- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,364

Hiroshima Ơi, Em Đã Trở Về Từ Đâu ?

05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 88367)

web2-j-huyensam_hiroshima3_0_300x200_1( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto)

LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.

Bài du ký đăng tải dưới đây được viết nhân chuyến tham quan Nhật bản do Japan Foundation (Hiệp hội Nhật bản) mời vào mùa hoa đào tháng 04/2010 vừa qua. Trong dịp này, tác giả may mắn được tiếp chuyện với bà Tomiko Matsumoto, một nhân chứng còn sống sót trong trận không quân Hoa kỳ dội bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 06/08/1945 (*). Bà nhớ lại những tàn khốc mà mình đã nhìn thấy tận mắt và đã phải gánh chịu trong thể xác cho tới tận bây giờ.

 

(*) Xem: Trần Thiện-Đạo, Lỗi lầm (Hợp lưu, số 97, tháng 11 & 12 năm 2007).

 

 

Chìm trong tầm mắt của du khách, đó là một thế giới hoa anh đào nở miên man, trắng xóa một góc trời, tím biếc những con phố, lâng lâng dọc triền sông. Hoa rơi rơi trên tóc, trên môi, trên gót chân trần của lữ khách… Hiroshima hiện ra như một thế giới thần tiên trong buổi sớm mai, khi bình minh vừa thức dậy. Tôi không kìm nén được sự xúc động, và bật lên thành tiếng: Hiroshima đây ư, nơi tận cùng của cõi chết? Nơi mà trận bom nguyên tử đã san phẳng thành bãi tha ma? Nơi nỗi đau và sự căm phẫn đến tận cùng của loài người, mà kể cả Thượng đế cũng không thể nào dung thứ được, cho tội ác chiến tranh ? Tôi quên hết cái rét đầu xuân, còn vương vấn mùa đông của xứ tuyết, Hiroshima tiềm tàng sức sống, quyến rũ và gợi mở đã chiếm hữu tôi một cách tuyệt đối, hoàn toàn…

Sau 65 năm, Hiroshima đã tái sinh từ cõi hủy diệt. Cái chết, bóng ma, bệnh tật, nỗi đau, đã được thay thế bằng thế giới của hoa anh đào- ngào ngạt hương thơm, của nhà cửa sầm uất, văn minh và niềm kiêu hãnh của người dân xứ sở này. Hiroshima, em đã trở về từ đây, từ cõi chết?

 Bảo tàng Hiroshima là nhân chứng sinh động của thảm khóc chiến tranh. Đây cũng là thông điệp chung của loài người gửi đến Thượng đế, rằng: Chiến tranh, dù nấp bóng dưới hình thức nào, cũng cần phải nguyền rủa và lên án.

 Đập vào mắt tôi là chiếc kim đồng hồ đã ngừng đập vào lúc 8h15p, ngày 6/8/1945. Đây là khoảnh khắc của tử thần hiện hữu. Khoảnh khắc của bên này sự sống và bên kia của sự chết. Khoảnh khắc mà người dân Hiroshima sẽ khắc ghi cho đến tận muôn đời. Vào giờ phút này, cách đây 65 năm, quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã ném xuống nơi đây, chỉ trong vòng mấy phút, toàn thành phố đã hủy diệt. Hơn 200 ngàn người đã chết ngay lập tức. Hơn 300 ngàn người bị thương (1). Hàng loạt người sau đó sống lay lắt vì di chứng của chất độc do bom nguyên tử gây nên. Toàn bộ nhà cửa, trường học, bệnh viên đã bị san phẳng.

Đây là quả bom nguyên tử đầu tiên mang tên Little Boy của quân đội Mỹ, thực hiện dưới lệnh của tổng thống Harry STruman, do viên phi công Paul Warfield Tibets điều khiển, trên chiếc máy bay có biển số là B-29, mang biệt hiệu Enola Gay - nghe nói là tên mẹ của viên phi công nguyền rủa này. Quả bom này có sức nặng là 5 tấn, độ nóng khoảng 3000, bán kính kìm tỏa là 300m/s. Chỉ từng đó thông số cũng đã cho thấy sức mạnh kinh khủng của sự hủy diệt (2).

 

Sau đây, tôi xin ghi lại lời kể của một nhân chứng sống sót từ trận bom nguyên tử khủng khiếp này. Đó là bà Tomiko Matsumoto-người may mắn được tử thần tha mạng. Bà là người dân của thành phố Hiroshima, lúc đó bà 13 tuổi (sinh 1932). Bà bị bom đánh úp trong một buổi sáng khi đang tựu trường. Hiện, trên thân thể bà vẫn còn đầy thương tật, và hầu như bà không thể cầm được vật gì, ngoài đôi đũa để ăn. Đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi rất may mắn, được tổ chức Japan Foundation mời bà kể lại những gì mà bà đã tận mắt chứng kiến (3): 

“ 8h15 phút, lúc đó là buổi sáng, thành phố yên tỉnh, tôi đang tựu trường. Bỗng dưng, một ánh sáng da cam phát ra, bừng sáng một vùng trời. Ngay sau đó, một tiếng nổ gầm vang, rung chuyển cả mặt đất, xé tan không trung. Một sức mạnh rất lớn quật ngã tôi xuống. Tôi bị vùi trong đống gạch đổ nát, tôi không biết mình bất tỉnh trong bao lâu….

 Khi tỉnh dậy, tôi cố hết sức để hất lớp đất đá đè nặng trên lưng. Tôi chui ra, và một thế giới trước mắt tôi là hoang tàn. Cả bầu trời chìm trong khói đen và biển lửa. Tôi không còn nhận ra lối đi. Tôi không xác định được hướng, vì không còn bất cứ thứ gì xung quanh mình. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra.. Tôi gào khóc. Tôi muốn về nhà. Nhưng tôi không biết phải đi hướng nào. Tất cả đã san phẳng. Tôi nhìn lên một ngọn núi, và cắm đầu chạy theo hướng đó, trên đống gạch đổ nát. Tôi nghe tiếng khóc, tiếng kêu cứu. Tôi thấy cả một đoàn người đỏ rực như quả bí, họ đang bị tia phóng xạ của bom nguyên tử thiêu cháy thân thể. Nóng, nóng quá! Họ kêu lên và nhảy xuống sông. Nhiều bà mẹ ôm con gào thét, có người tróc hết da, và mù mắt không nhìn thấy gì, mò mẫm đi loạng quạng như đi trong bóng đêm. Lúc đó, tôi mới hốt hoảng: mình có sao không? Tôi sờ vào thân thể mình, thì chao ôi, bao nhiêu là mảnh thủy tinh găm sâu vào lưng, vào tay chân. Tôi bắt đầu thấy nóng khủng khiếp, nóng thiêu đốt cả da thịt, gan ruột, xương tủy. Trước đó, hầu như tôi không có cảm giác đau đớn gì, vì quá hốt hoảng. Tôi khụy chân xuống và không còn sức lực để đi tiếp, không còn đủ sức để nhảy xuống sông như mọi người. Tôi nghe xung quanh mình những bước chân dồn dập. Tôi mở mắt, và thấy một đoàn người đen ngòm đi qua cầu như một đoàn ma trơi. Họ bị sức nóng thiêu đốt và chết dần trên từng bước chân của mình. Toàn thân họ chảy xuống từng khối nước nhờ nhờ như nhựa bị nung lửa…

Sau đó, tôi được một một xe quân đội Nhật đưa lên núi để trú bom. Hang núi chật ních người. Tiếng kêu khóc thảm thiết của trẻ thơ, và tiếng gào rú não lòng của những người mẹ mất con. Một thế giới địa ngục mở ra trước mắt tôi: người thì cụt cả hai chân và hai tay, người thì lòi ruột ra, vừa đi, vừa nhét vào, người thì một hóc mắt bị khoét sâu. Tôi nghe tiếng rên rỉ và tiếng nói quen thuộc của thầy giáo và bạn mình. Nhưng họ không thể nhìn thấy tôi, vì mắt họ đã bị mù. Họ không còn kịp nhận ra tôi là ai, trước lúc trút hơi thở cuối cùng.

Ban đầu, những người bị thương còn rên rỉ, nhưng sau họ kiệt sức và im dần. Xác chết chất đầy xung quanh. Tôi nghĩ, đến lượt mình rồi cũng chết như họ. Tôi đã bật khóc. Số thương vong nhẹ hơn, lại càng cảm thấy đau đớn. Ngày đầu, họ không tìm cách chữa trị, chỉ đắp lá để giảm vết bỏng. Sau rồi da lỡ ra từng mảng, vết sâu sưng mủ, chảy nước từng vũng vàng khè…Xung quanh tôi, mùi hôi thối bao phủ: mùi máu mủ, mùi của thi thể không kịp khâm liêm. Giòi muỗi vây quanh xác chết, rĩa ráy, rồi bu vào vết thương của những người còn sống…Họ không thèm đuổi, vô vọng buông theo cái chết…

Tôi bắt đầu gào khóc vì hoang mang. Tôi hỏi ba mẹ của tôi đâu? Một người đàn ông nói rằng, thành phố đã bị thiêu trụi. Tôi hiểu rằng, câu nói đó đồng nghĩa với câu trả lời: ba mẹ và em tôi đã chết. Họ hỏi tôi, còn có người thân nào không? Tôi lắc đầu. Một lúc sau, tôi cố tìm trong ký ức để hình dung ra, nơi ở của bà tôi, một vùng xa xôi ở thôn quê… Người đàn ông đó đã giúp tôi tìm hướng đến nhà bà tôi, dù mò mẫm, và khổ ải…

Lúc tôi về quê, thuốc trong người đã ngấm hết, tôi rất đau. Bà tôi mua dưa chuột để đắp lên các vết bỏng trên thân thể tôi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng vài ngày sau, tôi bắt đầu xuất hiện nhiều bệnh kỳ lạ: da mọc lên nhiều mụn nhọt ngứa ngáy, sau thành những vết tím bầm, rồi bị tiêu chảy suốt ngày, dù tôi không ăn vật gì lạ. Vào thời điểm ấy, tôi không biết đó là do tác động của chất độc từ bom nguyên tử. Và đêm đêm, tôi rơi vào những cơn ác mộng, thường xuyên kêu ú ớ, hoặc gào thét vô cớ trong bóng tối…

Tôi thức trắng nhiều đêm. Tỉnh dậy là bật khóc. Tôi hỏi bà tôi, mẹ con đâu, em con đâu? Bà tôi đưa ra một hộp gỗ sơn. Tôi nhìn vào đó: một nhúm tro và những mảnh xương vụn. Em tôi lúc đó đã lên năm…

Tôi bất ngờ nhìn thấy ba vào một buổi chiều. Ba tôi đã tìm tôi cả mấy tháng trời, dưới sức nóng của mặt trời và những đống đổ nát của thành phố sau chiến tranh. Ba tôi thất vọng, nghĩ, tôi cũng đã chết. Lúc bom dội xuống, ba tôi làm việc ở một nơi cách xa tâm điểm nổ, nên sống sót. Lúc ba tôi trở về, tôi không thể ngồi dậy được. Tôi đau khắp thân thể. Tôi bị rụng từng mảng tóc. Những lớp sẹo tái lở loét, da vẫn tróc lên từng mảng, đau đớn….

Một thời gian sau, cha con tôi trở về Hiroshima và mò mẫm dựng lại nhà trên đống gạch đổ nát. Nhiều người cũng như gia đình tôi, bằng mọi cách, họ tìm lại mảnh đất của mình. Họ cắm lại nhà, dù toành toàng, nhưng họ không muốn đi bất kỳ đâu. Chúng tôi muốn tiếp tục sống trên mảnh đất đau thương này. Chúng tôi rơi vào một trận đói khủng khiếp. Tôi tự hỏi, lấy gì để ăn đây, làm gì để có thể sống được? Mọi người tìm cỏ dại để thay bữa. Tôi cũng làm theo. Nhưng cỏ dại rồi cũng hết. Nhiều người bị chết đói. Trẻ em lang thang đầy đường. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tìm cách trở lại trường, Chúng tôi thu gom lại các phế liệu của đống đổ nát. Rồi dựng lại trường.

 Phải làm lại, làm lại bằng mọi cách.

 Không may cho tôi. Ba tôi xuất hiện bệnh máu trắng. Mấy tháng sau, ba tôi tự tử, vì không chịu đựng được nỗi đau đớn. Nhưng trên hết, ba không muốn tôi phải nhường từng miếng cơm. Một số người khác cũng vậy, tự tử vì không thể chịu đựng được: Đói khát. Đau đớn…”

Bà Tomiko Matsumoto ngừng lời với giọt nước mắt đẫm sâu. Bà nói rằng: tôi không muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình, tôi không muốn nhớ lại những tháng ngày khủng khiếp đó. Tuy nhiên, hôm nay đây, tôi có mặt ở đây, cùng với các bạn, là theo lời di chúc của bạn tôi. Bạn gái tôi đã chết, vì bệnh máu trắng. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, cô ấy nói rằng, phải tiếp tục sống, và kể cho mọi người nghe về nỗi đau, nỗi tàn bạo của cuộc chiến tranh này. Và bà cho biết thêm, thế hệ những người như bà, sau chiến tranh bị nhiều bệnh tật di chứng: sinh con quái thai, bị điên loạn, đặc biệt là bệnh máu trắng...(4). Bà nói với giọng xúc động, nhưng mạnh mẽ: Chúng tôi thề rằng, chiến tranh sẽ không bao giờ tái diễn nơi đây.

Cả đoàn chúng tôi lặng đi, sau câu chuyện của bà. Tai tôi ù đặc. Chúng tôi, mỗi người, muốn nói một điều gì đó để chia sẻ với bà, nhưng không thể cất lên thành lời. Nghệ sĩ Thành Lộc, lặng lẽ nắm tay bà, và chỉ biết nghẹn ngào với hai từ: “ Cám ơn bà”.

Vì sao Mỹ ném bom? Nguyên cớ được nêu ra là: để Nhật đầu hàng và chiến tranh sớm kết thúc, giảm bớt những thương vong, thiệt hại của hai bên tham chiến. Tuy nhiên, theo các bình luận viên của chiến tranh, nguyên nhân sâu xa là: Mỹ muốn thử hiệu quả của bom nguyên tử, và nhằm thị uy sức mạnh hạt nhân đối với Liên Xô. Đó là vấn đề liên quan đến các chính trị gia và các nhà cầm quyền. Còn chúng ta, chỉ có thể nói rằng, dù biện minh từ góc độ nào, việc thả bom của Mỹ là một hành động phi đạo đức, vô lương tâm, và thế giới sẽ không ngừng phỉ báng, lên án …

Không ai có thể kìm nén được sự căm phẫn của mình, khi nhìn thấy những hiện vật nơi đây. Những con người như những bóng ma: bàn tay bị thiêu trụi, mặt cháy sém, da rộp lên. Những đám mây hình nấm như hiện thân của thần chết bao phủ cả thành phố Hiroshima, trận mưa đen dội xuống như những dòng thác máu, tím bầm từng mảng khủng khiếp (5)…Tiếp đến, là những nạn nhân bị ảnh hưởng chất độc: bệnh ung thư, máu trắng, dị tật. Một người phụ nữ với khuôn mặt dị dạng, một em bé bị mù, một người đàn ông không còn phụ tang…

Bên kia, đối diện với thế giới chết chốc đó, là những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki-nạn nhân di chứng của bom nguyên tử. Khi quả bom nổ, em bị hất tung ra, nhưng vẫn sóng sót. Tuy nhiên, sau 9 năm, lúc 12 tuổi, em bị phát hiện là ung thư máu, hay còn gọi là bệnh máu trắng. Một căn bệnh nguy hiểm mà người dân ở đây thường mắc phải, do ảnh hưởng chất phóng xạ từ bom nguyên tử. Em phải nghỉ học vào bệnh viện, và từng ngày, từng ngày, em gấp những cánh hạc trắng bằng giấy, với niềm khao khát được sống. 1000 con hạc trắng từ đôi bàn tay ngây thơ, không cứu nổi số phận của em, nhưng đó là thông điệp chung cho nhân loại về niềm khát khao hòa bình. Em mất vào ngày 25 tháng 10 năm 1955. Linh hồn em chìm ngập trong một thế giới của những cánh hạc trắng, oan nghiệt bay lên không trung-nơi mà trận mưa đen tàn ác từng dội xuống số phận của em, dội xuống thành phố bình yên và những người dân vô tội. Theo lời người thuyết minh bảo tàng, cái chết của em đã gây sự căm phẫn của toàn nước Nhật. Hàng loạt cuộc biểu tình với khẩu hiệu phản đối vũ khí hạt nhân đã diễn ra…

Tôi thoát ra khỏi bảo tàng mà vẫn còn nghe mùi khét của bom nguyên tử xen lẫn với tiếng khóc của những đứa trẻ, trận mưa đen chảy rào rào như thác máu…

Chúng tôi đi dưới Tượng đài hòa bình vì trẻ thơ, và nghe đâu đây tiếng thì thầm của những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki, như một thông điệp về niềm khát khao hòa bình và tình yêu thương nhân loại. Tôi kiểng chân và hôn lên một nụ anh đào chúm chím, đang thì khai hoa, mùi thơm thoang thoảng, tinh khiết, nhưng lại nồng nàn khắp các giác quan. Hiroshima ơi, phải chăng em đã trở về từ cõi chết? 

 

TRẦN HUYỀN SÂM

(Hiroshima, 4/4/2010)

 

 

 .

1. Con số thương vong được ghi lại theo những tư liệu không khớp nhau. Tôi lấy theo lời của người thuyết minh lịch sử ở bảo tàng này..

2. Ngoài thành phố Hiroshima, ngày 9/8/1945, Mỹ còn ném thêm một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki và giết chết hơn 74.000 mạng sống

3. Đoàn chúng tôi gồm 11 văn nghệ sĩ Việt Nam, do Tổ chức Japan Foundation mời sang Nhật Bản để giao lưu văn hóa-văn học, từ ngày 28-3 dến 7-4-2010

4. Ghi theo lời phiên dịch của Lương Việt Dũng, được diễn giãi lại theo cảm xúc của tác giả bài báo.

5. Mưa đen: do khói và lửa của bom nguyên tử bốc lên, gặp những đám mây và tạo thành cơn mưa. Những người mắc trận mưa này, phần lớn đều bị bệnh máu trắng hoặc sinh đẻ dị tật.

6. Bệnh máu trắng: Một căn bệnh khủng khiếp, do ảnh hưởng chất độc bom nguyên tử. Các tế bào máu bị hủy hoại rất nhanh, vô phương cứu chữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1036)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1121)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1811)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5831)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5813)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13167)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30045)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81147)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20225)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 139)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối