- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,968

Hiroshima Ơi, Em Đã Trở Về Từ Đâu ?

05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 88451)

web2-j-huyensam_hiroshima3_0_300x200_1( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto)

LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.

Bài du ký đăng tải dưới đây được viết nhân chuyến tham quan Nhật bản do Japan Foundation (Hiệp hội Nhật bản) mời vào mùa hoa đào tháng 04/2010 vừa qua. Trong dịp này, tác giả may mắn được tiếp chuyện với bà Tomiko Matsumoto, một nhân chứng còn sống sót trong trận không quân Hoa kỳ dội bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 06/08/1945 (*). Bà nhớ lại những tàn khốc mà mình đã nhìn thấy tận mắt và đã phải gánh chịu trong thể xác cho tới tận bây giờ.

 

(*) Xem: Trần Thiện-Đạo, Lỗi lầm (Hợp lưu, số 97, tháng 11 & 12 năm 2007).

 

 

Chìm trong tầm mắt của du khách, đó là một thế giới hoa anh đào nở miên man, trắng xóa một góc trời, tím biếc những con phố, lâng lâng dọc triền sông. Hoa rơi rơi trên tóc, trên môi, trên gót chân trần của lữ khách… Hiroshima hiện ra như một thế giới thần tiên trong buổi sớm mai, khi bình minh vừa thức dậy. Tôi không kìm nén được sự xúc động, và bật lên thành tiếng: Hiroshima đây ư, nơi tận cùng của cõi chết? Nơi mà trận bom nguyên tử đã san phẳng thành bãi tha ma? Nơi nỗi đau và sự căm phẫn đến tận cùng của loài người, mà kể cả Thượng đế cũng không thể nào dung thứ được, cho tội ác chiến tranh ? Tôi quên hết cái rét đầu xuân, còn vương vấn mùa đông của xứ tuyết, Hiroshima tiềm tàng sức sống, quyến rũ và gợi mở đã chiếm hữu tôi một cách tuyệt đối, hoàn toàn…

Sau 65 năm, Hiroshima đã tái sinh từ cõi hủy diệt. Cái chết, bóng ma, bệnh tật, nỗi đau, đã được thay thế bằng thế giới của hoa anh đào- ngào ngạt hương thơm, của nhà cửa sầm uất, văn minh và niềm kiêu hãnh của người dân xứ sở này. Hiroshima, em đã trở về từ đây, từ cõi chết?

 Bảo tàng Hiroshima là nhân chứng sinh động của thảm khóc chiến tranh. Đây cũng là thông điệp chung của loài người gửi đến Thượng đế, rằng: Chiến tranh, dù nấp bóng dưới hình thức nào, cũng cần phải nguyền rủa và lên án.

 Đập vào mắt tôi là chiếc kim đồng hồ đã ngừng đập vào lúc 8h15p, ngày 6/8/1945. Đây là khoảnh khắc của tử thần hiện hữu. Khoảnh khắc của bên này sự sống và bên kia của sự chết. Khoảnh khắc mà người dân Hiroshima sẽ khắc ghi cho đến tận muôn đời. Vào giờ phút này, cách đây 65 năm, quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã ném xuống nơi đây, chỉ trong vòng mấy phút, toàn thành phố đã hủy diệt. Hơn 200 ngàn người đã chết ngay lập tức. Hơn 300 ngàn người bị thương (1). Hàng loạt người sau đó sống lay lắt vì di chứng của chất độc do bom nguyên tử gây nên. Toàn bộ nhà cửa, trường học, bệnh viên đã bị san phẳng.

Đây là quả bom nguyên tử đầu tiên mang tên Little Boy của quân đội Mỹ, thực hiện dưới lệnh của tổng thống Harry STruman, do viên phi công Paul Warfield Tibets điều khiển, trên chiếc máy bay có biển số là B-29, mang biệt hiệu Enola Gay - nghe nói là tên mẹ của viên phi công nguyền rủa này. Quả bom này có sức nặng là 5 tấn, độ nóng khoảng 3000, bán kính kìm tỏa là 300m/s. Chỉ từng đó thông số cũng đã cho thấy sức mạnh kinh khủng của sự hủy diệt (2).

 

Sau đây, tôi xin ghi lại lời kể của một nhân chứng sống sót từ trận bom nguyên tử khủng khiếp này. Đó là bà Tomiko Matsumoto-người may mắn được tử thần tha mạng. Bà là người dân của thành phố Hiroshima, lúc đó bà 13 tuổi (sinh 1932). Bà bị bom đánh úp trong một buổi sáng khi đang tựu trường. Hiện, trên thân thể bà vẫn còn đầy thương tật, và hầu như bà không thể cầm được vật gì, ngoài đôi đũa để ăn. Đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi rất may mắn, được tổ chức Japan Foundation mời bà kể lại những gì mà bà đã tận mắt chứng kiến (3): 

“ 8h15 phút, lúc đó là buổi sáng, thành phố yên tỉnh, tôi đang tựu trường. Bỗng dưng, một ánh sáng da cam phát ra, bừng sáng một vùng trời. Ngay sau đó, một tiếng nổ gầm vang, rung chuyển cả mặt đất, xé tan không trung. Một sức mạnh rất lớn quật ngã tôi xuống. Tôi bị vùi trong đống gạch đổ nát, tôi không biết mình bất tỉnh trong bao lâu….

 Khi tỉnh dậy, tôi cố hết sức để hất lớp đất đá đè nặng trên lưng. Tôi chui ra, và một thế giới trước mắt tôi là hoang tàn. Cả bầu trời chìm trong khói đen và biển lửa. Tôi không còn nhận ra lối đi. Tôi không xác định được hướng, vì không còn bất cứ thứ gì xung quanh mình. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra.. Tôi gào khóc. Tôi muốn về nhà. Nhưng tôi không biết phải đi hướng nào. Tất cả đã san phẳng. Tôi nhìn lên một ngọn núi, và cắm đầu chạy theo hướng đó, trên đống gạch đổ nát. Tôi nghe tiếng khóc, tiếng kêu cứu. Tôi thấy cả một đoàn người đỏ rực như quả bí, họ đang bị tia phóng xạ của bom nguyên tử thiêu cháy thân thể. Nóng, nóng quá! Họ kêu lên và nhảy xuống sông. Nhiều bà mẹ ôm con gào thét, có người tróc hết da, và mù mắt không nhìn thấy gì, mò mẫm đi loạng quạng như đi trong bóng đêm. Lúc đó, tôi mới hốt hoảng: mình có sao không? Tôi sờ vào thân thể mình, thì chao ôi, bao nhiêu là mảnh thủy tinh găm sâu vào lưng, vào tay chân. Tôi bắt đầu thấy nóng khủng khiếp, nóng thiêu đốt cả da thịt, gan ruột, xương tủy. Trước đó, hầu như tôi không có cảm giác đau đớn gì, vì quá hốt hoảng. Tôi khụy chân xuống và không còn sức lực để đi tiếp, không còn đủ sức để nhảy xuống sông như mọi người. Tôi nghe xung quanh mình những bước chân dồn dập. Tôi mở mắt, và thấy một đoàn người đen ngòm đi qua cầu như một đoàn ma trơi. Họ bị sức nóng thiêu đốt và chết dần trên từng bước chân của mình. Toàn thân họ chảy xuống từng khối nước nhờ nhờ như nhựa bị nung lửa…

Sau đó, tôi được một một xe quân đội Nhật đưa lên núi để trú bom. Hang núi chật ních người. Tiếng kêu khóc thảm thiết của trẻ thơ, và tiếng gào rú não lòng của những người mẹ mất con. Một thế giới địa ngục mở ra trước mắt tôi: người thì cụt cả hai chân và hai tay, người thì lòi ruột ra, vừa đi, vừa nhét vào, người thì một hóc mắt bị khoét sâu. Tôi nghe tiếng rên rỉ và tiếng nói quen thuộc của thầy giáo và bạn mình. Nhưng họ không thể nhìn thấy tôi, vì mắt họ đã bị mù. Họ không còn kịp nhận ra tôi là ai, trước lúc trút hơi thở cuối cùng.

Ban đầu, những người bị thương còn rên rỉ, nhưng sau họ kiệt sức và im dần. Xác chết chất đầy xung quanh. Tôi nghĩ, đến lượt mình rồi cũng chết như họ. Tôi đã bật khóc. Số thương vong nhẹ hơn, lại càng cảm thấy đau đớn. Ngày đầu, họ không tìm cách chữa trị, chỉ đắp lá để giảm vết bỏng. Sau rồi da lỡ ra từng mảng, vết sâu sưng mủ, chảy nước từng vũng vàng khè…Xung quanh tôi, mùi hôi thối bao phủ: mùi máu mủ, mùi của thi thể không kịp khâm liêm. Giòi muỗi vây quanh xác chết, rĩa ráy, rồi bu vào vết thương của những người còn sống…Họ không thèm đuổi, vô vọng buông theo cái chết…

Tôi bắt đầu gào khóc vì hoang mang. Tôi hỏi ba mẹ của tôi đâu? Một người đàn ông nói rằng, thành phố đã bị thiêu trụi. Tôi hiểu rằng, câu nói đó đồng nghĩa với câu trả lời: ba mẹ và em tôi đã chết. Họ hỏi tôi, còn có người thân nào không? Tôi lắc đầu. Một lúc sau, tôi cố tìm trong ký ức để hình dung ra, nơi ở của bà tôi, một vùng xa xôi ở thôn quê… Người đàn ông đó đã giúp tôi tìm hướng đến nhà bà tôi, dù mò mẫm, và khổ ải…

Lúc tôi về quê, thuốc trong người đã ngấm hết, tôi rất đau. Bà tôi mua dưa chuột để đắp lên các vết bỏng trên thân thể tôi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng vài ngày sau, tôi bắt đầu xuất hiện nhiều bệnh kỳ lạ: da mọc lên nhiều mụn nhọt ngứa ngáy, sau thành những vết tím bầm, rồi bị tiêu chảy suốt ngày, dù tôi không ăn vật gì lạ. Vào thời điểm ấy, tôi không biết đó là do tác động của chất độc từ bom nguyên tử. Và đêm đêm, tôi rơi vào những cơn ác mộng, thường xuyên kêu ú ớ, hoặc gào thét vô cớ trong bóng tối…

Tôi thức trắng nhiều đêm. Tỉnh dậy là bật khóc. Tôi hỏi bà tôi, mẹ con đâu, em con đâu? Bà tôi đưa ra một hộp gỗ sơn. Tôi nhìn vào đó: một nhúm tro và những mảnh xương vụn. Em tôi lúc đó đã lên năm…

Tôi bất ngờ nhìn thấy ba vào một buổi chiều. Ba tôi đã tìm tôi cả mấy tháng trời, dưới sức nóng của mặt trời và những đống đổ nát của thành phố sau chiến tranh. Ba tôi thất vọng, nghĩ, tôi cũng đã chết. Lúc bom dội xuống, ba tôi làm việc ở một nơi cách xa tâm điểm nổ, nên sống sót. Lúc ba tôi trở về, tôi không thể ngồi dậy được. Tôi đau khắp thân thể. Tôi bị rụng từng mảng tóc. Những lớp sẹo tái lở loét, da vẫn tróc lên từng mảng, đau đớn….

Một thời gian sau, cha con tôi trở về Hiroshima và mò mẫm dựng lại nhà trên đống gạch đổ nát. Nhiều người cũng như gia đình tôi, bằng mọi cách, họ tìm lại mảnh đất của mình. Họ cắm lại nhà, dù toành toàng, nhưng họ không muốn đi bất kỳ đâu. Chúng tôi muốn tiếp tục sống trên mảnh đất đau thương này. Chúng tôi rơi vào một trận đói khủng khiếp. Tôi tự hỏi, lấy gì để ăn đây, làm gì để có thể sống được? Mọi người tìm cỏ dại để thay bữa. Tôi cũng làm theo. Nhưng cỏ dại rồi cũng hết. Nhiều người bị chết đói. Trẻ em lang thang đầy đường. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tìm cách trở lại trường, Chúng tôi thu gom lại các phế liệu của đống đổ nát. Rồi dựng lại trường.

 Phải làm lại, làm lại bằng mọi cách.

 Không may cho tôi. Ba tôi xuất hiện bệnh máu trắng. Mấy tháng sau, ba tôi tự tử, vì không chịu đựng được nỗi đau đớn. Nhưng trên hết, ba không muốn tôi phải nhường từng miếng cơm. Một số người khác cũng vậy, tự tử vì không thể chịu đựng được: Đói khát. Đau đớn…”

Bà Tomiko Matsumoto ngừng lời với giọt nước mắt đẫm sâu. Bà nói rằng: tôi không muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình, tôi không muốn nhớ lại những tháng ngày khủng khiếp đó. Tuy nhiên, hôm nay đây, tôi có mặt ở đây, cùng với các bạn, là theo lời di chúc của bạn tôi. Bạn gái tôi đã chết, vì bệnh máu trắng. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, cô ấy nói rằng, phải tiếp tục sống, và kể cho mọi người nghe về nỗi đau, nỗi tàn bạo của cuộc chiến tranh này. Và bà cho biết thêm, thế hệ những người như bà, sau chiến tranh bị nhiều bệnh tật di chứng: sinh con quái thai, bị điên loạn, đặc biệt là bệnh máu trắng...(4). Bà nói với giọng xúc động, nhưng mạnh mẽ: Chúng tôi thề rằng, chiến tranh sẽ không bao giờ tái diễn nơi đây.

Cả đoàn chúng tôi lặng đi, sau câu chuyện của bà. Tai tôi ù đặc. Chúng tôi, mỗi người, muốn nói một điều gì đó để chia sẻ với bà, nhưng không thể cất lên thành lời. Nghệ sĩ Thành Lộc, lặng lẽ nắm tay bà, và chỉ biết nghẹn ngào với hai từ: “ Cám ơn bà”.

Vì sao Mỹ ném bom? Nguyên cớ được nêu ra là: để Nhật đầu hàng và chiến tranh sớm kết thúc, giảm bớt những thương vong, thiệt hại của hai bên tham chiến. Tuy nhiên, theo các bình luận viên của chiến tranh, nguyên nhân sâu xa là: Mỹ muốn thử hiệu quả của bom nguyên tử, và nhằm thị uy sức mạnh hạt nhân đối với Liên Xô. Đó là vấn đề liên quan đến các chính trị gia và các nhà cầm quyền. Còn chúng ta, chỉ có thể nói rằng, dù biện minh từ góc độ nào, việc thả bom của Mỹ là một hành động phi đạo đức, vô lương tâm, và thế giới sẽ không ngừng phỉ báng, lên án …

Không ai có thể kìm nén được sự căm phẫn của mình, khi nhìn thấy những hiện vật nơi đây. Những con người như những bóng ma: bàn tay bị thiêu trụi, mặt cháy sém, da rộp lên. Những đám mây hình nấm như hiện thân của thần chết bao phủ cả thành phố Hiroshima, trận mưa đen dội xuống như những dòng thác máu, tím bầm từng mảng khủng khiếp (5)…Tiếp đến, là những nạn nhân bị ảnh hưởng chất độc: bệnh ung thư, máu trắng, dị tật. Một người phụ nữ với khuôn mặt dị dạng, một em bé bị mù, một người đàn ông không còn phụ tang…

Bên kia, đối diện với thế giới chết chốc đó, là những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki-nạn nhân di chứng của bom nguyên tử. Khi quả bom nổ, em bị hất tung ra, nhưng vẫn sóng sót. Tuy nhiên, sau 9 năm, lúc 12 tuổi, em bị phát hiện là ung thư máu, hay còn gọi là bệnh máu trắng. Một căn bệnh nguy hiểm mà người dân ở đây thường mắc phải, do ảnh hưởng chất phóng xạ từ bom nguyên tử. Em phải nghỉ học vào bệnh viện, và từng ngày, từng ngày, em gấp những cánh hạc trắng bằng giấy, với niềm khao khát được sống. 1000 con hạc trắng từ đôi bàn tay ngây thơ, không cứu nổi số phận của em, nhưng đó là thông điệp chung cho nhân loại về niềm khát khao hòa bình. Em mất vào ngày 25 tháng 10 năm 1955. Linh hồn em chìm ngập trong một thế giới của những cánh hạc trắng, oan nghiệt bay lên không trung-nơi mà trận mưa đen tàn ác từng dội xuống số phận của em, dội xuống thành phố bình yên và những người dân vô tội. Theo lời người thuyết minh bảo tàng, cái chết của em đã gây sự căm phẫn của toàn nước Nhật. Hàng loạt cuộc biểu tình với khẩu hiệu phản đối vũ khí hạt nhân đã diễn ra…

Tôi thoát ra khỏi bảo tàng mà vẫn còn nghe mùi khét của bom nguyên tử xen lẫn với tiếng khóc của những đứa trẻ, trận mưa đen chảy rào rào như thác máu…

Chúng tôi đi dưới Tượng đài hòa bình vì trẻ thơ, và nghe đâu đây tiếng thì thầm của những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki, như một thông điệp về niềm khát khao hòa bình và tình yêu thương nhân loại. Tôi kiểng chân và hôn lên một nụ anh đào chúm chím, đang thì khai hoa, mùi thơm thoang thoảng, tinh khiết, nhưng lại nồng nàn khắp các giác quan. Hiroshima ơi, phải chăng em đã trở về từ cõi chết? 

 

TRẦN HUYỀN SÂM

(Hiroshima, 4/4/2010)

 

 

 .

1. Con số thương vong được ghi lại theo những tư liệu không khớp nhau. Tôi lấy theo lời của người thuyết minh lịch sử ở bảo tàng này..

2. Ngoài thành phố Hiroshima, ngày 9/8/1945, Mỹ còn ném thêm một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki và giết chết hơn 74.000 mạng sống

3. Đoàn chúng tôi gồm 11 văn nghệ sĩ Việt Nam, do Tổ chức Japan Foundation mời sang Nhật Bản để giao lưu văn hóa-văn học, từ ngày 28-3 dến 7-4-2010

4. Ghi theo lời phiên dịch của Lương Việt Dũng, được diễn giãi lại theo cảm xúc của tác giả bài báo.

5. Mưa đen: do khói và lửa của bom nguyên tử bốc lên, gặp những đám mây và tạo thành cơn mưa. Những người mắc trận mưa này, phần lớn đều bị bệnh máu trắng hoặc sinh đẻ dị tật.

6. Bệnh máu trắng: Một căn bệnh khủng khiếp, do ảnh hưởng chất độc bom nguyên tử. Các tế bào máu bị hủy hoại rất nhanh, vô phương cứu chữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Tám 20219:16 CH(Xem: 702)
Một năm trôi qua, nỗi sợ hãi càng thấm đẫm hơn. Sợ bệnh dịch hoàng hoành, con virus –cúm Vũ Hán thực quái ác, nó gây nỗi sợ hãi cho cả thế giới. Loài người như điêu đứng vì nó, nó gây bao tang tóc, đau thương không có bút mực nào tả xiết. Thần quyền, sợ chết. Cường quyền, sợ phạt tiền, sợ tù đày, rờ đâu cũng sợ.
24 Tháng Tám 202110:46 CH(Xem: 1095)
Tôi từ từ từ đứng dậy, như thoát ra khỏi một lớp vỏ nào đó, bước tới vài bước rồi quay lại nhìn chính mình. Tôi vẫn còn ngồi ôm đầu trên sofa, quằn quại trong đau đớn. Tôi bỏ mặc tôi ngồi đó để quay vào bên trong, bây giờ đã thấy trong người nhẹ nhàng đôi chút. Tôi bỏ lại cả cơn đau và cơn say, lướt đi như không chạm đất, lần về phía cái cầu thang gỗ dẫn lên căn gác xép. Mùi ẩm mốc của nơi ít người lui tới tràn ngập căn gác tối. Tiếng mưa vỗ trên nóc nhà nghe rõ mồn một. / Tôi bắt đầu lục lọi những món đồ đã từ lâu không đụng tới, không biết mình đang tìm kiếm gì. Mấy cuốn sách cũ bay mùi ngai ngái. Vài tập nhật ký bám đầy bụi. Những album ảnh dày cộm, chất chứa biết bao nhiêu nhân vật trong đó, người còn, kẻ mất. Tôi thẫn thờ lật qua vài trang bất chợt, những quãng đời đã qua như từng phân đoạn trong một cuốn phim dài, lúc thì đen trắng, lúc thì nhiều màu sắc, hiển hiện như chưa bao giờ mất đi. Cơn mưa hiện tại vẫn còn rạt rào trên mái.
24 Tháng Tám 20217:32 CH(Xem: 607)
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng. / Walking under the severe Saigon sunshine, I suddenly feel the coolness / Because there you are, wearing the Ha Dong silk long dress / You know, I have been in love with that colour in a dress / Like my poems which still maintain the colour of silk in its whiteness.
17 Tháng Tám 202110:48 CH(Xem: 887)
Vòng quay trái đất hai mươi bốn giờ một ngày, ba trăm sáu mươi lăm vòng một năm, ba ngàn sáu trăm năm mươi vòng mười năm. Vòng quay thời gian nhớ thương, đợi chờ, tuyệt vọng. Vòng quay bánh xe ra đi chắc nàng còn ngủ say, vòng quay bánh xe trở về không biết nàng giờ ra sao.
17 Tháng Tám 202110:42 CH(Xem: 677)
Tôi nhỏ xíu, tôi bé xíu. / Cũng chẳng có nghĩa những bóng lớn của Hội Họa Sĩ Trẻ đó đã che hết dáng tôi, cô học trò xinh xinh, chen chân, nhón gót xem tranh trong những chiều trốn lễ, bỏ nhà thờ… / Tôi mượt mà, tóc bay và mắt ướt, tôi thơ mộng như những thiếu nữ trong tranh. Tôi nhìn thấp thoáng chút yêu kiều, thời của những Chagall, Pissarro, Cezanne, Matisse… Và ngay cả rất xa xưa, Rembrandt.
16 Tháng Tám 20214:24 CH(Xem: 650)
Hôm qua em đi tỉnh về / Đợi em ở mãi con đê đầu làng / Khăn nhung quần lĩnh rộn-ràng / Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi! / You were due to come back from town yesterday / I was waiting at the end of the village gate’s causeway / There you were, wearing a velvet scarf and shiny silk pants / Little did you know how your snap-button shirt tortured me then!
15 Tháng Tám 202110:45 CH(Xem: 665)
Cuốn thơ song ngữ có tên là “Các Bài Thơ Việt Nam Khó Quên – Unforgettable Vietnamese Poems” của Hương Cau Cao Tân đến với tôi vào những ngày đầu Xuân giữa mùa đại dịch. Sách khá dầy, khoảng 300 trang, trình bầy trang nhã, mỹ thuật, những trang thơ Việt-Anh in song hành dễ dàng đối chiếu. / Sách gồm 100 bài thơ Việt và 100 bài thơ chuyển dịch sang Anh ngữ. Tác giả đã chọn ra 16 nhà thơ nổi tiếng và lựa ra những bài mà tôi chắc rằng nhiều độc giả đã từng ưa thích. Tôi tạm chia các nhà thơ ra từng thời kỳ để dễ cảm nhận những dòng thơ này: Thời kỳ Văn Nôm: Bà Huyện Thanh Quan, Trần Tế Xương. / Thời kỳ Tiền Chiến: Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, T.T. Kh., Vũ Đình Liên, Xuân Diệu. / Thời kỳ Kháng chiến: Hữu Loan, Quang Dũng. /Thời kỳ Đất nước chia đôi: Nguyên Sa, Phùng Quán.
05 Tháng Tám 202112:12 SA(Xem: 1256)
Saigon mùa này rất nắng / Vàng hoe mái tóc ai xưa / Chùm phượng đầu cành hóng gió / Cong khô ngọn cỏ xác xơ.
04 Tháng Tám 202111:49 CH(Xem: 1211)
Tần Cuồng ngồi đó, mắt láo liên, môi tím ngắt, nhưng khóe miệng ngạo nghễ, không rõ là cười ruồi, cười đểu, cười khẩy hay đang suy nghĩ, âm mưu, dự tính hoặc đắc thắc việc gì. /Mọi người chửi Đ. M. thời Covid, có kẻ phát điên lên, mất trí vì căm ghét, thù hận, nhưng Cuồng thì đắc trí, và đắc trí như giới thượng cấp của y.
04 Tháng Tám 202111:36 CH(Xem: 586)
Thỉnh thoảng tôi dọn sách vở xem cuốn nào cần giữ, cuốn nào mang cho, và đặc biệt là cuốn nào cần gửi trả khổ chủ kẻo lỡ quên đâm mang tiếng. Thuộc vào số ít sách phải gửi lại khổ chủ, tôi tìm thấy cuốn này: Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung, tạm dịch là Người Việt Cộng hoà thời Thuộc địa - Viễn kiến Chính trị của Vũ Trọng Phụng, của sử gia Peter Zinoman thuộc phân khoa Sử học của Đại học California tại Berkeley. / Tôi vẫn có ý định viết bài giới thiệu tập biên khảo của GS Zinoman từ khi đọc xong, với nhiều thích thú, từ… giữa mùa đại dịch Covid vào hè năm ngoái. Bài bên dưới là lời giới thiệu khái quát tập biên khảo đã giúp tôi biết thêm rất nhiều về nhà văn Vũ Trọng Phụng vốn khá độc đáo của nền văn học tiền chiến, nay càng thêm (có thể nói là) độc nhất như một tay “tiền trạm” của chủ nghĩa cộng hoà tại Việt Nam dưới cái nhìn của sử gia Zinoman.