- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

QUAN HỘ ĐÊ BẮC THÀNH LÊ ĐẠI CANG

Wednesday, May 25, 20226:30 PM(View: 36710)
QUAN HO DE

QUAN HỘ ĐÊ BẮC THÀNH LÊ ĐẠI CANG     

Mai An Nguyễn Anh Tuấn     

 

Cách đây mấy năm, trong khi làm phim tài liệu chân dung “Lê Đại Cang - nhân cách bậc quốc sĩ”, nhà báo - Tổng BT tạp chí Văn Hiến Nguyễn Thế Khoa đã đưa tôi tới sông đào Ngũ Huyện Khê để ghi hình ảnh bộ cho phim này.

 

Ngũ Huyện Khê là một chi lưu của sông Đuống, bắt nguồn từ địa phận huyện Đông Anh, Hà Nội và đổ vào sông Cầu tại thành phố Bắc Ninh. Sau đó, tôi đã lang thang bằng tàu thuyền là chủ yếu, đi dọc sông Hồng và một vài đoạn sông nhánh quan trọng đến với các làng xã truyền thống vùng châu thổ Hà Nội, để mong tìm được dấu vết của cụ Lê Đại Cang thời được vua Minh Mệnh sung cho chức “Quản lý Nha Đê chính Bắc thành", mà theo một số tư liệu thành văn và truyền miệng, cụ đã được một vài nơi tôn làm Thành hoàng làng...

 

Trên dòng sông Hồng, tức sông Cái, tôi đã suy ngẫm nhiều về hành trạng của Quan hộ đê Bắc thành Lê Đại Cang. Đây là dòng sông mà từ hồi đầu thế kỷ XX, nhà địa lý học nhân văn người Pháp Pierre Gourou đã nhận định: “là con sông chủ yếu của Bắc Kỳ; chính nó đã tạo ra châu thổ bằng phù sa và chính nó luôn luôn đe doạ châu thổ khi tràn ngập. Sông Hồng chảy qua châu thổ như một kẻ xa lạ đáng sợ chứ không phải như một ngưòi cộng sự hữu ích, đó là do sự hung dữ và những trận lụt lớn của nó” (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ  - Nxb Trẻ, 2003).

 

Vùng châu thổ sông Hồng trong hàng nghìn năm đó đã tạo ra một nền văn minh từng toả ánh sáng ra các quốc gia lân cận, và được các nhà nghiên cứu lịch sử có uy tín trong nước và nước ngoài mệnh danh là: “ Nền văn minh lúa nước” hay “ Nền văn minh sông Hồng”. Trên cơ sở sự phát triển của Văn minh sông Hồng, từ hàng ngàn năm về trước, những Nhà nước đầu tiên của lịch sử Việt Nam - như Văn Lang và Âu Lạc đã lần lượt được khai sinh. Các nhà nghiên cứu cũng không ngần ngại khẳng định rằng: Văn minh sông Hồng là nền văn minh dựng nước, là nền văn minh đầu tiên xây dựng và khẳng định bản sắc văn hoá Việt Nam.

 

Để tồn tại, ông cha ta đã tiến hành chinh phục châu thổ, một trong những sự nghiệp đó là quai đê, lấn biển. Cả một hệ thống đê điều khổng lồ dài đến gần 2.000km, công trình đắp bằng tay kéo dài trong nhiều thế kỷ! Không những đắp đê để ngăn lũ của các dòng sông, xây dựng những công trình thuỷ lợi vĩ đại, ông cha ta còn đồng thời tiến hành đắp đê ngăn sự xâm lấn của nước biển để bảo vệ những cái nôi của châu thổ. Cạnh đó là những cuộc lấn biển hối hả để mở rộng châu thổ… Công cuộc chinh phục các dòng sông và biển cả quả là một bản anh hùng ca tráng lệ, đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa con người với nước lũ, biển cả, bão tố, úng ngập, hạn hán, và biết bao biến cố khác của thiên nhiên, của lịch sử. Từ 2.500 năm trước đây, những trận lũ lớn của sông Cái còn là thiên tai không kiểm soát được, nhưng vào đầu công nguyên, con người đã bắt đầu đắp đê ngăn lũ, phù sa dày đặc trong nước lũ đã lắng đọng tạo nên những bãi mật phù sa- theo các nhà nghiên cứu, đây có thể là thời kỳ đã ra đời thần thoại Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh…

 

Tính nết ghê gớm của sông Mẹ xuất hiện khi mùa mưa lũ đến. Lũ về, nước sông chảy xiết, dòng nước đục ngầu phù sa, cuốn phăng tất cả những gì có thể. Một nhà khí tượng thuỷ văn đã cho biết: lũ sông Hồng có ba tính chất nguy hiểm với con người. Trước hết là có nhiều con lũ trong cùng một mùa nước lên, khiến cho con người vất vả để thích nghi với mức nước lên xuống trong canh tác nông nghiệp. Thứ hai, lũ sông Hồng vận chuyển một khối lượng nước rất lớn, do mưa to và dốc cao, những khối nước đó sẽ tràn ngập cả châu thổ nếu như chúng không bị ngăn lại kịp thời. Người dân sống hai bên bờ sông Mê Kông thì dễ thích nghi được với lũ của sông Mê Kông vì lũ của nó rất chậm và rất đều đặn, thậm chí họ còn có thể trồng được một thứ lúa nổi mọc theo mực nước dâng lên. ở Bắc Kỳ thì đồng ruộng, hoa màu luôn bị đe doạ bởi con sông Cái chảy xiết (từ 2m đến 3m một giây vào thời điểm có lũ), và có những biến động đột ngột bởi sông bị kẹp giữa những ngọn núi cao có sườn dốc đứng cho đến khi nó vào châu thổ. Người dân châu thổ tưởng tượng cái sức mạnh ma quái của nước sông Hồng bằng những thần tượng như: Long vương, Hà bá, Thuỷ tề, Bạch xà, Thuồng luồng… khi hầu như không làm chủ được nó, và đôi khi còn lập đền thờ các lực lượng siêu nhiên ấy ở bên sông để mong kìm bớt cơn giận dữ khủng khiếp của nước lũ. Trong ký ức của nhiều người dân châu thổ Bắc Bộ vẫn còn in đậm hình ảnh những ngôi nhà đổ sụp khi sóng sông ào tới, từng cụm làng xóm trôi dạt, những gốc cổ thụ bật gốc cuốn đi trong cơn xoáy lũ, những bàn tay phụ nữ con trẻ chới với trong dòng nước đục ngầu gầm réo, đồng lúa ruộng màu bị cướp trắng trước cặp mắt ưá lệ đau đớn xót xa… Những con đê mồ hôi xương máu của biết bao người đã nhiều khi không chịu đựng được sức tàn phá của thuỷ thần. Có thể tạm thống kê: đời Trần Thái tông vỡ đê kinh thành. Năm 1269 vỡ đê Cơ Xá, và từ năm đó đến năm 1393 vỡ đê 16 lần- điển hình là trận vỡ đê Bát Tràng năm 1352. Năm1729 vỡ đê ngập lụt cả hai huyện Văn Giang, Văn Lâm. Đời Tự Đức vỡ đê Văn Giang 18 lần. Trận lụt năm Qúy Tỵ 1893, cả vùng đồng bằng Bắc Bộ chìm ngập trong nước bạc mênh mông… Nhưng đê vỡ, lại tiếp tục việc hàn đê! Hết đời này qua đời khác, người dân châu thổ không chịu đầu hàng lũ lụt, họ đã oằn mình ra để quai đê, hàn đê ngăn lũ không mệt mỏi… Không ít người ngày hôm nay vẫn còn lưu giữ trong ký ức của mình hình ảnh kinh hoàng của một thời:Tiếng trống ngũ liên thúc hối hả, tiếng kẻng canh đê, tiếng quát tháo của tuần đinh, cảnh nhốn nháo như ong vỡ tổ, những ngọn đuốc đỏ rừng rực từng đoạn sông, người dân châu thổ mồ hôi chan nước mắt chân cắm trong đất, tay ken vào nhau làm bức tường chắn sóng… Nhiều thế hệ cha ông đã đắp đê ngăn nước tràn vào làng mạc. Không kể tuyến đê trên các con sông khác, hệ thống đê sông Hồng riêng nó đã dài tới 1.650km. Đó là một công trình lặng lẽ mà vĩ đại không kém bất cứ một kì quan nào… Nhà thơ Võ Văn Trực đã viết về con đê ngàn đời ấy bằng những dòng như sau: “Hòn đất ở dưới tận cùng đáy đê là hòn đất đắp từ đời Lý. Hòn đất đắp trên cùng mặt đê là hòn đất đắp trong thời đại mới. Mười bốn mét chiều cao con đê là cả một bề dày lịch sử được kết dính bằng bùn, mồ hôi, nước mắt và máu. Cả khi trời quang mây tạnh, cả khi gió táp sóng xô, con đê kiên gan đứng im với một tình yêu thầm lặng! …” (Thượng nguồn và châu thổ, Nxb Thanh niên). Không biết đê dọc sông Hồng được đào đắp từ bao giờ, chỉ biết sử ghi chép đời Lý Nhân Tông năm Mậu Tí 1108 đắp lại đê Cơ Xá, như thế từ trước đã có đê và ngót 1.000 năm nhân dân đã tôn tạo thêm sự vững chãi của đê sông Mẹ dài trên 2000km! … Ngoài đê sông, dân ta còn đắp đê biển. Năm 1248, vua Trần Thái Tông khuếch trương việc trị thuỷ sông Hồng, hạ lệnh đắp một hệ thống đê gọi là đê Đỉnh Nhĩ, chạy từ đầu nguồn tới bờ biển phòng nước lụt sông Hồng và đặt chức Hà đê chánh, phó sứ trông coi đê điều. Nhưng Thăng Long vẫn không tránh khỏi bị lũ lụt, nhiều lần nước tràn vào Hoàng thành. Năm 1243 đê Đại La thành bị vỡ... Từ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông), việc xây dựng đê điều ngăn nước mặn đã được tiến hành, cho đến thời Nguyễn Gia Long thì lần đầu tiên đạt tới độ quy mô lớn với Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Như vậy là, dòng sông, luỹ đê và công sức của con người đã tạo ra một vùng châu thổ rộng lớn đến một ngàn năm trăm kilômét vuông và hàng năm nhận được một lượng phù sa khổng lồ. ở đây, chúng ta lại cần nhắc đến P. Gourou, người tiên phong của ngành Nông dân học thế giới, một nhà khoa học Pháp rất am hiểu châu thổ sông Hồng và có cảm tình với người nông dân Việt nam, song ở một công trình viết về thổ nhưỡng Đông Nam Á, ông lại có một nhận định vội vàng: do việc đắp đê hai bên sông Hồng, phù sa không thể tràn lên các cánh đồng được, vì thế, “châu thổ đã chết trong tuổi vị thành niên của nó”! Nhưng Gourou không thể ngờ rằng, cảnh quan địa lý châu thổ vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI hoàn toàn không  phù hợp với lý thuyết và sự phỏng đoán của ông trong năm 1940. Ông cũng không thể hình dung được là sẽ có cả một hệ thống mương máng, đập tràn của các công trình đại - trung - tiểu thủy nông với nhiệm vụ dẫn thuỷ nhập điền và đưa phù sa sông Hồng vào những cánh đồng bất ngát. Nhiều nơi, hệ thống mương phai chính còn rẽ xương cá để đưa phù sa vào từng thửa ruộng nhỏ… Như vậy là tuổi thành niên của châu thổ vẫn còn đang phát triển với sức vóc phi thường của nó, thậm chí, châu thổ còn đang trẻ lại với màu xanh phủ kín các vùng miền. Sau Hiệp định Genève, miền Bắc chỉ có bốn hệ thống thuỷ nông tưới cho hai mươi vạn ha và tiêu cho hai mươi lăm vạn ha đã bị chiến tranh tàn phá; nhưng chỉ trong vòng hai mươi năm sau, nhiều công trình đại thuỷ nông mới đã được xây dựng: Bắc - Hưng - Hải, Chí linh - Nam Sách, Thuỵ Phương - Gia Thượng, bảy mươi vạn ha được nhận nước từ những công trình đó; còn vùng chiêm trũng Hà Nam Ninh, Hải Hưng đang được các trạm bơm điện tiêu úng… Nhưng công trình đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải là một bước chuyển quan trọng đánh dấu thời kì mới trong cuộc chinh phục sông Hồng. Cho đến nay, công trình này và những công trình thuỷ lợi khác vẫn phát huy tác dụng của nó trong sản xuất nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng, với những chính sách khuyến nông ngày một mạnh dạn hơn của Nhà nước...

 

Nhắc qua về lịch sử lũ lụt và các công trình đắp đê chống lụt của dân tộc ta từ thời cổ đại cho tới nay để có thể thấy rõ hơn vị trí, vai trò và trách nhiệm của Lê Đại Cang khi cụ gánh trọng trách của một quan Đê chính Bắc thành lãnh đạo nhân dân chống chọi với hung thần lũ sông Cái!

 

Cụ Lê Đại Cang đã sống giữa một giai đoạn cực kỳ phức tạp của lịch sử; dấn thân vào chốn quan trường nhiều cám dỗ và đầy bất trắc, cụ đã chọn cho mình con đường “ngày đêm chăm chỉ, một lòng báo quốc… vì nước quên nhà, vì công quên tư” (Lê thị gia phả)  để có thể đem trí tuệ xuất chúng và tài năng đa diện của mình cống hiến cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước đầy gian khó, lập nên một sự nghiệp lớn. Sự nghiệp ấy của Lê Đại Cang trải dài trong thời gian 41 năm làm quan qua 3 triều vua, trải rộng trong không gian cả ba miền đất nước từ biên giới cực Bắc đến biên giới cực Nam, từ kinh đô Huế đến cố đô Thăng Long, qua rất nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục, văn hóa, ngoại giao… Lặn lội suốt từ Nam chí Bắc, khi làm Cai bạ Quảng Nam, Cai bạ Vĩnh Long, quyền Tổng trấn Bắc Thành, Tổng đốc Sơn - Tuyên - Hưng, Tổng đốc Hà nội – Ninh Bình hay làm Tổng đốc hai tỉnh An Giang - Hà Tiên, ở đâu Lê Đại Cang cũng lo tìm đất hoang cho dân cày cấy, lo đào sông, khơi dòng chảy, tạo điều kiện cho dân canh tác nông nghiệp thuận lợi... Nhưng có một sự nghiệp lớn, sự nghiệp để đời của Lê Đại Cang mà trong Lê thị gia phả hầu như không kể, nhưng lại được chính sử triều Nguyễn ghi chép lại rất nhiều: đó là công việc của một quan đê chính ở Bắc Thành những năm 1828-1831, với sứ mệnh cao cả là "giữ dân và vệ nông"- như sớ cụ tâu vua mà sử có chép lại (Những tư liệu về giai đoạn làm quan Hộ đê này của cụ Cang đã được các nhà nghên cứu lịch sử dày công khảo cứu qua hàng ngàn trang thư tịch cũ, đặc biệt là hai nhà sử học: TS. Nguyễn Minh Tường và TS. Nguyễn Thị Phương Chi).

 

Dân gian còn lưu truyền: tại công đường Nha đê chính - ở cửa Nam thành Hà Nội, cụ Cang đã cho treo hai câu đối: "Đê tồn Cang tại - Đê hoại Cang vong" - bộc lộ rõ quyết tâm sống chết với đê của một vị quan liêm chính, cương trực, ý thức sâu sắc về công vụ, người đặt trách nhiệm tồn vong của đê - tức sự sống còn của Dân lên trên sự sống còn của bản thân mình. Thực cảm động, và quả là bài học thấm thía đối với những công bộc của Dân hôm nay!

 

Khi đảm nhiệm phụ trách việc đê điều ở Bắc Thành, Lê Đại Cang đã lặn lội đi khảo sát, gặp các bô lão nhiều kinh nghiệm khắp các vùng Sơn Nam, xứ Đoài, Kinh Bắc... Cụ đã quan sát kỹ lưỡng dòng chảy của các con sông lớn, nhỏ, tìm ra quy luật dâng lũ của chúng để tìm cách giãn lũ - ví như cụ đã cho giãn lũ sông Cái - Nhĩ Hà qua sông Đuống, ra sông Cầu, bằng sông đào Ngũ Huyện Khê. Cụ còn dày công biên soạn cuốn sách thống kê các đê công - tư, giúp việc quản lý và phòng hộ đê điều chặt chẽ hiệu quả hơn. Sự nghiệp đê điều gian nan khôn xiết, bằng tinh thần tận tụy, trí thông minh, lòng quả cảm, cụ đã cùng dân chúng nhiều vùng quê châu thổ sông Cái - Nhĩ Hà xả thân đắp đê, sửa đê, ngăn được lũ lụt tàn phá làng mạc. Vua phê và khen rằng: “...nước sông lên to, mà đê phòng đều được vững chắc, thực nhờ phúc thần nhiều lắm”. Thực ra, Phúc thần ở đây lại chính là Quan hộ đê Lê Đại Cang, người bốn lần được trọng thưởng, ba lần bị phế chức, người trong hoàn cảnh hiểm nguy nào cũng không rời bỏ chức phận giữ dân và vệ nông. Và cho đến nay, một số vùng quê ven sông Hồng vẫn đang thờ cụ như một phúc thần thành hoàng làng, mà nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử hôm nay cần phải tìm cho ra những di tích đặc biệt đáng quý này.

 

Là một người làm phim, tôi đặc biệt “mê” giai đoạn này của cụ Lê Đại Cang, thời mà vị quan văn võ toàn tài quê Bình Định đã kết mối lương duyên với người phụ nữ xinh đẹp dòng dõi nhà vua là quận chúa Lê Ngọc Phiên, rồi cùng bà vượt qua bao sóng gió hiểm nguy, để sau đó cụ trở thành một Quan hộ đê Bắc thành đáng kính trọng vào bậc nhất trong lịch sử dựng nước của Dân tộc ta, được dân lập đền thờ hương khói đời đời...

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn 

 

Send comment
Your Name
Your email address
Monday, April 20, 201512:22 AM(View: 60550)
Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn. Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước ? Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp...
Sunday, March 22, 20153:31 AM(View: 57559)
Nguyễn Xuân Hoàng trong số báo Văn đặc biệt về TTT, đã viết: "Thanh Tâm Tuyền như ngọn cờ đầu của thơ tự do Việt Nam, người làm mới thi ca Việt Nam." (2) Đặng Tiến khi viết bài tưởng niệm Thanh Tâm Tuyền đã bày tỏ ít nhiều tiếc rẻ là "lối thơ Thanh Tâm Tuyền không có người thừa kế."
Wednesday, February 18, 20159:45 AM(View: 69114)
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
Sunday, November 2, 20141:53 AM(View: 71354)
Hồ Quý Ly tên tự là Lý Nguyên, tự suy tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang vào đời Hậu Hán thời Ngũ Đại (947 – 950) sang làm Thái thú lộ Diễn Châu (Nghệ An). Sau đó, làm nhà ở hương Bào Đột thuộc lộ này, làm trại chủ đến đời thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại tỉnh Thanh Hóa, làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình.
Friday, October 10, 20141:45 AM(View: 73098)
Trong số mấy bài thơ chữ Nôm còn lại của Bà Huyện Thanh Quan, bài thơ “Qua Đèo Ngang” là bài thơ gần đây được tranh luận nhiều nhất về chữ nghĩa, đặc biệt là về từ ngữ “cái gia gia” . Sự tranh luận này có chiều hướng phủ nhận quan điểm cũ của các tiền bối cũng như những người tin theo họ để bảo vệ cho cách đọc “cái đa đa”.
Saturday, September 20, 20145:29 AM(View: 59960)
Trong số 26 con đập dòng chính Sông Mekong, thì Noạ Trát Độ / Nuozhadu 5,850 MW trên Vân Nam là con đập lớn nhất, và Don Sahong 260 MW là con đập nhỏ và quan trọng nhất thuộc địa phận Nam Lào (không kể tới Thakho Diversion, cũng của Lào, 50 MW được bảo trở bởi CNR & EDL). Bài viết là một phân tích về hai thái cực của sự huỷ hoại: từ con đập lớn nhất tới con đập nhỏ nhất trên toàn hệ sinh thái Sông Mekong.
Monday, September 8, 201412:00 AM(View: 67093)
Khiếm khuyết lớn của dân tộc Việt là đã say mê khía cạnh chính trị của chiến tranh mà lãng quên khía cạnh thuần học thuật, quân sự của chiến tranh. Clausewitz nổi tiếng với mệnh đề thường xuyên được trích dẫn: "Chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị." Nhưng Clausewitz không viết duy nhất một mệnh đề này, mà soạn thảo tám tổng tập Cẩm nang Chiến tranh mà cho đến phút này vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt, ngay cả tóm lược .
Wednesday, August 27, 201412:00 AM(View: 65790)
Tôi ít thấy ai yêu thơ như Mai Thảo. Thuộc rất nhiều thơ, đặc biệt thơ tiền chiến và thơ những năm đầu kháng chiến, Mai Thảo có thể nói chuyện về thơ miên man từ giờ này sang giờ khác, từ ngày này sang ngày khác. Dường như chỉ khi nói chuyện về thơ, Mai Thảo mới hoạt bát, sôi nổi, say sưa, gửi hết hồn mình trong từng tiếng trầm tiếng bổng. Ly rượu trên tay, đầu lắc lư, mắt lim dim, Mai Thảo nói về thơ với giọng vừa xúc động như khi người ta kể lại một mối tình đầu, vừa thành kính như một con chiên kể về cuộc đời của Người Cứu Thế. Với Mai Thảo, thơ là cái gì thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng, như một tôn giáo. Với Mai Thảo, thơ, "chỉ thơ, mới là ngôn ngữ, là tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương"
Monday, August 18, 201412:00 AM(View: 57373)
...toàn cảnh các quốc gia trong lưu vực Sông Mekong từ Trung Quốc xuống tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam cho dù mang những tên gọi khác nhau nhưng đó vẫn là những đất nước chưa có dân chủ, vẫn là những “xã hội hình tháp – social pyramid” nói theo ngôn từ của nhà xã hội học Miến Kyaw Nyein, với đỉnh tháp là thiểu số thống trị và dưới đáy vẫn là đa số những người dân nghèo khổ bị khai thác và bóc lột.
Saturday, June 14, 201412:00 AM(View: 65477)
K hác với quân đội của các đế quốc, quân đội Việt Nam đã luôn phải xây dựng sức mạnh trên chính lòng ái quốc của dân tộc mình. Ngay cả khi Đại Nam đạt đến sức mạnh của một đế quốc Đông Dương, quân đội Đại Nam chưa biết vận dụng sức lực của các sắc tộc Chàm, Ai Lao hay Thủy Chân Lạp. Sức mạnh của quân đội Việt Nam là sức mạnh của sự đoàn kết, chết để giữ đất và chết để mở đất, của sắc tộc Kinh. Mạc Cửu ở Hà Tiên là một biệt lệ.