- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Hiroshima Ơi, Em Đã Trở Về Từ Đâu ?

05 Tháng Tám 201012:00 SA(Xem: 124516)

web2-j-huyensam_hiroshima3_0_300x200_1( Người sống sót từ trận bom nguyên tử Hiroshima: Bà Tomiko Matsumoto)

LTS: Trần Huyền Sâm sinh năm 1973, hiện là Giảng viên Khoa văn trường Đại học Sư phạm Huế. Tác giả cuốn Tiếng nói thi ca (Nxb Văn học, 2002), giải thưởng Hội nhà văn Thừa thiên Huế 2003, và cuốn Lý luận văn học phương Tây - Tự sự học kinh điển (Nxb Văn học, 2010). Lần đầu tiên cộng tác với Hợp lưu.

Bài du ký đăng tải dưới đây được viết nhân chuyến tham quan Nhật bản do Japan Foundation (Hiệp hội Nhật bản) mời vào mùa hoa đào tháng 04/2010 vừa qua. Trong dịp này, tác giả may mắn được tiếp chuyện với bà Tomiko Matsumoto, một nhân chứng còn sống sót trong trận không quân Hoa kỳ dội bom nguyên tử ở Hiroshima ngày 06/08/1945 (*). Bà nhớ lại những tàn khốc mà mình đã nhìn thấy tận mắt và đã phải gánh chịu trong thể xác cho tới tận bây giờ.

 

(*) Xem: Trần Thiện-Đạo, Lỗi lầm (Hợp lưu, số 97, tháng 11 & 12 năm 2007).

 

 

Chìm trong tầm mắt của du khách, đó là một thế giới hoa anh đào nở miên man, trắng xóa một góc trời, tím biếc những con phố, lâng lâng dọc triền sông. Hoa rơi rơi trên tóc, trên môi, trên gót chân trần của lữ khách… Hiroshima hiện ra như một thế giới thần tiên trong buổi sớm mai, khi bình minh vừa thức dậy. Tôi không kìm nén được sự xúc động, và bật lên thành tiếng: Hiroshima đây ư, nơi tận cùng của cõi chết? Nơi mà trận bom nguyên tử đã san phẳng thành bãi tha ma? Nơi nỗi đau và sự căm phẫn đến tận cùng của loài người, mà kể cả Thượng đế cũng không thể nào dung thứ được, cho tội ác chiến tranh ? Tôi quên hết cái rét đầu xuân, còn vương vấn mùa đông của xứ tuyết, Hiroshima tiềm tàng sức sống, quyến rũ và gợi mở đã chiếm hữu tôi một cách tuyệt đối, hoàn toàn…

Sau 65 năm, Hiroshima đã tái sinh từ cõi hủy diệt. Cái chết, bóng ma, bệnh tật, nỗi đau, đã được thay thế bằng thế giới của hoa anh đào- ngào ngạt hương thơm, của nhà cửa sầm uất, văn minh và niềm kiêu hãnh của người dân xứ sở này. Hiroshima, em đã trở về từ đây, từ cõi chết?

 Bảo tàng Hiroshima là nhân chứng sinh động của thảm khóc chiến tranh. Đây cũng là thông điệp chung của loài người gửi đến Thượng đế, rằng: Chiến tranh, dù nấp bóng dưới hình thức nào, cũng cần phải nguyền rủa và lên án.

 Đập vào mắt tôi là chiếc kim đồng hồ đã ngừng đập vào lúc 8h15p, ngày 6/8/1945. Đây là khoảnh khắc của tử thần hiện hữu. Khoảnh khắc của bên này sự sống và bên kia của sự chết. Khoảnh khắc mà người dân Hiroshima sẽ khắc ghi cho đến tận muôn đời. Vào giờ phút này, cách đây 65 năm, quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ đã ném xuống nơi đây, chỉ trong vòng mấy phút, toàn thành phố đã hủy diệt. Hơn 200 ngàn người đã chết ngay lập tức. Hơn 300 ngàn người bị thương (1). Hàng loạt người sau đó sống lay lắt vì di chứng của chất độc do bom nguyên tử gây nên. Toàn bộ nhà cửa, trường học, bệnh viên đã bị san phẳng.

Đây là quả bom nguyên tử đầu tiên mang tên Little Boy của quân đội Mỹ, thực hiện dưới lệnh của tổng thống Harry STruman, do viên phi công Paul Warfield Tibets điều khiển, trên chiếc máy bay có biển số là B-29, mang biệt hiệu Enola Gay - nghe nói là tên mẹ của viên phi công nguyền rủa này. Quả bom này có sức nặng là 5 tấn, độ nóng khoảng 3000, bán kính kìm tỏa là 300m/s. Chỉ từng đó thông số cũng đã cho thấy sức mạnh kinh khủng của sự hủy diệt (2).

 

Sau đây, tôi xin ghi lại lời kể của một nhân chứng sống sót từ trận bom nguyên tử khủng khiếp này. Đó là bà Tomiko Matsumoto-người may mắn được tử thần tha mạng. Bà là người dân của thành phố Hiroshima, lúc đó bà 13 tuổi (sinh 1932). Bà bị bom đánh úp trong một buổi sáng khi đang tựu trường. Hiện, trên thân thể bà vẫn còn đầy thương tật, và hầu như bà không thể cầm được vật gì, ngoài đôi đũa để ăn. Đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi rất may mắn, được tổ chức Japan Foundation mời bà kể lại những gì mà bà đã tận mắt chứng kiến (3): 

“ 8h15 phút, lúc đó là buổi sáng, thành phố yên tỉnh, tôi đang tựu trường. Bỗng dưng, một ánh sáng da cam phát ra, bừng sáng một vùng trời. Ngay sau đó, một tiếng nổ gầm vang, rung chuyển cả mặt đất, xé tan không trung. Một sức mạnh rất lớn quật ngã tôi xuống. Tôi bị vùi trong đống gạch đổ nát, tôi không biết mình bất tỉnh trong bao lâu….

 Khi tỉnh dậy, tôi cố hết sức để hất lớp đất đá đè nặng trên lưng. Tôi chui ra, và một thế giới trước mắt tôi là hoang tàn. Cả bầu trời chìm trong khói đen và biển lửa. Tôi không còn nhận ra lối đi. Tôi không xác định được hướng, vì không còn bất cứ thứ gì xung quanh mình. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra.. Tôi gào khóc. Tôi muốn về nhà. Nhưng tôi không biết phải đi hướng nào. Tất cả đã san phẳng. Tôi nhìn lên một ngọn núi, và cắm đầu chạy theo hướng đó, trên đống gạch đổ nát. Tôi nghe tiếng khóc, tiếng kêu cứu. Tôi thấy cả một đoàn người đỏ rực như quả bí, họ đang bị tia phóng xạ của bom nguyên tử thiêu cháy thân thể. Nóng, nóng quá! Họ kêu lên và nhảy xuống sông. Nhiều bà mẹ ôm con gào thét, có người tróc hết da, và mù mắt không nhìn thấy gì, mò mẫm đi loạng quạng như đi trong bóng đêm. Lúc đó, tôi mới hốt hoảng: mình có sao không? Tôi sờ vào thân thể mình, thì chao ôi, bao nhiêu là mảnh thủy tinh găm sâu vào lưng, vào tay chân. Tôi bắt đầu thấy nóng khủng khiếp, nóng thiêu đốt cả da thịt, gan ruột, xương tủy. Trước đó, hầu như tôi không có cảm giác đau đớn gì, vì quá hốt hoảng. Tôi khụy chân xuống và không còn sức lực để đi tiếp, không còn đủ sức để nhảy xuống sông như mọi người. Tôi nghe xung quanh mình những bước chân dồn dập. Tôi mở mắt, và thấy một đoàn người đen ngòm đi qua cầu như một đoàn ma trơi. Họ bị sức nóng thiêu đốt và chết dần trên từng bước chân của mình. Toàn thân họ chảy xuống từng khối nước nhờ nhờ như nhựa bị nung lửa…

Sau đó, tôi được một một xe quân đội Nhật đưa lên núi để trú bom. Hang núi chật ních người. Tiếng kêu khóc thảm thiết của trẻ thơ, và tiếng gào rú não lòng của những người mẹ mất con. Một thế giới địa ngục mở ra trước mắt tôi: người thì cụt cả hai chân và hai tay, người thì lòi ruột ra, vừa đi, vừa nhét vào, người thì một hóc mắt bị khoét sâu. Tôi nghe tiếng rên rỉ và tiếng nói quen thuộc của thầy giáo và bạn mình. Nhưng họ không thể nhìn thấy tôi, vì mắt họ đã bị mù. Họ không còn kịp nhận ra tôi là ai, trước lúc trút hơi thở cuối cùng.

Ban đầu, những người bị thương còn rên rỉ, nhưng sau họ kiệt sức và im dần. Xác chết chất đầy xung quanh. Tôi nghĩ, đến lượt mình rồi cũng chết như họ. Tôi đã bật khóc. Số thương vong nhẹ hơn, lại càng cảm thấy đau đớn. Ngày đầu, họ không tìm cách chữa trị, chỉ đắp lá để giảm vết bỏng. Sau rồi da lỡ ra từng mảng, vết sâu sưng mủ, chảy nước từng vũng vàng khè…Xung quanh tôi, mùi hôi thối bao phủ: mùi máu mủ, mùi của thi thể không kịp khâm liêm. Giòi muỗi vây quanh xác chết, rĩa ráy, rồi bu vào vết thương của những người còn sống…Họ không thèm đuổi, vô vọng buông theo cái chết…

Tôi bắt đầu gào khóc vì hoang mang. Tôi hỏi ba mẹ của tôi đâu? Một người đàn ông nói rằng, thành phố đã bị thiêu trụi. Tôi hiểu rằng, câu nói đó đồng nghĩa với câu trả lời: ba mẹ và em tôi đã chết. Họ hỏi tôi, còn có người thân nào không? Tôi lắc đầu. Một lúc sau, tôi cố tìm trong ký ức để hình dung ra, nơi ở của bà tôi, một vùng xa xôi ở thôn quê… Người đàn ông đó đã giúp tôi tìm hướng đến nhà bà tôi, dù mò mẫm, và khổ ải…

Lúc tôi về quê, thuốc trong người đã ngấm hết, tôi rất đau. Bà tôi mua dưa chuột để đắp lên các vết bỏng trên thân thể tôi. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng vài ngày sau, tôi bắt đầu xuất hiện nhiều bệnh kỳ lạ: da mọc lên nhiều mụn nhọt ngứa ngáy, sau thành những vết tím bầm, rồi bị tiêu chảy suốt ngày, dù tôi không ăn vật gì lạ. Vào thời điểm ấy, tôi không biết đó là do tác động của chất độc từ bom nguyên tử. Và đêm đêm, tôi rơi vào những cơn ác mộng, thường xuyên kêu ú ớ, hoặc gào thét vô cớ trong bóng tối…

Tôi thức trắng nhiều đêm. Tỉnh dậy là bật khóc. Tôi hỏi bà tôi, mẹ con đâu, em con đâu? Bà tôi đưa ra một hộp gỗ sơn. Tôi nhìn vào đó: một nhúm tro và những mảnh xương vụn. Em tôi lúc đó đã lên năm…

Tôi bất ngờ nhìn thấy ba vào một buổi chiều. Ba tôi đã tìm tôi cả mấy tháng trời, dưới sức nóng của mặt trời và những đống đổ nát của thành phố sau chiến tranh. Ba tôi thất vọng, nghĩ, tôi cũng đã chết. Lúc bom dội xuống, ba tôi làm việc ở một nơi cách xa tâm điểm nổ, nên sống sót. Lúc ba tôi trở về, tôi không thể ngồi dậy được. Tôi đau khắp thân thể. Tôi bị rụng từng mảng tóc. Những lớp sẹo tái lở loét, da vẫn tróc lên từng mảng, đau đớn….

Một thời gian sau, cha con tôi trở về Hiroshima và mò mẫm dựng lại nhà trên đống gạch đổ nát. Nhiều người cũng như gia đình tôi, bằng mọi cách, họ tìm lại mảnh đất của mình. Họ cắm lại nhà, dù toành toàng, nhưng họ không muốn đi bất kỳ đâu. Chúng tôi muốn tiếp tục sống trên mảnh đất đau thương này. Chúng tôi rơi vào một trận đói khủng khiếp. Tôi tự hỏi, lấy gì để ăn đây, làm gì để có thể sống được? Mọi người tìm cỏ dại để thay bữa. Tôi cũng làm theo. Nhưng cỏ dại rồi cũng hết. Nhiều người bị chết đói. Trẻ em lang thang đầy đường. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tìm cách trở lại trường, Chúng tôi thu gom lại các phế liệu của đống đổ nát. Rồi dựng lại trường.

 Phải làm lại, làm lại bằng mọi cách.

 Không may cho tôi. Ba tôi xuất hiện bệnh máu trắng. Mấy tháng sau, ba tôi tự tử, vì không chịu đựng được nỗi đau đớn. Nhưng trên hết, ba không muốn tôi phải nhường từng miếng cơm. Một số người khác cũng vậy, tự tử vì không thể chịu đựng được: Đói khát. Đau đớn…”

Bà Tomiko Matsumoto ngừng lời với giọt nước mắt đẫm sâu. Bà nói rằng: tôi không muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình, tôi không muốn nhớ lại những tháng ngày khủng khiếp đó. Tuy nhiên, hôm nay đây, tôi có mặt ở đây, cùng với các bạn, là theo lời di chúc của bạn tôi. Bạn gái tôi đã chết, vì bệnh máu trắng. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, cô ấy nói rằng, phải tiếp tục sống, và kể cho mọi người nghe về nỗi đau, nỗi tàn bạo của cuộc chiến tranh này. Và bà cho biết thêm, thế hệ những người như bà, sau chiến tranh bị nhiều bệnh tật di chứng: sinh con quái thai, bị điên loạn, đặc biệt là bệnh máu trắng...(4). Bà nói với giọng xúc động, nhưng mạnh mẽ: Chúng tôi thề rằng, chiến tranh sẽ không bao giờ tái diễn nơi đây.

Cả đoàn chúng tôi lặng đi, sau câu chuyện của bà. Tai tôi ù đặc. Chúng tôi, mỗi người, muốn nói một điều gì đó để chia sẻ với bà, nhưng không thể cất lên thành lời. Nghệ sĩ Thành Lộc, lặng lẽ nắm tay bà, và chỉ biết nghẹn ngào với hai từ: “ Cám ơn bà”.

Vì sao Mỹ ném bom? Nguyên cớ được nêu ra là: để Nhật đầu hàng và chiến tranh sớm kết thúc, giảm bớt những thương vong, thiệt hại của hai bên tham chiến. Tuy nhiên, theo các bình luận viên của chiến tranh, nguyên nhân sâu xa là: Mỹ muốn thử hiệu quả của bom nguyên tử, và nhằm thị uy sức mạnh hạt nhân đối với Liên Xô. Đó là vấn đề liên quan đến các chính trị gia và các nhà cầm quyền. Còn chúng ta, chỉ có thể nói rằng, dù biện minh từ góc độ nào, việc thả bom của Mỹ là một hành động phi đạo đức, vô lương tâm, và thế giới sẽ không ngừng phỉ báng, lên án …

Không ai có thể kìm nén được sự căm phẫn của mình, khi nhìn thấy những hiện vật nơi đây. Những con người như những bóng ma: bàn tay bị thiêu trụi, mặt cháy sém, da rộp lên. Những đám mây hình nấm như hiện thân của thần chết bao phủ cả thành phố Hiroshima, trận mưa đen dội xuống như những dòng thác máu, tím bầm từng mảng khủng khiếp (5)…Tiếp đến, là những nạn nhân bị ảnh hưởng chất độc: bệnh ung thư, máu trắng, dị tật. Một người phụ nữ với khuôn mặt dị dạng, một em bé bị mù, một người đàn ông không còn phụ tang…

Bên kia, đối diện với thế giới chết chốc đó, là những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki-nạn nhân di chứng của bom nguyên tử. Khi quả bom nổ, em bị hất tung ra, nhưng vẫn sóng sót. Tuy nhiên, sau 9 năm, lúc 12 tuổi, em bị phát hiện là ung thư máu, hay còn gọi là bệnh máu trắng. Một căn bệnh nguy hiểm mà người dân ở đây thường mắc phải, do ảnh hưởng chất phóng xạ từ bom nguyên tử. Em phải nghỉ học vào bệnh viện, và từng ngày, từng ngày, em gấp những cánh hạc trắng bằng giấy, với niềm khao khát được sống. 1000 con hạc trắng từ đôi bàn tay ngây thơ, không cứu nổi số phận của em, nhưng đó là thông điệp chung cho nhân loại về niềm khát khao hòa bình. Em mất vào ngày 25 tháng 10 năm 1955. Linh hồn em chìm ngập trong một thế giới của những cánh hạc trắng, oan nghiệt bay lên không trung-nơi mà trận mưa đen tàn ác từng dội xuống số phận của em, dội xuống thành phố bình yên và những người dân vô tội. Theo lời người thuyết minh bảo tàng, cái chết của em đã gây sự căm phẫn của toàn nước Nhật. Hàng loạt cuộc biểu tình với khẩu hiệu phản đối vũ khí hạt nhân đã diễn ra…

Tôi thoát ra khỏi bảo tàng mà vẫn còn nghe mùi khét của bom nguyên tử xen lẫn với tiếng khóc của những đứa trẻ, trận mưa đen chảy rào rào như thác máu…

Chúng tôi đi dưới Tượng đài hòa bình vì trẻ thơ, và nghe đâu đây tiếng thì thầm của những con hạc giấy của bé Sadako Sasaki, như một thông điệp về niềm khát khao hòa bình và tình yêu thương nhân loại. Tôi kiểng chân và hôn lên một nụ anh đào chúm chím, đang thì khai hoa, mùi thơm thoang thoảng, tinh khiết, nhưng lại nồng nàn khắp các giác quan. Hiroshima ơi, phải chăng em đã trở về từ cõi chết? 

 

TRẦN HUYỀN SÂM

(Hiroshima, 4/4/2010)

 

 

 .

1. Con số thương vong được ghi lại theo những tư liệu không khớp nhau. Tôi lấy theo lời của người thuyết minh lịch sử ở bảo tàng này..

2. Ngoài thành phố Hiroshima, ngày 9/8/1945, Mỹ còn ném thêm một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki và giết chết hơn 74.000 mạng sống

3. Đoàn chúng tôi gồm 11 văn nghệ sĩ Việt Nam, do Tổ chức Japan Foundation mời sang Nhật Bản để giao lưu văn hóa-văn học, từ ngày 28-3 dến 7-4-2010

4. Ghi theo lời phiên dịch của Lương Việt Dũng, được diễn giãi lại theo cảm xúc của tác giả bài báo.

5. Mưa đen: do khói và lửa của bom nguyên tử bốc lên, gặp những đám mây và tạo thành cơn mưa. Những người mắc trận mưa này, phần lớn đều bị bệnh máu trắng hoặc sinh đẻ dị tật.

6. Bệnh máu trắng: Một căn bệnh khủng khiếp, do ảnh hưởng chất độc bom nguyên tử. Các tế bào máu bị hủy hoại rất nhanh, vô phương cứu chữa.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 101901)
T in tức về chỗ tàu sẽ vào bốc tưởng rằng rất kín đáo, rất bí mật, chỉ riêng Thủy Quân Lục Chiến biết, hóa ra đã có quá nhiều người biết. Chuyến tàu dành riêng cho tiểu đoàn 4, nhưng khi chúng tôi đến nơi, số người đã đứng đợi sẵn cũng có đến cả vài ngàn, xấp xỉ với số người đang chạy ngược chạy xuôi theo chiếc tàu.
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 210328)
LTS : V ới những trang viết thật ngắn, bằng nét phát hoạ tưởng như vô tình, Hoài Băng gởi đến độc giả một bức tranh, một khúc phim ngắn như vết dao cắt trong lòng người đọc về xã hội Việt Nam ngày nay.( TCHL)
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 112893)
LTS : ... Chúng tôi trân trọng gởi đến quí văn hữu và bạn đọc bài viết “Nỗi niềm thế hệ trong ký và tự truyện của Văn học Di dân Việt Nam” của Nguyễn Hạnh Nguyên, một người viết trẻ, sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, nhìn về quá khứ xuyên qua tâm tư của thế hệ sinh trưởng trong thập niên 60 ở miền Nam, từ sau biến cố lịch sử 30 tháng 4 năm 1975. Tạp Chí Hợp Lưu
23 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 172952)
..." n gười phê bình phải sáng suốt khảo sát tác phẩm và nhất là phải giữ khoảng cách đối với tác giả ...Cần phải nhớ rằng: Văn bản phê bình chỉ dành cho độc giả, không dành cho tác giả mà mình phê bình . Cho nên, nếu viết cho vừa lòng tác giả, đôi lúc, chỉ sản xuất ra những văn bản nịnh bợ... " (Thuỵ Khuê)
20 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 115050)
T heo kế hoạch, ngày hôm qua Ủy ban liên hợp của Ủy hội sông Mekong gọi tắt là MRC sẽ tiến hành cuộc họp về quyết định có cho phép đập Xayaburi được xây dựng hay không tại Vạn Tượng thủ đô Lào. Các tổ chức phi chính phủ thuộc 51 quốc gia đã cùng ký vào biên bản kiến nghị gửi Thủ tướng Lào và Thái Lan phản đối việc xây dựng đập Xayaburi. Các tổ chức lớn như WWF, IUCN, WCD đều ủng hộ việc hoãn xây dựng 12 đập trong 10 năm để có thể nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
16 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 96055)
N ói nào ngay, thì chẳng phải viện Hàn lâm Thụy điển không hề nghĩ tới Édouard Glissant: như vừa nói, tên ông thường xuyên nằm trong số nhà văn nobelisable(s) créolisation (tạp chủng) và tout-monde (toàn-cầu). mỗi năm gần đây. Có điều là hào quang tác phong quyết liệt nhưng bất bạo động của ông trong môi trường chánh trị và văn hóa trải dài hơn sáu chục năm tròn đã ít nhiều che trùm trên một sự nghiệp nghệ thuật cũng chẳng kém phần sắc cạnh. Suốt trọn cuộc đời khôn thôi sống động, ông không hề tách rời công trình sáng tạo văn chương ra khỏi mục tiêu mà ông tóm gọn qua haì í niệm
16 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 144219)
Đ ã lâu lắm một mùa tang sâu thẳm Vọng bên lòng buồn cố xứ quẩn quanh Người là Em? Những mồ hoang cô quạnh Biết tìm đâu mẩu đất máu tạ từ
14 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 140877)
h ồi ức bỏ ngang đạo đức kinh thánh tĩnh mạch giục giã lời đùa khinh bỉ [...] dưỡng khí không còn thở bằng mũi bằng oxy cổ đại chỉ là bằng miệng bằng tay cầm đầy xấp bạc polymer
13 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 139699)
E m bước qua tuổi ba mươi Nước mắt cạn ngày thốc nắng Đám mây không ngừng bay Mang em tìm chân sóng Nơi có mạn thuyền bao dung?
13 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 137730)
l á đỏ dưới ánh đèn mùa đông mùa đổi từ bao giờ lòng ta quanh năm chỉ một mùa vàng lạnh giấu bạn bè trong những giấc mơ .
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15289)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15665)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1879)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1955)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1991)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2344)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6211)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5536)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6131)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1862)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1929)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1730)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1738)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1723)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12503)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28704)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35249)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35115)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10035)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12089)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1374)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1955)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2344)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2878)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7140)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8598)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.