- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,469

NGUYỄN DU NHƯ TÔI NGHĨ…

01 Tháng Mười Một 20154:09 CH(Xem: 22053)

KhucDauDamAmDuongHoa-tranhNgocMai

tranh Ngọc Mai- (Vietnam.net)




Bấy lâu nói về Nguyễn Du ta quen nhìn ông dưới góc độ một nhà thơ, một “nhà nho tài tử”, cho rằng ông chuyên chú nhiều cho văn chương, cuộc đời ông chủ yếu là văn chương, bàng bạc trong văn chương ông là một nỗi suy tư, nỗi buồn dằng dặc (?!). Thực ra khi hữu thời cũng như khi sa cơ ông luôn là một “nhà nho hành đạo”,  một nho quan ôm chí lớn và văn chương chỉ là một phương diện an ủi tâm sự thầm kín. Bởi vậy tìm hiểu Nguyễn Du chúng tôi muốn quay trở lại với lời nhận xét của các cụ về con người toàn vẹn của ông: Tài thư kiếm vang lừng hai vế[i], cả văn lược lẫn võ công mong thức nhận phần nào bề dày, độ lớn con người ông.  Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân” cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng, là một triết gia thâm thúy và cũng là một nhà nông thực tế hữu dụng.

Về văn nghiệp, Nguyễn có một sự nghiệp lẫy lừng.  Giải thích thiên tài của ông chúng ta không loại trừ nhân tố thiên bẩm, nhưng các yếu tố  truyền thống gia đình, cuộc đời riêng đầy sóng gió cũng như bối cảnh một xã hội nhiễu nhương ảnh hưởng không nhỏ.  Trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái nếp phong lưu của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng của mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam quê cha, cùng với lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời.  Nhiều năm sống với bác tại Thăng Long, dấu vết đài các hoa lệ của kinh đô cũng để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn nhưng bao nhiêu yếu tố đó cũng chưa đủ tạo thành cái tính cách phức tạp và mâu thuẫn của ông, nếu ta không kể đến những ngày tháng loạn ly ông phải sống điền dã nơi hang cùng xóm vắng, trong sự thiếu thốn, lạnh rét như những người loạn dân thời bấy giờ, cũng như những tháng ngày bôn ba xứ người đảm đương trọng trách đại diện cho một triều đình trên đường tuế cống tiếp cận một nền văn hóa, phong tục mới lạ.  Bên cạnh nghìn lần kinh sách ông từng đọc thì nghìn lần gặp gỡ cảnh ngộ sinh dân đã tạo một nền móng cho thiên tài văn chương của Nguyễn.  Văn chương ông không chỉ là nỗi buồn mà còn mang một tâm sự khác, một tâm sự  mà câu thơ trong bài Lam giang  khi nói về nỗi khổ người dân địa phương.

“Muốn đem Thiên Nhẫn sơn, lấp bằng Sông Lam lại” đã gửi gắm.  Nhưng ý nguyện là một chuyện, hành động là một chuyện khác và kết quả lại là một chuyện khác nữa!  Tâm sự cũng như hành trạng của Nguyễn còn nhiều điều phải bàn và đối với chúng ta hôm nay không phải không còn ảnh hưởng.

Về võ công, một điều mà bấy lâu ta ít nhắc đến.  Võ công, hiểu theo nghĩa rộng, như các cụ nói tài thư kiếm, tài thao lược của Nguyễn không phải không làm cho người đời nể trọng.  Đặc điểm này thể hiện qua hành trạng, trách nhiệm, cùng những việc làm, đặc biệt qua tâm trạng, qua ý chí lập thân, cũng như qua tính cách “văn võ song hành”, tư chất văn sĩ, tráng sĩ luôn được nuôi dưỡng và thể hiện trong ông ở những thời điểm quan trọng của đời người.  Có nhà văn khi găp một người là cháu xa đời của Nguyễn Du, người cao lớn, ông liên tưởng đến Nguyễn Du cho là cụ  “có lúc mang gươm làm võ tướng” và nghĩ rằng vóc dáng của “Nguyễn Du cũng không phải là vóc dáng thư sinh mảnh khảnh, yếu đuối”, cũng phần nào thể hiện cốt cách “con nhà võ” đó[ii].

Quả vậy, những năm niên thiếu của Nguyễn là những năm đầy biến động.  Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường, sau đó ông không tiếp tục thi lên nữa mà sung vào một chức quan võ công cán duới trướng của cha nuôi.  Có việc này là vì lúc bấy giờ Nguyễn Khản, là anh cả của Nguyễn Du đồng thời là thầy dạy chúa Trịnh Tông đang tại chức Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên.  Khản bố trí các em giữ quyền trấn thủ các vùng dưới quyền: Nguyễn Điều, Nguyễn Nễ trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Trứ, Nguyễn Nghi vùng Hưng Hóa, trong đó Nguyễn Du và cha nuôi nắm giữ đội binh hùng hậu nhất (Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu hiệu) trấn thủ ở Thái Nguyên.  Nguyễn Du, theo tác giả Phạm Trọng Chánh, từng học võ, kết nghĩa với Nguyễn Đại lang một võ sư người Tàu dưới trướng Nguyễn Khản.  Sau này lúc về sống ở Thái Bình trước khi gặp Gia Long, Nguyễn còn dạy võ và chiêu tập thủ hạ lập đội binh ở vùng quê vợ (Phạm Trọng Chánh - Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam -Tạp chí Thơ số 10-2014- tr39).

Ở Bắc dưới thời các chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm giặc giã nổi lên tứ tung vì tệ tham nhũng, bè phái.  Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương chưa tan, thì Hoàng Công Chất nổi lên từ năm 1739 ở miền Hưng  Hoá và Thanh Hoá,  Lê Duy Mật nổi lên từ năm 1738 đóng giữ miền Trấn Ninh.  Các cuộc khởi nghĩa mới tạm yên thì lại diễn ra cuộc đánh Nguyễn ở miền Nam, dưỡng phụ ông cũng nhiều lần xuất chinh, ông phải trị nhiệm giúp cha.  Rồi nạn Kiêu binh năm 1782, loạn quân giết Hoàng Đình Bảo, phá nhà quan Tham tụng Nguyễn Khản (anh cả Nguyễn Du) cùng là giết quan Thủ hiệu Nguyễn Triêm ngay trước phủ chúa.  Bấy giờ cũng như sau này, khi quân Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản và Nguyễn Điều hai anh của Nguyễn Du nhiều lần chạy lên phương bắc để gọi quân các trấn về trừ kiêu binh hoặc chống Tây Sơn.  Những cuộc binh biến này không thể không ảnh hưởng gì đến Nguyễn Du, và Nguyễn không  thể không cùng hai anh mưu đồ bàn bạc kế sách dẫu có nhiều lý do để việc không thành?

Những năm tập chức của cha nuôi, làm Chánh thủ hiệu  ở Thái Nguyên, cùng hai anh chống loạn kiêu binh, rồi chống quân Tây Sơn đã chuẩn bị cho ông ít mưu đồ võ nghiệp, để khi thời thế đổi thay sau này vẫn tiếp tục.  Khi về lánh nạn ở quê vợ làng Hải An huyện Quỳnh Côi xứ Sơn Nam (bây giờ là tỉnh Thái Bình) trong lúc người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn  ra làm quan với Tây Sơn thì ông bí mật tập hợp hào mục tuyển mộ dân binh mưu đồ khôi phục nhà Lê, nhưng chung quy thất bại phải về quê nhà ở Tiên Điền.  Không yên lòng với đại cuôc, một thời gian lại toan kiếm đường vào Gia Định giúp chúa Nguyễn Ánh, nhưng việc tiết lộ, ông bị  tướng Tây Sơn là Thận Quận Công bắt giam.  Đấy là cái tư cách  võ công “muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia” như người đời sau nói về ông.  Sau khi được tha, ông tự thấy mình không làm được người nghĩa sĩ đem thân hy sinh cho chúa đành làm kẻ bình dân giữ trọn tiết trung trinh.

Bên cạnh thể hiện không đậm đặc trong thơ văn, nhưng cũng thoáng ẩn hiện ở nhiều thi tiết đủ cho người đọc kết nối lại đúc thành một nhân vật song toàn thư kiếm. Đó là hình ảnh người tráng sĩ với thanh kiếm dài được nhắc đi nhắc lại chứa chất biết bao tâm trạng.  Hình ảnh người tráng sĩ với thanh kiếm dài khi nói về mình không phải là hình ảnh khoa trương để ám chỉ một kẻ “hào hoa phong nhã” , mà chính là hình ảnh thực của con người Nguyễn với đầy đủ “hai nghề văn võ”  với bao tâm sự trong nhiều hoàn cảnh.  Nguyễn Du mong hành đạo nhưng không đạt ý nguyện!  Đấy là cái tâm tình chua chát của ông  trong những ngày khó khăn Tựa kiếm dài ngạo nghễ ngắm trời xanh, Lăn lộn trong đám bùn dơ ba mươi năm  (Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên, Triển chuyển nê đồ tam thập niên - Khất thực), cũng như tấm lòng nặng trĩu âu lo vì thế sự  Kiếm dài đeo lưng trước gió thu, Đứng lặng trước sân nhìn khóm trúc (Yêu gian trường kiếm quải thu phong , Vô ngôn độc đối đình tiền trúc - Ký hữu).

Và đây là lời bộc bạch chân thành  khi ông tự ngắm lại đời mình:

Hết xuân lại thu đầu bạc thêm, Nghề văn nghề vỏ thảy không thành..

(Thư kiếm vô thành sinh kế xúc , Xuân thu đại tự bạch đầu tân -Tự thán)

Bao ngày tháng trôi đi, bao ước muốn trở thành vô vọng vì sinh kế:

Tráng sĩ bạc đầu than với trời xanh/ Thật khó cho chí lớn với đời nghèo

(Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên/ Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên)

Và phải chăng nhờ cái khí chất tráng sĩ  cũng như cái ý đồ  “Trương Tử phục Hàn gia”( khôi phục cựu triều) này ở trong tính cách, trong tâm hồn mà Nguyễn đã viết một cách đồng cảm sâu xa các thành bại, được mất nơi sự nghiệp của các anh hùng dũng tướng trong Bắc hành tạp lục (Sở Bá Vương, Liễu Hạ Huệ, Chu Lang, Nhạc Vũ, Hàn Tín, Liêm Pha, Kinh Kha…) cũng như Truyện Kiều (Từ Hải), khiến người đời xúc động.

Phất cờ trăm vạn lính qua sông

Dưới đất Yên giao có giáo đồng

Việc trước hai ngàn năm vắng vẻ

Bên thành một bãi cát mênh mông.

(Nơi Hàn Tín luyện binh - bản dịch Lê Thước )

Qua thơ văn, Nguyễn hiện lên như một kẻ “thư-kiếm” luôn song hành, trong một vài tình huống có khi cái khí phách tráng sĩ lại mạnh hơn!  Cho đến sau này khi về ở quê nhà trong các cuộc vui săn bắn trên núi Hồng Lĩnh, cáí tư chất “tráng sĩ” dũng mảnh của ông càng thể hiện rõ mà bình thường ta ít hình dung ra, nó thường bị che lấp sau những câu văn quá ư trang nhã, uyển chuyển!

Việc chăn dân (văn trị): Khi thời thế thay đổi, nhà Tây Sơn thất bại, Nguyễn Ánh thống nhất được Bắc Nam, vua Gia Long xuống chiếu triệu tập những người dòng dõi cựu thần nhà Lê.  Sau nhiều lần lữa, phân vân cuối cùng ông quyết định ra làm quan với nhà Nguyễn.  Tháng tám năm đầu hiệu Gia Long (1802), ông được bổ tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam, tháng mười một được thăng Tri phủ Thường Tín.  Tháng giêng năm sau được thăng hàm Đông Các Học Sĩ và phong tước Du Đức Hầu.  Tháng tư năm Gia Long thứ tám, ông được bổ chức Cai bạ  Quảng Bình, rồi thăng hàm Cần chánh điện Học sĩ.

Những năm làm tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam, tri phủ Thường Tín, rồi cai bạ Quảng Bình, cũng như những năm làm việc tại kinh ông đã nêu một tấm gương mà trong văn tế các cụ đã tổng kết lại.

Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân.  Ông đã nêu một gương sáng về đức trị dân của một ông quan thanh liêm có một tấm lòng “ái dân” cũng như một chủ trương hành sự rất cần mẫn, hữu dụng.  Qua một số thơ văn nói rõ điều đó.  Ông rất quan tâm đến đời sông dân quê, Quê hương hạn hán làm hại công việc nhà nông (Cố hương cang hạn cửu phương nồng – Ngẫu hứng),  thấy rõ tầm quan trọng của việc nông tang thời kỳ sau chiến tranh  Trong buổi thanh bình không chinh chiến , Trâu bò cáy cuốc  trọng việc nông (Thanh bình thì tiết vô tranh chiến, Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông - Pháo đài).

Nổi bật là đức thanh liêm, làm quan lớn mà trong nhà lương thực chỉ đủ ăn:

Hoa vàng, trúc xanh nhìn không nói,

Thu hoạch hàng năm cơm gạo đủ,

Cháu thơ bồng bế tuổi thêm già …

(Hoàng hoa lục trúc lưỡng vong ngôn

Tuế thu truật mễ kham cung khách

Thiên giả tùng niên cập bão tôn.

Tái thử nguyên vận).

Có khi con cái còn lo đói “thập khẩu đề cơ Hoành lĩnh bắc”.

Tại nhiệm tám năm, nhờ thực hiện các chính sách nghiêm minh, đời sống rất là giản dị thanh liêm, chúng dân đều yêu mến.  Nhờ vậy làm quan địa phương chẳng bao lâu thì được về Kinh, phong tước cao, chức lớn lại còn được hai lần cử đi làm sứ thần đại diện triều đinh đi giao thiệp với Trung Hoa. Chúng ta cần hiểu rằng, những năm Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn là những năm mà trong triều nhiều phe phái ghét ghen, kìm hại lẫn nhau.  Vũ Trinh anh rể Nguyễn Du bị án“trảm giam hậu” cũng nằm trong cái bối cảnh Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc (Những con oanh đẹp trong vườn thượng uyển hay ghen ghét nhau - Tống nhân).  Đó là chưa kể Nguyễn lại thuộc cái phái cựu thần nhà Lê luôn bị chèn lấn nghi kỵ.  Ấy thế mà đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn hình như chẳng có mấy trở ngại, ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng.  Có thể Gia Long trọng tài ông, hoặc tỏ ý rộng rãi để thu phục nhân tâm kẻ sĩ Bắc Hà, đặc biệt đám cựu thần nhà Lê, nhưng cái chính cũng phải dựa vào “đức thanh cần”, năng lực “chăn dân” bao năm của Nguyễn.

Trên con đường hoạn lộ đáng kể nhất là những năm được triều Nguyễn trọng dụng, cử làm Chánh sứ đi tuế cống triều Thanh.  Những ngày tháng đua tài với các sứ thần Hàn, Nhật, tâu trình đối đáp với nhà vua được triều Thanh nể trọng, về sau nhà Nguyễn khen thưởng, tất cả đó đâu phải ở tài văn thơ của Nguyễn mà cái chính là ở cái mưu lược, tài ngoại giao, phẩm cách chính trị  của ông, cố nhiên trong lĩnh vực này chắc cái sở học uyên bác của Nguyễn có góp phần không nhỏ.  Cái đáng quí là trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập thơ mang tên Bắc hành tạp lục.  Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá Trung Quốc và với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, hấp thụ tinh hoa hai nền văn hóa để sau khi về nước, ông đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, viết nên một kiệt tác thơ ca trong lịch sử văn chương Việt Nam và thế giới.

Trong chuyến công cán lịch sử này, với đầu óc thực tế của một người làm vườn và một tình yêu thiên nhiên ông cùng người em trai, đã chọn được giống cây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn An Hiên (Huế) và ở miệt vườn quê Hà Tĩnh, hiện vẫn  được người dân nâng niu chăm sóc.  Về giống cây hồng mà sứ đoàn Nguyễn Du mang về, tương truyền giống hồng này được nhiều gia đình ở Nghi Xuân, quê hương Nguyễn, nhân giống phát triển nhanh,  trở thành một giống hồng khá nổi tiếng, ngày trước là món quà hàng năm tiến kinh dâng vua gọi là “hồng tiến” (Nghi Xuân hội nhập và phát triển- Đặc san Đảng bộ Nghi Xuân lần 19, tr17).

Nguyễn như đã phân tích, là một đại quí  tộc, một đại thần qua hai triều đại cả võ công, văn trị đều thành tựu, ông còn là một nho sĩ – một trí thức chân chính.  Trong ông như có hai con người: Người quí tộc sống qua hai triều đại tận mắt chứng kiến nhiều hệ lụy phi lý vẫn là người tôn thờ lý tưởng“trung quân ái quốc”, vừa là người trí thức nho sĩ trong khuôn khổ “nhà nho hành đạo” thông cảm nỗi đau nhân quần, thấy nhiều phi lý trong cuộc sống, có lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm cộng đồng.  Nỗi buồn bã u uất trước những bất công của cuộc đời xen lẫn tinh thần trách nhiệm công dân cũng như nỗi chán ghét quan lại triều đình nhưng không xa lìa lý tưởng trung quân ái quốc là những mặt vừa phân ly vừa thống nhất trong con người Nguyễn đã được thể hiện rất rõ trong thơ văn cũng như trong hành xử thường nhật của ông, tạo nên những điều kỳ khu, những mâu thuẫn không dễ giải thích mà người đời hay nhắc đến và riêng ông còn muốn gửi gắm đến ba trăm năm sau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, sự bất tử, tình yêu của mọi người đối với Nguyễn được ghi lại khá trọn vẹn trong bài bia sau đây nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày mất của cụ:

Hồn vẫn đi về, cảo thơm sực nức

Kiếm gác bên đền, gió mưa vẫn sắc

Bút tựa mặt hồ, trăng sao vằng vặc

Cảnh ấy bia này, nghìn thu dằng dặc [iii].

Cuộc sống, lý tưởng, hoài vọng, tâm trạng của Nguyễn Du nhiều sắc thái, cung bậc, ngắm nhìn bức chân dung tinh thần của ông nếu chỉ nhìn một phía chắc khó nhận ra, chúng tôi nghĩ bức chân dung đó chắc còn nhiều ảnh hưởng, gợi nhiều suy cảm cho giới văn nhân hôm nay.

 

Yên Nhi

 



[i]    Đào Tử Minh - Văn truy điệu Nguyễn Du -   Hội Tri Tân - ngày 10/8 Giáp thân (1944)

[ii]   “...Đến Tiên Điền thì đoàn có gặp được chắt Châu (?) là cháu xa đời cụ Nguyễn Du. Cụ người cao lớn (có thể suy ra là Nguyễn Du cũng không phải là vóc dáng thư sinh mảnh khảnh, yếu đuối nên có lúc mang gươm làm võ tướng!).”

     Nguyễn Văn Hoàn - Hồi ức về việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du ( 1965).

     Vĩ thanh ( Mai Quốc Liên) - Tc Hồn Việt số 80, 2014

[iii]  Phó bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ bái thảo - Văn bia - Ngày rằm tháng hai năm Kỷ Tỵ , niên hiệu    Bảo Đại thứ tư, Hội Khai trí Tiến Đức cẩn chi .

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 20219:32 CH(Xem: 201)
Buổi sáng thức dậy thật sớm, tôi có những phút bình yên ngồi bên song cửa sổ lặng nhìn thành phố còn trong màn đêm yên tĩnh. Từ ngày thành phố có lệnh cách ly, khoảng trời của tôi được thu nhỏ chỉ trong khung cửa sổ này. Nhìn từ nơi xa xa tít ngoài xa là con đường cao tốc, cửa ngõ cho người đi người về lại Sài gòn, ngày trước xe lúc nào cũng nối đuôi còn bây giờ thưa thớt một vài xe trên đường. Những ngày dịch bệnh nơi ấy bớt hẵn bóng người, không còn những chuyến xe đi sớm về muộn trên đường xuôi ngược.
09 Tháng Chín 20219:44 CH(Xem: 590)
Những ngày giãn cách này, tôi khám phá ra mình có một khả năng mới; đọc được tiếng ho! Giữa tháng 8, bẳng đi một tuần, đột nhiên tất cả âm thanh quanh tôi cùng một lúc biến mất! Không có tiếng hát karaoke, không có tiếng bước chân ngoài cửa, không có tiếng người cãi nhau lao xao dưới sân, không có cả tiếng con nít khóc cười rượt đuổi nhau ngoài hành lang… tôi như rơi vào khoảng không im lặng lạ lùng. Đó là lúc tiếng ho bắt đầu trỗi lên. Đầu tiên là tiếng ho của bác hàng xóm sát vách bên trái, âm thanh đùng đục quặn sâu từ trong phổi, rồi bục ra khỏi cuống họng từng chùm tắt nghẽn. Tiếng ho luồn từ cuối dãy hành lang, theo chiều gió lan dài, mới đầu chỉ là khúc khắc, càng về cuối càng dồn dập, khản đặc.
25 Tháng Tám 20219:16 CH(Xem: 633)
Một năm trôi qua, nỗi sợ hãi càng thấm đẫm hơn. Sợ bệnh dịch hoàng hoành, con virus –cúm Vũ Hán thực quái ác, nó gây nỗi sợ hãi cho cả thế giới. Loài người như điêu đứng vì nó, nó gây bao tang tóc, đau thương không có bút mực nào tả xiết. Thần quyền, sợ chết. Cường quyền, sợ phạt tiền, sợ tù đày, rờ đâu cũng sợ.
17 Tháng Tám 202110:42 CH(Xem: 609)
Tôi nhỏ xíu, tôi bé xíu. / Cũng chẳng có nghĩa những bóng lớn của Hội Họa Sĩ Trẻ đó đã che hết dáng tôi, cô học trò xinh xinh, chen chân, nhón gót xem tranh trong những chiều trốn lễ, bỏ nhà thờ… / Tôi mượt mà, tóc bay và mắt ướt, tôi thơ mộng như những thiếu nữ trong tranh. Tôi nhìn thấp thoáng chút yêu kiều, thời của những Chagall, Pissarro, Cezanne, Matisse… Và ngay cả rất xa xưa, Rembrandt.
28 Tháng Bảy 20219:48 CH(Xem: 904)
Một buổi chiều ảm đạm, đầy sương. Hai chúng tôi ngồi nhìn biển, một màu xanh tít tắp gợi lên một nỗi niềm thăm thẳm, xa xăm. Vài chiếc lá me phai rơi đậu trên mái tóc em. Gương mặt em chiều nay buồn ảm đạm như chiều nay, đầy mây và gió lạnh. Em thẩn thờ nhìn vào góc vắng và buồn . Buồn trong đôi mắt và buồn trong cái nhìn của em. Em bảo em lạnh, anh đưa em về.
22 Tháng Bảy 20216:09 CH(Xem: 940)
Sài gòn cách ly. Tôi chẳng được ra khỏi nhà hơn hai tháng nay từ khi cháu ngoại nghỉ học chứ không phải tới cái " Giờ thứ 25" Sài gòn đã điểm như lúc này. Nếu tôi được rong ruổi ngoài đường mà tận mắt chứng kiến Sài gòn xôn xao, lo toan, thắt thỏm mỗi ngày cho đến lúc hốt hoảng mà chạy trốn dịch như thế nào tôi sẽ viết sống động hơn, nhưng tôi chỉ ở nhà và chỉ biết tình hình mỗi lúc một nghiêm trọng khi thấy các con tôi.
13 Tháng Bảy 20214:16 CH(Xem: 1208)
Saigon không chỉ của những người hàng giờ lên Facebook khoe đẹp, khoe thân, khoe của, khoe tình ái, khoe giàu… Saigon là của những người không có Facebook để khoe, chạy ăn từng bữa, sấp mặt kiếm cơm. Saigon là của công nhân nhập cư chen nhau trong dãy nhà trọ 10m vuông, là của người đẩy xe đi bán rau cải 2000 đồng 1 bó, bán kẹo kéo nhân đậu phộng, tàu hủ nước đường gừng, bán dừa xiêm 15,000 đồng 2 trái, bán bánh su kem, bán thạch dừa nhà làm…
02 Tháng Bảy 20216:21 CH(Xem: 895)
Tuổi trẻ chúng tôi sinh ra và lớn lên giữa lúc cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Ngay từ tuổi thiếu niên – tuổi học sinh trung học, lẫn lộn giữa tiếng đạn bom, chúng tôi đã nghe những bài hát, hoà cùng cuộc chiến có, chống lại cuộc chiến có. Trong những bài hát phản đối chiến cuộc, có những bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
10 Tháng Sáu 20216:03 CH(Xem: 1122)
Tôi nhớ xa xôi có người đã từng ví von bên tai tôi " Dù cho sông cạn đá mòn tình cảm này không hề thay đổi". Ngày ấy, tôi cứ nghĩ sông khó mà cạn lắm chứ, nhưng không, dòng sông nơi tôi ở cứ cạn rồi đầy liên tục trong ngày. Lòng người cũng vậy không có gì là mãi mãi với thời gian. Cái mà dễ thay đổi nhất trên đời này nghiệm ra rằng đó chính là tình cảm; những lời yêu xưa chỉ là ví von trong lúc cảm xúc còn đong đầy nên chả trách gì nhau khi người dễ quên nhau...
19 Tháng Năm 202110:35 CH(Xem: 1380)
Tôi thuộc thơ của thi sĩ Hoàng Cầm từ nhiều năm trước khi biết đến Hoàng Kỳ - người con trai đầu của cụ. Qua nhà thơ Thanh Kim, phóng viên báo Bắc Giang, tôi được gặp anh lần đầu tại thư viện của thị xã Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc cũ). Mới gặp, anh có vẻ lịch sự xã giao, thậm chí như hơi đề phòng- thói quen hình thành trong một hoàn cảnh gia đình đầy sóng gió đã ảnh hưởng sâu đậm tới cuộc đời anh... Nhưng dần dà, cái vỏ ngoài ấy đã biến mất hẳn sau nửa giờ trò chuyện, khi anh hiểu rõ rằng: trước mặt anh là một "con mọt sách", đang muốn tìm hiểu về văn hóa vùng Kinh Bắc...