. Một buổi chiều hè trời chạng vạng, người anh cả đang đứng sớ rớ ở vườn sau với túi trĩu nặng những viên bi sau một ngày cong lưng ăn thua cùng mấy đứa bạn, thì ông anh hàng xóm ở sát vách cả chục năm, lớn hơn người anh cả gần chục tuổi, trước ngày nhập ngũ, bỗng dưng xoa đầu người bạn nhỏ, “Mày may hơn tao, khi mày lớn thì chiến tranh chắc đã chấm dứt, khỏi bị đi lính.” Thằng bé giương mắt ngước nhìn ông anh hàng xóm, ông anh hàng xóm ngước mắt nhìn trời. Lần đầu tiên trong đời, thằng bé biết suy tư vì một câu nói. Chiến tranh làm người ta trưởng thành trong suy nghĩ, nhưng xác thân thì cứ lì lợm thách thức thời gian.

Rồi thằng bé theo gia đình trôi nổi. Ông anh hàng xóm một thời chia chung tấm vách cũng chìm trôi theo dòng đời, dòng thời gian, dòng chinh chiến. Thế hệ thằng bé lớn lên, chẳng những chiến cuộc chưa chấm dứt, trái lại càng ngày cang tàn khốc, dữ dội. Rồi một ngày, thằng bé cũng nối gót ông anh hàng xóm lên đường tòng quân giết giặc. Đêm trước ngày đi, anh hoang mang nghĩ nhiều về ông anh hàng xóm thời tuổi dại. Chẳng biết còn sống hay đã chết, hoặc có thể ở một xó xỉnh nào đó trong thành phố, ông đang nửa say nửa tỉnh, khề khà vỗ về cái chân bị cụt. Rồi anh vẩn vơ nghĩ tiếp, “Ngày mai vào quân trường, không chừng ông anh hàng xóm là cấp chỉ huy của mình?” Kết cuộc là chiến tranh không chấm dứt khi thằng bé lớn lên như ông anh hàng xóm đã hi vọng. Và không những là thằng bé kia, tức người anh cả của bạn tôi, đã trở thành một tổn thất vô danh, mà luôn cả người em út của ban tôi cũng đã trở thành một tên tù cải tạo, lần đầu được trông thấy miền Bắc, quê hương cha mẹ, với tư cách là một tù nhân.

Trong thời chinh chiến, thanh niên đánh mất quãng đời trai trẻ. Cứ đến tuổi là phải nhập ngu. Lớp lớp hàng hàng xếp dọc tiến thẳng tiến nhanh vào quân đội, đi vào nơi gió cát. Anh chàng thư sinh ngồi cạnh chị cả tôi suốt niên học, tướng trói gà không chặt. Chị thường nói đùa anh có cổ tay chẳng lớn hơn cổ tay chị là bao. Qua một mùa hè, tình cờ gặp lại, tóc đã cắt ngắn, hỏi ra anh sắp nhập ngũ, đã có giấy gọi. Một năm sau gặp lại trên hè phố, mặt anh sạm đen, quần áo nhà binh, đang nghỉ phép. Vài năm sau gặp lại, anh bạn thư sinh ngày nào, nay bỗng dưng biết đâm chém giết người, khướt say ngất ngưởng, ăn tục nói phét, coi cuộc đời là sàn vũ trường & bãi chiến trường. Triết thuyết hiện sinh của Jean-Paul Sartre, hiểu theo lối bình dân, du nhập vào miền Nam được giới trẻ hưởng ứng nhiệt liệt vì hoàn cảnh thời sự xô đẩy. Họ áp dụng vào đời sống hết sức chân thành, đầy nhiệt tâm và nhiệt tình.

Truyện đầu tay của Nhã Ca tôi đọc lúc mới sang Mỹ, Đêm Nghe Tiếng Đại Bác. Bà tả tâm trạng đợi chờ của một gia đình – cả người tình – chuyến về phép của người con từ chiến trận trong đêm giao thừa. Cả nhà chờ đợi mãi, ruột càng lúc càng nóng, trong khi đĩa chả giò đã nguội ngắt. Hy vong càng về khuya càng héo hắt như tấm vé số trong tay người mẹ. Rồi cuối cùng cửa mở, người về không phải là người cả nhà đang mong đợi, mà là đồng đội đến báo hung tin. Nhã Ca viết truyện này trong giai đoạn đầu cuộc chiến, dù oan nghiệt nhưng còn đượm nét dịu dàng, đằm thắm. Nhưng là thông điệp dự báo mùa thương khó, khổ nạn sắp đến. Nhã Ca chưa tả anh lính chết trận như thế nào, thảm thiết, đau đớn ra sao. Mãi về sau, cả nước tìm thay điều này trong Giải Khăn Sô Cho Huế.

Cách đây không lâu, trong quán ăn nằm trên mép vịnh San Francisco trông ra biển. Gió và nắng đầu hè lồng lộng. Quanh vài bạn văn thân thiết. Một người, vì lý do lan man nào đó, đẩy đưa như tình cờ, nhắc lại ký ức trong một chuyến hành quân, đồng đội cũng là bạn thân của anh bị địch bắn chết, xác nằm cách xa anh một đoạn. Đạn bắn như mưa rào. Anh chạy ào ra, cố lôi cho được xác thằng bạn. Chẳng biết lôi đi đâu. Nó là cái xác không hồn, không còn nhúch nhích, cựa quậy. Nó đã chết. Chết là hết. Nhưng anh vẫn cứ lôi, cứ kéo. Chẳng lẽ để nó nằm đó một mình? Anh lôi như đánh thức nó dậy, bảo nó chạy theo anh em đồng đội. Đạn chi chít trong không gian, anh kéo lê xác người bạn trong tiếng bom đạn, tiếng gào thét, tiếng gió thổi cây cối kêu vù vù... Và rồi, xác thằng bạn lại là cái bia đỡ đạn cho anh. Những viên đạn nã vào cái xác, nằm gọn trong đó, không xuyên qua để gắm chặt vào thân thể anh. Anh kể cùng những giọt nước mắt trào ra bất chợt. Anh đã cố chôn vùi một khoảng thời gian đầy bất trắc và bất hạnh trong phần đời thuộc miền sâu quá khư. Xác người bạn đồng đội nay đã rã mục đâu đó trên quê hương. Cái xác mà, rã bên này sông Bến Hải được liệt vào phân bón tươi tốt sơn hà. Rủi thay rã ở bên kia sông, bị xem làm ung thối đất đai.

Câu chuyện khác tôi nghe từ ông khách khi còn là sinh viên thỉnh thoảng tham gia công tác xã hội ở câu lạc bộ Viễn Xứ, thành phố Milpitas. Sau một trận giao tranh, trong số tử thi để lại trên chiến trường, xác chú bộ đội còn rất trẻ. Một người lính cấp dưới tò mò lục xem ví người chết. Ở ngăn sâu kín nhất, là giấy bạc năm trăm đồng. Kẹp giữa giấy bạc, là lá thư viết vài câu dở dang: “Kính thăm Thầy Đẻ. Con đang nghỉ trên đường. Thầy Đẻ gắng giữ gìn sức khỏe. Con vẫn mạnh...” Thằng lính đứng cạnh buột miệng chửi thề, “Đụ má! vầy là kể như thư này đéo tới tay thầy đẻ rồi!” Ông nghe, bỗng dưng tim thót mạnh. Biết đâu ngày mai xác ông cũng như thằng bộ đội đang nằm sấp kia, máu và đất bê bết mặt, nhưng hai mắt cố mở trừng trừng nhìn ông... Tuần trước, ông nhận được thư vợ, báo tin cái thai đã hơn năm tháng. Có lẽ giờ này đứa bé bắt đầu ngọ nguậy trong bụng mẹ nó. Biết ông có còn sống đến ngày thấy mặt con không? Lúc đó, ông chỉ muốn buông súng, về ngay với gia đình.

Cảnh những đứa con ngơ ngác bao quanh xác cha, như ngơ ngác trước cuộc đời. Cuộc đời vốn là con sư tử lúc nào cũng chực giang móng nhọn ra vồ chụp. Dù vô tâm đến đâu, dù chai sạn đến đâu, dù tàn nhẫn đến đâu, người lính cũng không khỏi băn khoăn bứt rứt khổ nhọc khi đến nhà đồng đội báo hung tin. Phải chăng lòng nhân ái chỉ tỏ lộ qua sự chết chóc?

Hình ảnh những người lính mặt mày còn trẻ thơ, cơ thể chưa phát triển toàn diện, mắt cứ dõi nhìn khắp bốn phương, lòng ngẩn ngơ tự hỏi, phương nào là cả nhà đang quây quần trước mâm cơm chiều?

Cuối cùng, vô tình hay chủ ý, hay vì lý do phức tạp vượt ngoài lý giải/quyền hạn của mình, người lính buông súng, buông ba lô, giã từ vũ khí. Họ muốn trở về làm người dân thường đúng nghĩa. Tốt hay xấu? đúng hay sai? thiện hay ác? khôn hay dại? hèn nhát hay đại nhân? Họ phải bịt tai để khỏi phải nghe tiếng chê bai, thóa mạ, hèn yếu, thua trận, không dốc lòng chiến đấu, đồ bất lực, quân khiếp nhược, phản bội dân tộc, thứ vứt đi, không lý tưởng, thiếu dũng cảm... Thôi thì muôn vàn chữ nghĩa xấu xa nhất áp đặt lên vai người lính miền Nam Cộng Hòa.

Không tiếp tục chiến đấu, không thích giết người, mong mỏi hòa bình, ý thức hệ nhân bản, thương người như thể thương thân... thì có gì là xấu xa bỉ ổi đớn hèn? Nếu không cho rằng, phải giàu lòng nhân ái mới hành động được như thế.

Người lính miền Nam Cộng Hòa dầu gì cũng được thấm nhập văn minh, văn hóa từ thế giới tự do nhiều hơn. Họ không bị đào tạo sắt đá. Máu ảo tưởng không bị bơm vào người? Vì thế họ suy nghĩ hiện đại, phóng khoáng hơn người lính Cộng Sản miền Bắc. Bởi được tự do – dù là tương đối – trong thời điểm đó, nên họ biết quý trọng mạng sống, thấm đẫm tình ngươi hơn?

“tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng

tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người

(…) tôi mặc đồ xanh

 và mang đồng hồ da đen

 tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên

Trong sáu diêm quẹt còn rớt lại.”

 Phạm Công Thiện

 

 “Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi

(...) Chiều trên Phá Tam Giang

Mày nhìn con nước xiết

Nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành

Mà mày bỏ dở.

(...) Trên mịt mùng nghi hoặc

Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự bao giờ.”

 Tô Thùy Yên

 

“Kẻ thù ta đâu có phải là người

Giết người đi thì ta ở với ai?”

 Thích Nhất Hạnh

 

“Người đàn ông khóc vì phải khóc

Như anh ôm em và tủi cực vô cùng

Cuộc đời cứ mở tròn những con mắt thản nhiên nhìn tội lỗi.

(...) Hãy cho anh la bằng cổ em

Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác

Chúng nó say giết người như gạch ngói

Như lòng chúng ta thèm khát tương lai

(...) Lùa những ngón tay vào nhau

thân thể anh chờ đợi

đau dấu đạn

trong giây xích chiến xa...

Đêm không bao giờ không bao giờ đêm.”

Thanh Tâm Tuyền

 

Cùng thời điểm đó, bên kia Mỹ quốc, thanh niên đồng tuổi cũng bị áp đẩy lên máy bay, chở sang xứ nhiệt đới Việt Nam, nơi tên chốn mà tân binh phát âm còn ngọng nghịu, thậm chí địa danh chưa định vị được trên bản đồ thế giới. Số người còn lại, phản chiến bằng nhiều cách thức, biểu tình bạo động thì đốt xe, xung đột với cảnh sát. Hoac ôn hòa chống đối thì thắp nến đi chân trần vòng quanh khuôn viên đại học, cùng nhau nắm tay đồng ca“Give Peace a Chance.”  Kêu gọi thế giới hãy làm tình thay vì làm tội. Giơ cao biểu tượng hòa bình con chim bồ câu trắng, chận đứng giết nhau hình ảnh đóa hoa nở đầu họng súng.

 

30/4/1975 chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Người lính cả hai phiá đều thở phào nhẹ nhõm. Không tin cũng phải tin, là họ có số tốt, còn được sống sót. Quê hương đồng ca hòa bình trong tiếng đàn hát Trịnh Công Sơn.,”Rừng núi giang tay nối lại biển xa. Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà. Mặt đất bao la, anh em ta về... cùng nhau mừng vui như bão cát...” Cửa nhà thông mở Bắc Trung Nam. Người dân mọi miền nắm chặt tay nhau, nhưng lại hất tay người lính quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Con đường độc đạo họ bị lùa vào, là con đường học tập lao tù cải tạo. Những người Cộng Sản chiến thắng miền Bắc, đã biết trong đầu những người lính “thua trận” này nghĩ gì, dự định làm gì, có kịp tìm hiểu họ đâu mà đã lùa họ vào nhà tù tập thể, gấp rút vội vã chẳng khác lùa bầy lợn, để rồi đầy đọa, tra tấn họ bằng đủ mọi cách. Vắt cạn tinh thần lẫn thể xác họ như vắt đất khô chắt từng giọt nước. Cuối thế kỷ 20, ngoài kia nhân loại đang làm bảng liệt kê, nhân quyền được ưu tiên hàng đầu, viết hoa, gạch dưới. Mà nơi đây, người đối xử người tàn ác, dã man không kém gì thời trung cổ tra tấn tội nhân bằng vạc dầu sôi, voi dày ngựa xé, bằng chôn sống tập thể những người đang giơ tay gào thét van xin được buông tha.

Tù nhân dân sự bị nhốt còn biết trước được ngày tha, tùy tội phạm nặng hay nhẹ. Một năm, năm năm, mười năm, hay hai mươi năm. Nhưng với người tù cải tạo, là bản án chung thân. Tuyệt vọng thay cho hi vọng. “Giấy đây, kê khai tội ác của anh ra!” Trong đây, thua trận đồng nghĩa phạm tội. Vinh quang không nằm ở phe bại trận. Ngoài kia, thiên hạ phù thịnh hơn phù suy.

Chết bị đày xuống địa ngục, nghe quỷ Satan kể tội mình. Nếu được lên thiên đàng, nghe Chúa kể công mình. Đang sống mà phạm tội, ra trước tòa nghe bị cáo buộc tội mình. Chỉ trong lao tù Cộng Sản, chính mình buộc tội mình. Còn không, chẳng lẽ thành thật khai báo rằng, “Tội của tôi là đã không giết các anh!”

Đã vậy, cái bụng lúc nào cũng trống rỗng, làm sao để có chút gì trút vào trong đó, bất cứ gì. Mắt hoa lên vì đói. Lãnh phần ăn, bao giờ cũng nghĩ chén mình ít hơn bạn tù kế cạnh. Lắm lúc ước ao phải chi “nó” chết phắt thì chén mình được thêm vài hạt cơm. Nơi đây bao tử điều khiển cái đầu. Là địa ngục trần gian, không còn phân biệt được hèn nhát, khí phách, lương tri, tự trọng, đạo đức. Nhân phẩm là xa xỉ phẩm. Tất cả sống như bản năng gốc. Ăn ngủ đái ỉa và thở. Con vật còn có lúc được làm tình, “con người” này hoàn toàn không. Tỉnh táo một chút, đi lòng vòng quanh trại, mắt dáo dác mong kiếm được cái đinh, rồi lén lút dũa nhọn. Một đêm nào đó, dựng đứng đầu đinh chĩa thẳng lên trời, nằm ập xuống, đầu đinh nhon cắm phập lút ót. Giấc ngủ thiên thu. Nhưng đinh cũng không có. Tự kiếm cái chết liêm sỉ cũng chẳng phải dễ.

Một buổi chiều trời chập choạng, đi loanh quanh trong trại, bất chợt nhìn thấy những hột bo bo tụm lại một nhúm dưới bụi cây, mừng rỡ ngỡ chén cơm trời thương lén mang tặng riêng mình. Vội vã bốc ăn. Ăn lấy ăn để, sợ bọn tù khác phát giác. Ôi! những hạt bo bo cứng như đá sạn, được thải ra từ bụng một tù nhân khác. Đêm nay lai thải ra từ bụng người đang ăn. Ngày mai lại vào bụng một tù nhân khác. Cứ thế.

Vợ con còn đâu đó trên quê hương mà tưởng đang ở hành tinh khác hay thuộc về tiền kiếp. Những người đàn bà đầu tắt mặt tối, chạy ngang chạy dọc, ngược xuôi vất vả chắt mót từng bửa ăn nuôi sống cả nhà. Nghề dạy nghề. Chợ trời, bán từng cái quần đen áo lót thời ngụy. Bán bàn bán ghế, bán dần dà, có gì bán nấy, còn gì bán hết. Từ cái nhỏ đến cái lớn, cuối cùng bán tuốt luốt. Nếu cần, thân xác này nghĩa lý gì. Chúa Phật đều đúng, tâm linh mới là cốt yếu. Em bán em vì anh. Vì một nắm cơm, ít muối khô, chút thịt xào mặn, vài cái bánh, gói chè khô, bao thuốc lá. Chắt chiu gói ghém lòng thương yêu lẫn oan nghiệt. Đường dài không quản ngại. Niềm vui là giờ phút chen chân ngủ gật trên những toa xe lửa đầy người và thú. Đường dài nắng nóng nung người, nhưng hề hấn chi. Đầu tóc rũ rươi biếng chải, mặt mày lâu ngày quên bẵng phấn son. Tình nghĩa vợ chồng là chút này đây. Nhìn thấy nhau một năm được mười lăm phút, biết anh còn sống là còn hi vọng, còn cho em đủ nghị lực bươn bả một hai với đời. Và như thế, em cần phải sống, và sống thẳng sống hùng sống mạnh hơn bao giờ hết. Bởi vì sự sống của em cần thiết và ý nghĩa biết bao!

Nhiều đêm cố xua đuổi hình ảnh vợ con ra khỏi đầu. Như đưa tay mằn mò bắt, kiếm từng con chí, rệp bám trên tóc, ẩn trốn trong nếp da để giết, thầm nghĩ coi như mình đã chết, may ra mới nhẹ lòng.

 

Nhưng rồi người tù cải tạo không chết. Bức màn sắt mấy chục năm tự bịt mắt, nay từ từ chuyển mình. Tường Bá-linh đã bị sụp. Khối Cộng Sản Đông Âu lần lượt gẫy đổ. Liên Xô theo gương tư bản Nhật, Mỹ. Nhà tù chính trị được giải tán dần. Cùng nhau rủ bùn đứng dậy sau hơn nửa thế kỷ u mê tăm tối sai lầm.

Hoa Kỳ bắt đầu lộ diện sau gần hai mươi năm thống nhất đất nước. Nay lại cũng tự đứng ra đóng vai anh hùng cao bồi cứu vớt dân tộc Việt bằng dollars xanh thay cho súng đạn thời chiến. Và rồi, không quên đưa ngón tay út vực người tù cải tạo đứng dậy. Nhưng người đã một thời hô hào, hứa chắc, chúng ta là đồng minh, chiến hữu, sống chết có nhau, nhưng đã phủi tay nửa chừng không chút xót thương. Việt Nam luôn là mảnh đất người ngoại quốc xử dụng để thử mọi loại vũ khí tối tân. Là thí điểm để thải khí cụ lỗi thời của những siêu cường tranh dành quyền lực. Là con điếm rẻ tiền cho bất cứ hạng đàn ông nào muốn hành lạc. Là thùng rác vĩ đại có sức chứa mọi thứ dơ bẩn nhất trên đời. Là nơi chốn áp dụng mọi cặn bã của bất cứ triết lý – chủ nghĩa – tư tưởng, trò chơi trí thức do con người nghĩ ra.

Bắc Việt Hồ Chí Minh và Trung Cộng Chu Ân Lai một thời hữu nghị thắm thiết môi hở răng lạnh. Răng cắn môi đau. Nay Việt Nam độc lập, thống nhất, chẳng những không nhận được thiệp “chia vui” mà còn đe dọa đưa quân sang chiếm đất dành dân như thời lập quốc Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh... Nga Sô cũng một thời chủ trương đồng minh hữu nghĩ. Anh anh em em. Nay hòa bình, giang sơn thu về một mối, tôi về thăm lại cố hương, đi từ Bắc chí Nam, vòng ra Trung, hình ảnh còn sót lại là tượng ông Lenin đứng giữa công viên Hà Nội, với câu vè trẻ con diễu cợt:

 Ông Lênin sanh ở nước Nga

 Cớ sao lại gác vườn hoa nước mình.

Mà trong thời chiến, nhà thơ Xuân Thủy từng ca ngợi, “Ôi Lenin! Bộ óc thiên tài.” Dấu tích Nga Sô gần như bị xóa sạch, tưởng chừng như chưa từng tham dự, liên hệ ở đất nước này dù chỉ ngược giòng thời gian chưa tới phần tư thế kỷ. Nơi họ từng gieo gió rắc mưa. Ho một tiếng là mấy ông tướng lãnh miền Bắc mất hồn khiếp vía. Giờ đây, cả nước chỉ còn thấy Mỹ. Mỹ là chính. Mỹ là đúng. Mỹ là number one. Mỹ là tất cả. Mỹ là quốc giáo. Mọi người già trẻ lớn bé đàn bà đàn ông đua nhau học tiếng Mỹ, lấy lòng Mỹ, làm bồi Mỹ, bợ đỡ Mỹ, van xin Mỹ, thiếu điều lạy lục xin được trở thành công dân Mỹ bằng bất cứ giá nào.

 

Cộng Sản hất tay. Mỹ phủi tay. Cả hai cùng đối xử tệ hại/bạc, nhưng “cựu” tù nhân cải tạo, lần đầu tiên trong đời có được sự lựa chọn. Đi hay ở, lựa chọn nào cũng khắc nghiệt. Nhưng đành chọn cái đỡ khắc nghiệt hơn. Ít ra có được tự do - trên một nghĩa nào đó - là không buộc phải suy nghĩ theo cái đầu của người khác. Bù lại ra đi, đồng nghĩa bước vào nhà tù lưu thân biệt xứ. Bắt đầu lại bằng hai bàn tay trắng, với ngôn ngữ, văn hóa hoàn toàn khác biệt, và với cơ thể rã rệu về chiều, như những toa tầu chất chứa nặng nỗi khổ đau, chán chường, mệt mỏi, bất lực.

Mỹ đặt nặng nhân quyền là danh dự quốc gia, với truyền thống tự do, dân chủ. Một thời từng nhúng tay khuấy động cuộc chiến Việt Nam, nay họ nhìn về Việt Nam như một biến cố, dửng dưng, không dính líu tình cảm. Đúng là ngoại quốc và ngoại cuộc. Cuốn sách nghiên cứu Việt Nam của cựu bộ trưởng MacNamara sau hai mươi năm chiến tranh kết thúc, với biết bao vật đổi sao dời, xương người chất thành núi, máu người chảy thành biển, giờ đây khơi khơi nhìn về “Việt Nam” như một bài học lầm lẫn đáng tiec. Như lời thú tội, biện minh, tỉnh táo nhận lỗi trước lịch sử nhân loại. Nhưng vẫn giữ vững lập trường cố hữu, là chối bỏ hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Danh xưng “họ” lại bị đổi thêm lần nữa. Từ tù nhân cải tạo, bỗng dưng một sáng một chiều trở thành cựu tù nhân chính trị, không ngoài mục đích hợp thức hóa để được sang Mỹ. Số phận họ trở thành những con vật trao đổi, dùng để đặt điều kiện tìm kiếm hài cốt lính Mỹ rã mục vo tăm biệt tích trên đất nước Việt Nam. Chẳng khác cuộc bán buôn nô lệ da đen thuở thành lập Hiệp Chủng Quốc. Chỉ khác, nô lệ da đen ngày trước khắc số trên da để khỏi lẫn lộn, thất lạc. Ngày nay hiện đại tân kỳ hơn, những mẫu số riêng gõ bằng computer in trên hồ sơ của mỗi HO, rồi được ưu đãi khoác cho tấm áo nhân quyền, kẻ hưởng đặc ân nhân ái cuối mùa ở cuối thế kỷ hai mươi do dân tộc Mỹ ban phát. Họ sống chưa trọn kiếp người, tiếp tục làm kẻ lưu vong, bị tách bật ra khỏi mảnh đất chôn sâu cuống rún ngày vừa lọt lòng mẹ, nhưng không được dung dưỡng, đùm bọc, nuôi nấng, thương yêu. Trái lại, còn bị đối xử cực kỳ tàn nhẫn, dù rằng họ đã tận tuy ở với “nó” suốt dọc cuộc đời.

Giờ đây anh hoàn toàn là free man!

Nhưng là free man trong lưu đày, biệt xứ.

Và để giữ tâm hồn được bình yên thanh thản ở những năm cuối đời, người HO phải tự huân tập lòng bao dung, từ bi, tha thứ. Tha thứ cho những người đã từng hãm hiếp mình. Nhục này quyết trả, hận thù sục sôi, oan nghiệt chồng chất... Tất cả giờ đây phải chính họ tự tay tháo gỡ, hất tung tảng đá nghìn cân đeo cứng trong lòng. “Hận thù chỉ phá hủy cuộc đời.” Lời Phật dạy. Phúc âm nhân ái của Chúa nay cũng được cựu tù nhân đưa ra áp dụng tận tình.

Đầu mùa hè 1996, buổi triễn lãm tranh với chủ đề An Ocean Aparts – Nghìn Trùng Xa Cách của một số họa sĩ Việt Nam cư ngụ trong và ngoài nước, treo ở bảo tàng viện giữa lòng phố San José miền bắc California, thành phố đông dân cư Việt đứng thứ nhì hải ngoại. Câu chuyện xảy ra trong gia đình tôi quen biết. Người con trai lớn sang đây cùng với mẹ từ năm 1975, là kỷ sư tốt nghiệp đại học Berkeley. Người mẹ hiện làm phụ tá văn phòng luật sư. Hai mẹ con hăm hở tham dự buổi triễn lãm. Người bố cùng cô con gái chậm chân kẹt lại Việt Nam. Người bố trả cái giá cho sự chậm chân bằng mười lăm năm tù, vừa tội “lính ngụy” vừa tội vượt biên. Cô con gái học chưa xong tiểu học. Hành trang vào đời là những năm tháng bụng rỗng chân trần cháy bỏng rượt đuổi theo khách hang xe đò năn nỉ mua giùm từng củ khoai, gói đậu phộng luộc, vài điếu thuốc lá lẻ, thỏi kẹo cao su. Ông bố HO tỏ ý ngăn cản, “Ngày nào còn Cộng Sản là dân còn bị đọa đày. Cộng Sản không hề chủ trương giao lưu văn hóa.” Kinh nghiệm đắng cay dạy ông điều này. Tông thống Nguyễn Văn Thiệu, với tài lãnh đạo vô cùng giới hạn, nhưng để lại một câu nhớ đời, “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.” Nhưng người con trai vẫn nhất định đi tìm hiểu văn hóa cội nguồn. Người vợ vẫn cương quyết thể hiện tự do dân chủ nhân quyền.

Đêm đó, ông HO thức trắng ôm đầu suy nghĩ. Chuyện nọ dẫn tới chuyện kia. Chuyện này chồng lên chuyện khác... Chuyện đời, chuyện người, chuyện ta, chuyện nước, chuyện chung, chuyện riêng... Nỗi bất lực tuyệt vọng lại làm tê liệt tấm/tâm thân ông. Từng ấy tháng năm xa cách người thân yêu ruột thịt, là từng ấy khoảng cách khó khăn buộc chặt (lại) lòng nhau.

Trong đầu ông hiện ra những khuôn mặt thờ ơ, lạnh lẽo của những ông HO sáng-trưa-chiều-tối ngồi dính chặt thân xác trong những chiếc ghế nhựa xỉn màu trong khu Lion. Ngồi chỉ mà ngồi, như sống, hoàn toàn vô dụng, vô nghĩa, vô trách nhiệm, hoàn toàn bị bôi xóa.

Buổi chiều mùa đông, đâu đó trong thành phố thuộc miền đông nước Mỹ. Ông HO Việt Nam mở cửa nhìn quanh bốn phía. Trời đất bao phủ màu tuyết trắng xóa. Tuyết đồng nghĩa là lạnh, và nơi mỗi ngày ông mỗi lăn lại gần, là huyệt mộ.

Buổi sáng mùa hè, ở góc phố miền Nam, California. Ông HO Việt Nam nhỏ thó, còm cõi như cả đời thiếu ăn. Thò tay nhặt nhanh tờ báo chợ. Đọc, đọc, đọc ngấu nghiến. Niềm an vui, dịu lòng chốc lát. Những năm lính tráng, những năm tù rạc, là những năm đầu óc bị đóng cửa tối om. Nơi đây, chữ người đọc không hiểu. Những tờ báo chợ, báo biếu, báo lượm vẫn là niềm lưu luyến nối liền quê nhà.

Rồi một lúc nào đó, bất chợt ông HO nghĩ, ban đầu chỉ là tưởng tượng vẩn vơ nhưng dần dà tin rằng sự thật, người Việt Nam mắc nợ ông, người Mỹ mắc nợ ông. Nợ ông những năm lính tráng thanh xuan, những năm tù đầy trung niên cải tạo. Rồi ông cuồng nộ, giận dữ, la hét, đập phá... Lại bị gán ngay thêm nhãn hiệu mới: “Hội chứng hậu chiến tranh.”

Đêm về, toàn thân ông phủ chụp bởi những cơn ác mộng. Tiếng kẻng, giọng quát tháo, chửi rủa cùng ánh mắt gườm gườm đe dọa của những tay quản giáo, cai ngục như sẵn sàng nhai tươi nuốt sống ông bất cứ lúc nào. Mồ hôi tuôn vả như tắm. Quá khứ vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi. Ông HO giơ đây hội đủ điều kiện lãnh trợ cấp tàn tật, không tâm thần thì cũng thể xác, hoặc cả hai.

Hầu hết, cuối đời của những ông HO là những kẻ không nhà, không quê hương, không vợ, không con, không tiền, không của cải, không chỗ đứng trong xã hội. Sống hoang mang không biết để làm gì. Ý nghĩa cuộc sống nằm nơi đâu? Họ mất hẳn sự thăng bằng, như đang đi trên sợi dây căng cứng, có thể ngã nhào bất cứ lúc nào.

Mắt mờ răng rụng, thể chất yếu kém. Những cơn đau bao tử hoành hành đến lạnh toát mồ hôi hột. Hậu quả của những năm tù tội, nhưng họ phải dốc sức kéo lê kiếp sống còn lại.

Rồi cũng phải trút bỏ tất cả, sống với tấm lòng vị tha. Cứ sống, trường tồn trong mọi tình huống bi đát, oan nghiêt. Soi bóng mình bằng lòng nhân. Lòng nhân có thật, bởi họ đã chứng tỏ, thực hành được điều này. Và đó là dấu tích của họ để lại, một lần đi qua trần thế này.

Người tin vao triết lý nhà Phật, nghĩ nghiệp chướng mình còn nặng. Biết đâu những tay công an, quản giáo, cai ngục kia là oan hồn dân Chiêm Thành quật khởi đòi món nợ tiền kiếp.

Người theo Thiên Chúa giáo, tự an ủi vào lời Chúa dạy, “Ai theo ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá.” Sống ở thế gian càng nhiều thử thách, thì chết càng sớm vào nước thiên đàng.

Người không dựa/tin vào bất cứ tín ngưỡng nào thì gạt hận thù sang một bên, như đẩy tảng đá đè ngan cỏ dại.

Người còn chút tàn hơi, cần cho mọi người biết mình vẫn còn hiện hữu, thì viết báo lên án hoặc xuống đường biểu tình chống đối chế độ cộng sản bên quê nhà. Hành động mà lắm người đồng hương kết án chống cong lỗi thời hoặc quá khích, ung nhọt cộng đồng. Người bản xứ nhìn ho là đám người tội tình, tội nghiệp của chiến tranh Việt Nam rơi xót lại.

Người thực tế, tỉnh táo, “Chúng đã cướp đất ta, dân ta, gia đình ta, bao nhiêu năm đời ta, chẳng lẽ để chúng cướp luôn cái tâm bình an cuối đời của ta.”

Người công tâm, trí tuệ nhìn thấu rõ sự việc trong cuộc chiến vừa qua, minh định rằng mọi người dân hai miền Nam Bắc, bộ-độ- cộng-sản hay quân-đội-quốc-gia, tất cả đều là nạn nhân. Không nên vuốt ve vết đau của riêng mình, mà bôi xóa vết đau của người khác.

Người quá yếu đuối thì ngập chìm trong rượu bia, bài bạc, ngắc ngoải sống dở chết dở.

 

Quá khứ là một phần của đời sống. Sống không chỉ thuần thuần thắng, thuần hủy diệt, thuần muốn cả về mình. Định nghĩa anh hùng thời nay không còn nhất thiết phải chiếm đất giành dân, giết hại bao nhiêu mạng người, mà trái lại, thể hiện hành động cứu/vớt người. Những câu tuyên truyền ngụy biện, Giết lầm còn hơn bỏ sót. Hoặc, Giết một người, cứu vạn người phải kết án là khát máu, bởi một người hay vạn người đều là con người.

Sự thù hằn như bóng với hình, khó lòng dứt lìa. Cố quên, cố đẩy, cố xua đuổi quả là khó khăn, khổ nhọc. Và thường thì trong trong những biến cố – thời gian ngắn hạn – những người sống với lòng nhân, có thể không đưa tới những thành công thực tiễn, trái lại họ phải gánh chịu sự bất công, thiệt thòi. Nhưng xét về đường lâu đường dài – quá trình lịch sử văn minh nhân loại – loài người còn tồn tại được đến ngày hôm nay là do bởi lòng nhân. Khổng tử từng phát biểu khi được hỏi về yếu tính của con người, “Nhân giả nhân dã.” Con người là thiện. Con người sống với với từ tâm, độ lượng. Người Thiên Chúa Giáo tin rằng Chúa Giêsu ngày trước bị đóng đinh trên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại. Thì ngày nay, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã và đang gánh chịu sự oan nghiệt khổ đau. Phải chăng, đó là cái giá phải trả cho sự huy hoàng mai hậu của tổ quốc Việt Nam?

 

LÊ THỊ THẤM VÂN

 



[i] Trích Việt Nam, ngày tôi trở về -Nxb Anh Thư 1996.

 

-Nguồn HỢP LƯU 82

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 577)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 803)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 779)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1227)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1112)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1238)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1711)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1761)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1608)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1613)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10455)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17271)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16345)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16809)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1238)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1761)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1764)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2516)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 803)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1112)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1608)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1445)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 576)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1227)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1711)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1613)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 779)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3165)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3120)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3714)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2258)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13970)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30091)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36170)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11664)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13108)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2944)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4180)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4116)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4641)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5179)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8362)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7767)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10685)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.