- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Hiroshima Ơi, Em Đã Trở Về Từ Đâu ?

05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 127083)

web2-j-huyensam_hiroshima3_0_300x200_1( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto)

LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.

Bài du ký đăng tải dưới đây được viết nhân chuyến tham quan Nhật bản do Japan Foundation (Hiệp hội Nhật bản) mời vào mùa hoa đào tháng 04/2010 vừa qua. Trong dịp này, tác giả may mắn được tiếp chuyện với bà Tomiko Matsumoto, một nhân chứng còn sống sót trong trận không quân Hoa kỳ dội bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 06/08/1945 (*). Bà nhớ lại những tàn khốc mà mình đã nhìn thấy tận mắt và đã phải gánh chịu trong thể xác cho tới tận bây giờ.

 

(*) Xem: Trần Thiện-Đạo, Lỗi lầm (Hợp lưu, số 97, tháng 11 & 12 năm 2007).

 

 

Chìm trong tầm mắt của du khách, đó là một thế giới hoa anh đào nở miên man, trắng xóa một góc trời, tím biếc những con phố, lâng lâng dọc triền sông. Hoa rơi rơi trên tóc, trên môi, trên gót chân trần của lữ khách… Hiroshima hiện ra như một thế giới thần tiên trong buổi sớm mai, khi bình minh vừa thức dậy. Tôi không kìm nén được sự xúc động, và bật lên thành tiếng: Hiroshima đây ư, nơi tận cùng của cõi chết? Nơi mà trận bom nguyên tử đã san phẳng thành bãi tha ma? Nơi nỗi đau và sự căm phẫn đến tận cùng của loài người, mà kể cả Thượng đế cũng không thể nào dung thứ được, cho tội ác chiến tranh ? Tôi quên hết cái rét đầu xuân, còn vương vấn mùa đông của xứ tuyết, Hiroshima tiềm tàng sức sống, quyến rũ và gợi mở đã chiếm hữu tôi một cách tuyệt đối, hoàn toàn…

Sau 65 năm, Hiroshima đã tái sinh từ cõi hủy diệt. Cái chết, bóng ma, bệnh tật, nỗi đau, đã được thay thế bằng thế giới của hoa anh đào- ngào ngạt hương thơm, của nhà cửa sầm uất, văn minh và niềm kiêu hãnh của người dân xứ sở này. Hiroshima, em đã trở về từ đây, từ cõi chết?

 Bảo tàng Hiroshima là nhân chứng sinh động của thảm khóc chiến tranh. Đây cũng là thông điệp chung của loài người gửi đến Thượng đế, rằng: Chiến tranh, dù nấp bóng dưới hình thức nào, cũng cần phải nguyền rủa và lên án.

 Đập vào mắt tôi là chiếc kim đồng hồ đã ngừng đập vào lúc 8h15p, ngày 6/8/1945. Đây là khoảnh khắc của tử thần hiện hữu. Khoảnh khắc của bên này sự sống và bên kia của sự chết. Khoảnh khắc mà người dân Hiroshima sẽ khắc ghi cho đến tận muôn đời. Vào giờ phút này, cách đây 65 năm, quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã ném xuống nơi đây, chỉ trong vòng mấy phút, toàn thành phố đã hủy diệt. Hơn 200 ngàn người đã chết ngay lập tức. Hơn 300 ngàn người bị thương (1). Hàng loạt người sau đó sống lay lắt vì di chứng của chất độc do bom nguyên tử gây nên. Toàn bộ nhà cửa, trường học, bệnh viên đã bị san phẳng.

Đây là quả bom nguyên tử đầu tiên mang tên Little Boy của quân đội Mỹ, thực hiện dưới lệnh của tổng thống Harry STruman, do viên phi công Paul Warfield Tibets điều khiển, trên chiếc máy bay có biển số là B-29, mang biệt hiệu Enola Gay - nghe nói là tên mẹ của viên phi công nguyền rủa này. Quả bom này có sức nặng là 5 tấn, độ nóng khoảng 3000, bán kính kìm tỏa là 300m/s. Chỉ từng đó thông số cũng đã cho thấy sức mạnh kinh khủng của sự hủy diệt (2).

 

Sau đây, tôi xin ghi lại lời kể của một nhân chứng sống sót từ trận bom nguyên tử khủng khiếp này. Đó là bà Tomiko Matsumoto-người may mắn được tử thần tha mạng. Bà là người dân của thành phố Hiroshima, lúc đó bà 13 tuổi (sinh 1932). Bà bị bom đánh úp trong một buổi sáng khi đang tựu trường. Hiện, trên thân thể bà vẫn còn đầy thương tật, và hầu như bà không thể cầm được vật gì, ngoài đôi đũa để ăn. Đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi rất may mắn, được tổ chức Japan Foundation mời bà kể lại những gì mà bà đã tận mắt chứng kiến (3): 

“ 8h15 phút, lúc đó là buổi sáng, thành phố yên tỉnh, tôi đang tựu trường. Bỗng dưng, một ánh sáng da cam phát ra, bừng sáng một vùng trời. Ngay sau đó, một tiếng nổ gầm vang, rung chuyển cả mặt đất, xé tan không trung. Một sức mạnh rất lớn quật ngã tôi xuống. Tôi bị vùi trong đống gạch đổ nát, tôi không biết mình bất tỉnh trong bao lâu….

 Khi tỉnh dậy, tôi cố hết sức để hất lớp đất đá đè nặng trên lưng. Tôi chui ra, và một thế giới trước mắt tôi là hoang tàn. Cả bầu trời chìm trong khói đen và biển lửa. Tôi không còn nhận ra lối đi. Tôi không xác định được hướng, vì không còn bất cứ thứ gì xung quanh mình. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra.. Tôi gào khóc. Tôi muốn về nhà. Nhưng tôi không biết phải đi hướng nào. Tất cả đã san phẳng. Tôi nhìn lên một ngọn núi, và cắm đầu chạy theo hướng đó, trên đống gạch đổ nát. Tôi nghe tiếng khóc, tiếng kêu cứu. Tôi thấy cả một đoàn người đỏ rực như quả bí, họ đang bị tia phóng xạ của bom nguyên tử thiêu cháy thân thể. Nóng, nóng quá! Họ kêu lên và nhảy xuống sông. Nhiều bà mẹ ôm con gào thét, có người tróc hết da, và mù mắt không nhìn thấy gì, mò mẫm đi loạng quạng như đi trong bóng đêm. Lúc đó, tôi mới hốt hoảng: mình có sao không? Tôi sờ vào thân thể mình, thì chao ôi, bao nhiêu là mảnh thủy tinh găm sâu vào lưng, vào tay chân. Tôi bắt đầu thấy nóng khủng khiếp, nóng thiêu đốt cả da thịt, gan ruột, xương tủy. Trước đó, hầu như tôi không có cảm giác đau đớn gì, vì quá hốt hoảng. Tôi khụy chân xuống và không còn sức lực để đi tiếp, không còn đủ sức để nhảy xuống sông như mọi người. Tôi nghe xung quanh mình những bước chân dồn dập. Tôi mở mắt, và thấy một đoàn người đen ngòm đi qua cầu như một đoàn ma trơi. Họ bị sức nóng thiêu đốt và chết dần trên từng bước chân của mình. Toàn thân họ chảy xuống từng khối nước nhờ nhờ như nhựa bị nung lửa…

Sau đó, tôi được một một xe quân đội Nhật đưa lên núi để trú bom. Hang núi chật ních người. Tiếng kêu khóc thảm thiết của trẻ thơ, và tiếng gào rú não lòng của những người mẹ mất con. Một thế giới địa ngục mở ra trước mắt tôi: người thì cụt cả hai chân và hai tay, người thì lòi ruột ra, vừa đi, vừa nhét vào, người thì một hóc mắt bị khoét sâu. Tôi nghe tiếng rên rỉ và tiếng nói quen thuộc của thầy giáo và bạn mình. Nhưng họ không thể nhìn thấy tôi, vì mắt họ đã bị mù. Họ không còn kịp nhận ra tôi là ai, trước lúc trút hơi thở cuối cùng.

Ban đầu, những người bị thương còn rên rỉ, nhưng sau họ kiệt sức và im dần. Xác chết chất đầy xung quanh. Tôi nghĩ, đến lượt mình rồi cũng chết như họ. Tôi đã bật khóc. Số thương vong nhẹ hơn, lại càng cảm thấy đau đớn. Ngày đầu, họ không tìm cách chữa trị, chỉ đắp lá để giảm vết bỏng. Sau rồi da lỡ ra từng mảng, vết sâu sưng mủ, chảy nước từng vũng vàng khè…Xung quanh tôi, mùi hôi thối bao phủ: mùi máu mủ, mùi của thi thể không kịp khâm liêm. Giòi muỗi vây quanh xác chết, rĩa ráy, rồi bu vào vết thương của những người còn sống…Họ không thèm đuổi, vô vọng buông theo cái chết…

Tôi bắt đầu gào khóc vì hoang mang. Tôi hỏi ba mẹ của tôi đâu? Một người đàn ông nói rằng, thành phố đã bị thiêu trụi. Tôi hiểu rằng, câu nói đó đồng nghĩa với câu trả lời: ba mẹ và em tôi đã chết. Họ hỏi tôi, còn có người thân nào không? Tôi lắc đầu. Một lúc sau, tôi cố tìm trong ký ức để hình dung ra, nơi ở của bà tôi, một vùng xa xôi ở thôn quê… Người đàn ông đó đã giúp tôi tìm hướng đến nhà bà tôi, dù mò mẫm, và khổ ải…

Lúc tôi về quê, thuốc trong người đã ngấm hết, tôi rất đau. Bà tôi mua dưa chuột để đắp lên các vết bỏng trên thân thể tôi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng vài ngày sau, tôi bắt đầu xuất hiện nhiều bệnh kỳ lạ: da mọc lên nhiều mụn nhọt ngứa ngáy, sau thành những vết tím bầm, rồi bị tiêu chảy suốt ngày, dù tôi không ăn vật gì lạ. Vào thời điểm ấy, tôi không biết đó là do tác động của chất độc từ bom nguyên tử. Và đêm đêm, tôi rơi vào những cơn ác mộng, thường xuyên kêu ú ớ, hoặc gào thét vô cớ trong bóng tối…

Tôi thức trắng nhiều đêm. Tỉnh dậy là bật khóc. Tôi hỏi bà tôi, mẹ con đâu, em con đâu? Bà tôi đưa ra một hộp gỗ sơn. Tôi nhìn vào đó: một nhúm tro và những mảnh xương vụn. Em tôi lúc đó đã lên năm…

Tôi bất ngờ nhìn thấy ba vào một buổi chiều. Ba tôi đã tìm tôi cả mấy tháng trời, dưới sức nóng của mặt trời và những đống đổ nát của thành phố sau chiến tranh. Ba tôi thất vọng, nghĩ, tôi cũng đã chết. Lúc bom dội xuống, ba tôi làm việc ở một nơi cách xa tâm điểm nổ, nên sống sót. Lúc ba tôi trở về, tôi không thể ngồi dậy được. Tôi đau khắp thân thể. Tôi bị rụng từng mảng tóc. Những lớp sẹo tái lở loét, da vẫn tróc lên từng mảng, đau đớn….

Một thời gian sau, cha con tôi trở về Hiroshima và mò mẫm dựng lại nhà trên đống gạch đổ nát. Nhiều người cũng như gia đình tôi, bằng mọi cách, họ tìm lại mảnh đất của mình. Họ cắm lại nhà, dù toành toàng, nhưng họ không muốn đi bất kỳ đâu. Chúng tôi muốn tiếp tục sống trên mảnh đất đau thương này. Chúng tôi rơi vào một trận đói khủng khiếp. Tôi tự hỏi, lấy gì để ăn đây, làm gì để có thể sống được? Mọi người tìm cỏ dại để thay bữa. Tôi cũng làm theo. Nhưng cỏ dại rồi cũng hết. Nhiều người bị chết đói. Trẻ em lang thang đầy đường. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tìm cách trở lại trường, Chúng tôi thu gom lại các phế liệu của đống đổ nát. Rồi dựng lại trường.

 Phải làm lại, làm lại bằng mọi cách.

 Không may cho tôi. Ba tôi xuất hiện bệnh máu trắng. Mấy tháng sau, ba tôi tự tử, vì không chịu đựng được nỗi đau đớn. Nhưng trên hết, ba không muốn tôi phải nhường từng miếng cơm. Một số người khác cũng vậy, tự tử vì không thể chịu đựng được: Đói khát. Đau đớn…”

Bà Tomiko Matsumoto ngừng lời với giọt nước mắt đẫm sâu. Bà nói rằng: tôi không muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình, tôi không muốn nhớ lại những tháng ngày khủng khiếp đó. Tuy nhiên, hôm nay đây, tôi có mặt ở đây, cùng với các bạn, là theo lời di chúc của bạn tôi. Bạn gái tôi đã chết, vì bệnh máu trắng. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, cô ấy nói rằng, phải tiếp tục sống, và kể cho mọi người nghe về nỗi đau, nỗi tàn bạo của cuộc chiến tranh này. Và bà cho biết thêm, thế hệ những người như bà, sau chiến tranh bị nhiều bệnh tật di chứng: sinh con quái thai, bị điên loạn, đặc biệt là bệnh máu trắng...(4). Bà nói với giọng xúc động, nhưng mạnh mẽ: Chúng tôi thề rằng, chiến tranh sẽ không bao giờ tái diễn nơi đây.

Cả đoàn chúng tôi lặng đi, sau câu chuyện của bà. Tai tôi ù đặc. Chúng tôi, mỗi người, muốn nói một điều gì đó để chia sẻ với bà, nhưng không thể cất lên thành lời. Nghệ sĩ Thành Lộc, lặng lẽ nắm tay bà, và chỉ biết nghẹn ngào với hai từ: “ Cám ơn bà”.

Vì sao Mỹ ném bom? Nguyên cớ được nêu ra là: để Nhật đầu hàng và chiến tranh sớm kết thúc, giảm bớt những thương vong, thiệt hại của hai bên tham chiến. Tuy nhiên, theo các bình luận viên của chiến tranh, nguyên nhân sâu xa là: Mỹ muốn thử hiệu quả của bom nguyên tử, và nhằm thị uy sức mạnh hạt nhân đối với Liên Xô. Đó là vấn đề liên quan đến các chính trị gia và các nhà cầm quyền. Còn chúng ta, chỉ có thể nói rằng, dù biện minh từ góc độ nào, việc thả bom của Mỹ là một hành động phi đạo đức, vô lương tâm, và thế giới sẽ không ngừng phỉ báng, lên án …

Không ai có thể kìm nén được sự căm phẫn của mình, khi nhìn thấy những hiện vật nơi đây. Những con người như những bóng ma: bàn tay bị thiêu trụi, mặt cháy sém, da rộp lên. Những đám mây hình nấm như hiện thân của thần chết bao phủ cả thành phố Hiroshima, trận mưa đen dội xuống như những dòng thác máu, tím bầm từng mảng khủng khiếp (5)…Tiếp đến, là những nạn nhân bị ảnh hưởng chất độc: bệnh ung thư, máu trắng, dị tật. Một người phụ nữ với khuôn mặt dị dạng, một em bé bị mù, một người đàn ông không còn phụ tang…

Bên kia, đối diện với thế giới chết chốc đó, là những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki-nạn nhân di chứng của bom nguyên tử. Khi quả bom nổ, em bị hất tung ra, nhưng vẫn sóng sót. Tuy nhiên, sau 9 năm, lúc 12 tuổi, em bị phát hiện là ung thư máu, hay còn gọi là bệnh máu trắng. Một căn bệnh nguy hiểm mà người dân ở đây thường mắc phải, do ảnh hưởng chất phóng xạ từ bom nguyên tử. Em phải nghỉ học vào bệnh viện, và từng ngày, từng ngày, em gấp những cánh hạc trắng bằng giấy, với niềm khao khát được sống. 1000 con hạc trắng từ đôi bàn tay ngây thơ, không cứu nổi số phận của em, nhưng đó là thông điệp chung cho nhân loại về niềm khát khao hòa bình. Em mất vào ngày 25 tháng 10 năm 1955. Linh hồn em chìm ngập trong một thế giới của những cánh hạc trắng, oan nghiệt bay lên không trung-nơi mà trận mưa đen tàn ác từng dội xuống số phận của em, dội xuống thành phố bình yên và những người dân vô tội. Theo lời người thuyết minh bảo tàng, cái chết của em đã gây sự căm phẫn của toàn nước Nhật. Hàng loạt cuộc biểu tình với khẩu hiệu phản đối vũ khí hạt nhân đã diễn ra…

Tôi thoát ra khỏi bảo tàng mà vẫn còn nghe mùi khét của bom nguyên tử xen lẫn với tiếng khóc của những đứa trẻ, trận mưa đen chảy rào rào như thác máu…

Chúng tôi đi dưới Tượng đài hòa bình vì trẻ thơ, và nghe đâu đây tiếng thì thầm của những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki, như một thông điệp về niềm khát khao hòa bình và tình yêu thương nhân loại. Tôi kiểng chân và hôn lên một nụ anh đào chúm chím, đang thì khai hoa, mùi thơm thoang thoảng, tinh khiết, nhưng lại nồng nàn khắp các giác quan. Hiroshima ơi, phải chăng em đã trở về từ cõi chết? 

 

TRẦN HUYỀN SÂM

(Hiroshima, 4/4/2010)

 

 

 .

1. Con số thương vong được ghi lại theo những tư liệu không khớp nhau. Tôi lấy theo lời của người thuyết minh lịch sử ở bảo tàng này..

2. Ngoài thành phố Hiroshima, ngày 9/8/1945, Mỹ còn ném thêm một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki và giết chết hơn 74.000 mạng sống

3. Đoàn chúng tôi gồm 11 văn nghệ sĩ Việt Nam, do Tổ chức Japan Foundation mời sang Nhật Bản để giao lưu văn hóa-văn học, từ ngày 28-3 dến 7-4-2010

4. Ghi theo lời phiên dịch của Lương Việt Dũng, được diễn giãi lại theo cảm xúc của tác giả bài báo.

5. Mưa đen: do khói và lửa của bom nguyên tử bốc lên, gặp những đám mây và tạo thành cơn mưa. Những người mắc trận mưa này, phần lớn đều bị bệnh máu trắng hoặc sinh đẻ dị tật.

6. Bệnh máu trắng: Một căn bệnh khủng khiếp, do ảnh hưởng chất độc bom nguyên tử. Các tế bào máu bị hủy hoại rất nhanh, vô phương cứu chữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 165)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 241)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 340)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 605)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 478)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2697)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1795)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1441)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2540)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2046)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1881)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11753)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18351)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17379)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 338)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2540)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2661)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4040)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 605)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2046)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3865)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3331)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2696)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2554)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2939)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2911)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 165)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 478)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1795)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1441)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4707)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14930)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31055)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37845)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12763)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5317)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7902)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6939)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7369)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8315)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 241)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9927)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9116)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi