- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGUYỄN DU NHƯ TÔI NGHĨ…

01 Tháng Mười Một 20154:09 CH(Xem: 60345)

KhucDauDamAmDuongHoa-tranhNgocMai

tranh Ngọc Mai- (Vietnam.net)




Bấy lâu nói về Nguyễn Du ta quen nhìn ông dưới góc độ một nhà thơ, một “nhà nho tài tử”, cho rằng ông chuyên chú nhiều cho văn chương, cuộc đời ông chủ yếu là văn chương, bàng bạc trong văn chương ông là một nỗi suy tư, nỗi buồn dằng dặc (?!). Thực ra khi hữu thời cũng như khi sa cơ ông luôn là một “nhà nho hành đạo”,  một nho quan ôm chí lớn và văn chương chỉ là một phương diện an ủi tâm sự thầm kín. Bởi vậy tìm hiểu Nguyễn Du chúng tôi muốn quay trở lại với lời nhận xét của các cụ về con người toàn vẹn của ông: Tài thư kiếm vang lừng hai vế[i], cả văn lược lẫn võ công mong thức nhận phần nào bề dày, độ lớn con người ông.  Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân” cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng, là một triết gia thâm thúy và cũng là một nhà nông thực tế hữu dụng.

Về văn nghiệp, Nguyễn có một sự nghiệp lẫy lừng.  Giải thích thiên tài của ông chúng ta không loại trừ nhân tố thiên bẩm, nhưng các yếu tố  truyền thống gia đình, cuộc đời riêng đầy sóng gió cũng như bối cảnh một xã hội nhiễu nhương ảnh hưởng không nhỏ.  Trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái nếp phong lưu của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng của mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam quê cha, cùng với lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời.  Nhiều năm sống với bác tại Thăng Long, dấu vết đài các hoa lệ của kinh đô cũng để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn nhưng bao nhiêu yếu tố đó cũng chưa đủ tạo thành cái tính cách phức tạp và mâu thuẫn của ông, nếu ta không kể đến những ngày tháng loạn ly ông phải sống điền dã nơi hang cùng xóm vắng, trong sự thiếu thốn, lạnh rét như những người loạn dân thời bấy giờ, cũng như những tháng ngày bôn ba xứ người đảm đương trọng trách đại diện cho một triều đình trên đường tuế cống tiếp cận một nền văn hóa, phong tục mới lạ.  Bên cạnh nghìn lần kinh sách ông từng đọc thì nghìn lần gặp gỡ cảnh ngộ sinh dân đã tạo một nền móng cho thiên tài văn chương của Nguyễn.  Văn chương ông không chỉ là nỗi buồn mà còn mang một tâm sự khác, một tâm sự  mà câu thơ trong bài Lam giang  khi nói về nỗi khổ người dân địa phương.

“Muốn đem Thiên Nhẫn sơn, lấp bằng Sông Lam lại” đã gửi gắm.  Nhưng ý nguyện là một chuyện, hành động là một chuyện khác và kết quả lại là một chuyện khác nữa!  Tâm sự cũng như hành trạng của Nguyễn còn nhiều điều phải bàn và đối với chúng ta hôm nay không phải không còn ảnh hưởng.

Về võ công, một điều mà bấy lâu ta ít nhắc đến.  Võ công, hiểu theo nghĩa rộng, như các cụ nói tài thư kiếm, tài thao lược của Nguyễn không phải không làm cho người đời nể trọng.  Đặc điểm này thể hiện qua hành trạng, trách nhiệm, cùng những việc làm, đặc biệt qua tâm trạng, qua ý chí lập thân, cũng như qua tính cách “văn võ song hành”, tư chất văn sĩ, tráng sĩ luôn được nuôi dưỡng và thể hiện trong ông ở những thời điểm quan trọng của đời người.  Có nhà văn khi găp một người là cháu xa đời của Nguyễn Du, người cao lớn, ông liên tưởng đến Nguyễn Du cho là cụ  “có lúc mang gươm làm võ tướng” và nghĩ rằng vóc dáng của “Nguyễn Du cũng không phải là vóc dáng thư sinh mảnh khảnh, yếu đuối”, cũng phần nào thể hiện cốt cách “con nhà võ” đó[ii].

Quả vậy, những năm niên thiếu của Nguyễn là những năm đầy biến động.  Năm 1783, Nguyễn Du thi hương đậu Tam Trường, sau đó ông không tiếp tục thi lên nữa mà sung vào một chức quan võ công cán duới trướng của cha nuôi.  Có việc này là vì lúc bấy giờ Nguyễn Khản, là anh cả của Nguyễn Du đồng thời là thầy dạy chúa Trịnh Tông đang tại chức Thượng thư bộ Lại kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên.  Khản bố trí các em giữ quyền trấn thủ các vùng dưới quyền: Nguyễn Điều, Nguyễn Nễ trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Trứ, Nguyễn Nghi vùng Hưng Hóa, trong đó Nguyễn Du và cha nuôi nắm giữ đội binh hùng hậu nhất (Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu hiệu) trấn thủ ở Thái Nguyên.  Nguyễn Du, theo tác giả Phạm Trọng Chánh, từng học võ, kết nghĩa với Nguyễn Đại lang một võ sư người Tàu dưới trướng Nguyễn Khản.  Sau này lúc về sống ở Thái Bình trước khi gặp Gia Long, Nguyễn còn dạy võ và chiêu tập thủ hạ lập đội binh ở vùng quê vợ (Phạm Trọng Chánh - Nguyễn Du từ Thái Nguyên sang Vân Nam -Tạp chí Thơ số 10-2014- tr39).

Ở Bắc dưới thời các chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm giặc giã nổi lên tứ tung vì tệ tham nhũng, bè phái.  Khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương chưa tan, thì Hoàng Công Chất nổi lên từ năm 1739 ở miền Hưng  Hoá và Thanh Hoá,  Lê Duy Mật nổi lên từ năm 1738 đóng giữ miền Trấn Ninh.  Các cuộc khởi nghĩa mới tạm yên thì lại diễn ra cuộc đánh Nguyễn ở miền Nam, dưỡng phụ ông cũng nhiều lần xuất chinh, ông phải trị nhiệm giúp cha.  Rồi nạn Kiêu binh năm 1782, loạn quân giết Hoàng Đình Bảo, phá nhà quan Tham tụng Nguyễn Khản (anh cả Nguyễn Du) cùng là giết quan Thủ hiệu Nguyễn Triêm ngay trước phủ chúa.  Bấy giờ cũng như sau này, khi quân Tây Sơn ra Bắc, Nguyễn Khản và Nguyễn Điều hai anh của Nguyễn Du nhiều lần chạy lên phương bắc để gọi quân các trấn về trừ kiêu binh hoặc chống Tây Sơn.  Những cuộc binh biến này không thể không ảnh hưởng gì đến Nguyễn Du, và Nguyễn không  thể không cùng hai anh mưu đồ bàn bạc kế sách dẫu có nhiều lý do để việc không thành?

Những năm tập chức của cha nuôi, làm Chánh thủ hiệu  ở Thái Nguyên, cùng hai anh chống loạn kiêu binh, rồi chống quân Tây Sơn đã chuẩn bị cho ông ít mưu đồ võ nghiệp, để khi thời thế đổi thay sau này vẫn tiếp tục.  Khi về lánh nạn ở quê vợ làng Hải An huyện Quỳnh Côi xứ Sơn Nam (bây giờ là tỉnh Thái Bình) trong lúc người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn  ra làm quan với Tây Sơn thì ông bí mật tập hợp hào mục tuyển mộ dân binh mưu đồ khôi phục nhà Lê, nhưng chung quy thất bại phải về quê nhà ở Tiên Điền.  Không yên lòng với đại cuôc, một thời gian lại toan kiếm đường vào Gia Định giúp chúa Nguyễn Ánh, nhưng việc tiết lộ, ông bị  tướng Tây Sơn là Thận Quận Công bắt giam.  Đấy là cái tư cách  võ công “muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia” như người đời sau nói về ông.  Sau khi được tha, ông tự thấy mình không làm được người nghĩa sĩ đem thân hy sinh cho chúa đành làm kẻ bình dân giữ trọn tiết trung trinh.

Bên cạnh thể hiện không đậm đặc trong thơ văn, nhưng cũng thoáng ẩn hiện ở nhiều thi tiết đủ cho người đọc kết nối lại đúc thành một nhân vật song toàn thư kiếm. Đó là hình ảnh người tráng sĩ với thanh kiếm dài được nhắc đi nhắc lại chứa chất biết bao tâm trạng.  Hình ảnh người tráng sĩ với thanh kiếm dài khi nói về mình không phải là hình ảnh khoa trương để ám chỉ một kẻ “hào hoa phong nhã” , mà chính là hình ảnh thực của con người Nguyễn với đầy đủ “hai nghề văn võ”  với bao tâm sự trong nhiều hoàn cảnh.  Nguyễn Du mong hành đạo nhưng không đạt ý nguyện!  Đấy là cái tâm tình chua chát của ông  trong những ngày khó khăn Tựa kiếm dài ngạo nghễ ngắm trời xanh, Lăn lộn trong đám bùn dơ ba mươi năm  (Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên, Triển chuyển nê đồ tam thập niên - Khất thực), cũng như tấm lòng nặng trĩu âu lo vì thế sự  Kiếm dài đeo lưng trước gió thu, Đứng lặng trước sân nhìn khóm trúc (Yêu gian trường kiếm quải thu phong , Vô ngôn độc đối đình tiền trúc - Ký hữu).

Và đây là lời bộc bạch chân thành  khi ông tự ngắm lại đời mình:

Hết xuân lại thu đầu bạc thêm, Nghề văn nghề vỏ thảy không thành..

(Thư kiếm vô thành sinh kế xúc , Xuân thu đại tự bạch đầu tân -Tự thán)

Bao ngày tháng trôi đi, bao ước muốn trở thành vô vọng vì sinh kế:

Tráng sĩ bạc đầu than với trời xanh/ Thật khó cho chí lớn với đời nghèo

(Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên/ Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên)

Và phải chăng nhờ cái khí chất tráng sĩ  cũng như cái ý đồ  “Trương Tử phục Hàn gia”( khôi phục cựu triều) này ở trong tính cách, trong tâm hồn mà Nguyễn đã viết một cách đồng cảm sâu xa các thành bại, được mất nơi sự nghiệp của các anh hùng dũng tướng trong Bắc hành tạp lục (Sở Bá Vương, Liễu Hạ Huệ, Chu Lang, Nhạc Vũ, Hàn Tín, Liêm Pha, Kinh Kha…) cũng như Truyện Kiều (Từ Hải), khiến người đời xúc động.

Phất cờ trăm vạn lính qua sông

Dưới đất Yên giao có giáo đồng

Việc trước hai ngàn năm vắng vẻ

Bên thành một bãi cát mênh mông.

(Nơi Hàn Tín luyện binh - bản dịch Lê Thước )

Qua thơ văn, Nguyễn hiện lên như một kẻ “thư-kiếm” luôn song hành, trong một vài tình huống có khi cái khí phách tráng sĩ lại mạnh hơn!  Cho đến sau này khi về ở quê nhà trong các cuộc vui săn bắn trên núi Hồng Lĩnh, cáí tư chất “tráng sĩ” dũng mảnh của ông càng thể hiện rõ mà bình thường ta ít hình dung ra, nó thường bị che lấp sau những câu văn quá ư trang nhã, uyển chuyển!

Việc chăn dân (văn trị): Khi thời thế thay đổi, nhà Tây Sơn thất bại, Nguyễn Ánh thống nhất được Bắc Nam, vua Gia Long xuống chiếu triệu tập những người dòng dõi cựu thần nhà Lê.  Sau nhiều lần lữa, phân vân cuối cùng ông quyết định ra làm quan với nhà Nguyễn.  Tháng tám năm đầu hiệu Gia Long (1802), ông được bổ tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam, tháng mười một được thăng Tri phủ Thường Tín.  Tháng giêng năm sau được thăng hàm Đông Các Học Sĩ và phong tước Du Đức Hầu.  Tháng tư năm Gia Long thứ tám, ông được bổ chức Cai bạ  Quảng Bình, rồi thăng hàm Cần chánh điện Học sĩ.

Những năm làm tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam, tri phủ Thường Tín, rồi cai bạ Quảng Bình, cũng như những năm làm việc tại kinh ông đã nêu một tấm gương mà trong văn tế các cụ đã tổng kết lại.

Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân.  Ông đã nêu một gương sáng về đức trị dân của một ông quan thanh liêm có một tấm lòng “ái dân” cũng như một chủ trương hành sự rất cần mẫn, hữu dụng.  Qua một số thơ văn nói rõ điều đó.  Ông rất quan tâm đến đời sông dân quê, Quê hương hạn hán làm hại công việc nhà nông (Cố hương cang hạn cửu phương nồng – Ngẫu hứng),  thấy rõ tầm quan trọng của việc nông tang thời kỳ sau chiến tranh  Trong buổi thanh bình không chinh chiến , Trâu bò cáy cuốc  trọng việc nông (Thanh bình thì tiết vô tranh chiến, Ngưu độc ưu sừ chính trọng nông - Pháo đài).

Nổi bật là đức thanh liêm, làm quan lớn mà trong nhà lương thực chỉ đủ ăn:

Hoa vàng, trúc xanh nhìn không nói,

Thu hoạch hàng năm cơm gạo đủ,

Cháu thơ bồng bế tuổi thêm già …

(Hoàng hoa lục trúc lưỡng vong ngôn

Tuế thu truật mễ kham cung khách

Thiên giả tùng niên cập bão tôn.

Tái thử nguyên vận).

Có khi con cái còn lo đói “thập khẩu đề cơ Hoành lĩnh bắc”.

Tại nhiệm tám năm, nhờ thực hiện các chính sách nghiêm minh, đời sống rất là giản dị thanh liêm, chúng dân đều yêu mến.  Nhờ vậy làm quan địa phương chẳng bao lâu thì được về Kinh, phong tước cao, chức lớn lại còn được hai lần cử đi làm sứ thần đại diện triều đinh đi giao thiệp với Trung Hoa. Chúng ta cần hiểu rằng, những năm Nguyễn Du ra làm quan triều Nguyễn là những năm mà trong triều nhiều phe phái ghét ghen, kìm hại lẫn nhau.  Vũ Trinh anh rể Nguyễn Du bị án“trảm giam hậu” cũng nằm trong cái bối cảnh Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc (Những con oanh đẹp trong vườn thượng uyển hay ghen ghét nhau - Tống nhân).  Đó là chưa kể Nguyễn lại thuộc cái phái cựu thần nhà Lê luôn bị chèn lấn nghi kỵ.  Ấy thế mà đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn hình như chẳng có mấy trở ngại, ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng.  Có thể Gia Long trọng tài ông, hoặc tỏ ý rộng rãi để thu phục nhân tâm kẻ sĩ Bắc Hà, đặc biệt đám cựu thần nhà Lê, nhưng cái chính cũng phải dựa vào “đức thanh cần”, năng lực “chăn dân” bao năm của Nguyễn.

Trên con đường hoạn lộ đáng kể nhất là những năm được triều Nguyễn trọng dụng, cử làm Chánh sứ đi tuế cống triều Thanh.  Những ngày tháng đua tài với các sứ thần Hàn, Nhật, tâu trình đối đáp với nhà vua được triều Thanh nể trọng, về sau nhà Nguyễn khen thưởng, tất cả đó đâu phải ở tài văn thơ của Nguyễn mà cái chính là ở cái mưu lược, tài ngoại giao, phẩm cách chính trị  của ông, cố nhiên trong lĩnh vực này chắc cái sở học uyên bác của Nguyễn có góp phần không nhỏ.  Cái đáng quí là trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập thơ mang tên Bắc hành tạp lục.  Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã có dịp tìm hiểu sâu nền văn hoá Trung Quốc và với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, hấp thụ tinh hoa hai nền văn hóa để sau khi về nước, ông đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, viết nên một kiệt tác thơ ca trong lịch sử văn chương Việt Nam và thế giới.

Trong chuyến công cán lịch sử này, với đầu óc thực tế của một người làm vườn và một tình yêu thiên nhiên ông cùng người em trai, đã chọn được giống cây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn An Hiên (Huế) và ở miệt vườn quê Hà Tĩnh, hiện vẫn  được người dân nâng niu chăm sóc.  Về giống cây hồng mà sứ đoàn Nguyễn Du mang về, tương truyền giống hồng này được nhiều gia đình ở Nghi Xuân, quê hương Nguyễn, nhân giống phát triển nhanh,  trở thành một giống hồng khá nổi tiếng, ngày trước là món quà hàng năm tiến kinh dâng vua gọi là “hồng tiến” (Nghi Xuân hội nhập và phát triển- Đặc san Đảng bộ Nghi Xuân lần 19, tr17).

Nguyễn như đã phân tích, là một đại quí  tộc, một đại thần qua hai triều đại cả võ công, văn trị đều thành tựu, ông còn là một nho sĩ – một trí thức chân chính.  Trong ông như có hai con người: Người quí tộc sống qua hai triều đại tận mắt chứng kiến nhiều hệ lụy phi lý vẫn là người tôn thờ lý tưởng“trung quân ái quốc”, vừa là người trí thức nho sĩ trong khuôn khổ “nhà nho hành đạo” thông cảm nỗi đau nhân quần, thấy nhiều phi lý trong cuộc sống, có lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm cộng đồng.  Nỗi buồn bã u uất trước những bất công của cuộc đời xen lẫn tinh thần trách nhiệm công dân cũng như nỗi chán ghét quan lại triều đình nhưng không xa lìa lý tưởng trung quân ái quốc là những mặt vừa phân ly vừa thống nhất trong con người Nguyễn đã được thể hiện rất rõ trong thơ văn cũng như trong hành xử thường nhật của ông, tạo nên những điều kỳ khu, những mâu thuẫn không dễ giải thích mà người đời hay nhắc đến và riêng ông còn muốn gửi gắm đến ba trăm năm sau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, sự bất tử, tình yêu của mọi người đối với Nguyễn được ghi lại khá trọn vẹn trong bài bia sau đây nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày mất của cụ:

Hồn vẫn đi về, cảo thơm sực nức

Kiếm gác bên đền, gió mưa vẫn sắc

Bút tựa mặt hồ, trăng sao vằng vặc

Cảnh ấy bia này, nghìn thu dằng dặc [iii].

Cuộc sống, lý tưởng, hoài vọng, tâm trạng của Nguyễn Du nhiều sắc thái, cung bậc, ngắm nhìn bức chân dung tinh thần của ông nếu chỉ nhìn một phía chắc khó nhận ra, chúng tôi nghĩ bức chân dung đó chắc còn nhiều ảnh hưởng, gợi nhiều suy cảm cho giới văn nhân hôm nay.

 

Yên Nhi

 



[i]    Đào Tử Minh - Văn truy điệu Nguyễn Du -   Hội Tri Tân - ngày 10/8 Giáp thân (1944)

[ii]   “...Đến Tiên Điền thì đoàn có gặp được chắt Châu (?) là cháu xa đời cụ Nguyễn Du. Cụ người cao lớn (có thể suy ra là Nguyễn Du cũng không phải là vóc dáng thư sinh mảnh khảnh, yếu đuối nên có lúc mang gươm làm võ tướng!).”

     Nguyễn Văn Hoàn - Hồi ức về việc kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du ( 1965).

     Vĩ thanh ( Mai Quốc Liên) - Tc Hồn Việt số 80, 2014

[iii]  Phó bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ bái thảo - Văn bia - Ngày rằm tháng hai năm Kỷ Tỵ , niên hiệu    Bảo Đại thứ tư, Hội Khai trí Tiến Đức cẩn chi .

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 459)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 676)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1195)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1184)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1671)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1719)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1588)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1590)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10451)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17268)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16343)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16797)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1183)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1716)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1737)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2495)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 675)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1061)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1587)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1427)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 459)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1194)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1671)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1588)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 729)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3157)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3112)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3707)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2246)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13962)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30089)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36165)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2932)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4163)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4107)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4629)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5149)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8360)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7755)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10678)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.