- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những Người Bạn Của Một Thời

21 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 120919)

Trịnh Cung

 

Khi đó, vào một năm tôi không nhớ rõ, thời trước 75, một người bạn báo cho biết Trịnh Công Sơn đã vào Sài gòn. Buổi chiều bọn tôi dự tính đi thăm Trịnh Công Sơn rồi đi ăn ở đường Nguyễn Huệ, nên Thi vợ tôi mặc một mini robe khá mỏng manh. Bình thường thì chẳng có vấn đề gì vì váy ngắn đương là mode của Sài gòn, vấn đề là trời mưa, không to, nhưng đủ rột tí tách nhiều chỗ trên căn gác gỗ của Trịnh Công Sơn. Tất cả đều ngồi bệt trên sàn gỗ, bao quanh gia chủ. Tôi hạ thổ đối diện Trịnh Công Sơn, bà vợ tôi tuy hồi tiểu học học trường các sơ, đã quen với váy, nhưng đáp xuống cạnh ông nhạc sĩ đeo kính gầy ốm mà không hở hang nhiều quá, cũng hơi vất vả. Căn gác khá đông người trong đó có Trịnh Cung ngồi gần Trịnh Công Sơn. Có thể nói không sai lắm, vì giao thiệp với anh chàng nhạc sĩ này, tôi quen biết khá nhiều danh tài xứ Huế.

 

 Có thể đối với người khác Trịnh Cung nhiều lời hơn, còn đối với tôi ông bạn này có vẻ ít nói, gìn giữ. Tôi không quan tâm vì hay tôn trọng cá tính và quá khứ của bạn bè, đôi khi đến độ ơ thờ khó thương. Nhưng cuộc đời có những biến cố làm con người trở thành xa cách hoặc thân thiết với nhau hơn, thí dụ như việc động viên trong thời chiến tranh. Tôi để ý thấy, để ý thôi, không phê phán, là ông bạn nhạc sĩ tình ca và tâm tình phản chiến và bạn bè vây quanh của anh, thường hay tránh né đời lính, kiểu ông Bill Clinton bên kia đại dương. Nhưng khi gặp Trịnh Cung mặc đồ sinh viên sĩ quan Thủ đức, tôi bắt tay anh thân thiết hơn trước: bây giờ là đồng đội, cùng một phía rồi. Nhưng ra trường, anh ở đơn vị nào và ở đâu, tôi không hay biết, cho đến khi cả hai được tha khỏi trại cải tạo tập trung. Buổi sáng cả hai đứa thường đến câu lạc bộ của Hội Trí Thức Yêu nước, mua một ly cà phê giá rẻ, vài ba điếu Hoa Mai hay Đà lạt, thuốc lá tồi nhất nhì thế giới, mang ra bàn nào có bạn bè ngồi, để trao đổi tin tức hậu hiện đại, xin lỗi tôi dùng lộn chữ, hậu cải tạo. Sở dĩ có vấn đề đó là do sau khi nghe xướng danh tên mình được tha, đến trước ngày được ra khỏi trại, cán bộ gọi lên lớp lần chót, phát giấy yêu cầu cải tạo viên tố cáo những âm mưu phản động, dự trù trốn trại... được biết. Cán bộ tuyên bố đó là dịp tốt “để lập công với cách mạng”. Tôi thì giản dị lắm, nắn nót hàng chữ sau, cho lâu lâu một chút: “Tôi không biêt vì nếu biết đã tố cáo ‘từ lâu’ rồi”, (dĩ nhiên là tôi xạo ke; xạo ke và dối trá là những bài học nhập môn xã hội chủ nghĩa) là xong bài thu hoạch. Ngồi đợi cán bộ thu bài, tôi cũng như nhiều bạn khác nhìn một cách gờm nhớm một vài anh cắm cúi viết, có anh viết kín trang giấy chưa xong... Ăng-ten chính cống và ác ôn đây rồi... Ngày mai được về rồi, hôm nay còn tố cáo, bỏ bom này nọ...

 

 Bây giờ mới tới mục chót giành cho những người sắp được tha về: cán bộ phát cho từng người một tờ cam kết in sẵn, chỉ việc ký tên là xong. Cam kết “động viên vợ con đi kinh tế mới” cùng mình... Cái này thì gay go, không cười được. Trong thời gian cải tạo vừa qua, tôi đã có nhiều dịp đi qua vùng kinh tế, đàn bà đầu bù không chải quần áo bạc phếch, trẻ con tóc vàng hoe vì nắng không biết lớp học là gì, con gái không có vú như các cô đi Liên Xô về (theo Dương Thu Hương, phụ nữ đi lao động đi học tại xứ sở này ăn uống thiếu thốn, xẹp cả vú), tôi đã “ hạ quyết tâm” không để vợ con đi kinh tế mới. Tôi nghĩ một chút rồi cầm bút ký tờ cam kết, cán bộ chuyên môn chơi chữ để đánh lừa nhân dân, tôi sẽ bắt chước, đại khái “tôi đã động viên ba ngày ba đêm vợ tôi đi kinh tế mới, nó nhất định không nghe, bảo ai cam kết thì người đó đi đủ rồi. Tôi không thể đánh bắt nó nghe theo được vì chính sách của Cách mạng là cấm đánh vợ con...

 

 Một hôm chưa kịp đặt ly cà phê xuống bàn câu lạc bộ, Trịnh Cung đã than: “Huyện ủy quận 4 đột nhiên đỏ rực lên, dọa cải tạo nào không trình diện đi nông trường trong Đồng Tháp, sẽ cho Phường đội (lực lượng võ trang của Phường) đến “động viên tích cực” (cho cầm súng áp tải người phải trình diện nhưng người đó phải tuyên bố “tôi tình nguyện”...). Tôi hỏi: “Họ có đụng chạm gì tới vợ con không?” Trịnh Cung trả lời: “Chỉ cá nhân cải tạo “vê” thôi. Sáng mai tôi phải trình diện sớm...”. Vài tuần sau, tôi mới gặp lại ông bạn này, vẫn ở câu lạc bộ, mặt phơi nắng nhiều đỏ bừng, tôi hỏi thăm và Trịnh Cung tường thuật đại khái: Phải ngồi đuôi tôm gần một ngày mới vào đến nông trường trong Đồng Tháp. Ngày đầu tiên, vừa ra đến nơi làm việc, bọn tôi đã dội rồi: nước ngập ngang ngực và đỉa lúc nhúc, đa số chỉ lao động được vài tiếng là leo lên bờ gỡ đỉa, phi thuốc lào và đấu láo um xùm. Những ngày kế tiếp cũng đại khái như thế. Bây giờ bọn tôi đâu phải cải tạo viên, mà là công nhân nông trường, đâu có tuân lệnh răm rắp, thích thì làm không thích thì nghỉ. Cán bộ than: “Các anh lao động như thế thì làm sao chấm công. Cuối tháng dám không đủ trả tiền cơm ăn lắm”. Mà quả thực đúng như vây. Ban kế toán nông trường không biết tính sao, đám công nhân gốc cải tạo bèn bỏ tiền túi ra góp tiền gạo, và nhân tiện có những chuyến đò ra chợ, nhờ mua thêm thức ăn, đường và cà phê, tối đến mở quán tưng bừng, bồi dưỡng cho bầy muỗi đói... Cũng sống được qua ngày...

 

 Các sĩ quan cải tạo về của Quận “Đỏ” thấy đời sống nông trường như thế, là cũng sống được. Nhưng bản thân nông trường thì lỗ vốn to, năng xuất bằng không, phải giải tán sau sáu tháng. Trịnh Cung được trả về Sài gòn với vợ con và cầm cọ vẽ trở lại, và bắt đầu nổi tiếng lần thứ hai (trong cõi hội họa Bắc kỳ). Thời kỳ “đổi mới” đến, dân Sài gòn dễ sống hơn thời kỳ hơn mười năm “tiến mau tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội” (1975 – 1986), dân Việt kiều được dễ về thăm quê hương hơn xưa và khi ra đi, hay mua “một chút gì để nhớ một chút gì để quên...” (Phạm Duy). Với thành phần có học, tranh vẽ và sơn mài là tốt nhất: những tác phẩm của Nguyễn Trung, Trịnh Cung, vợ chồng Hồ Thành Đức , Đằng Giao... và của Trịnh Công Sơn nữa, dễ dàng leo thang vượt mức $1000. Trịnh Công Sơn có lần nói với tôi: “ Tôi sống nhờ tài vẽ vì có ai trả tác quyền nhạc đâu. Những ông bạn Việt kiều đến chơi, khi về muốn mua tranh tôi kỷ niệm, tôi nói bao nhiêu trả bấy nhiêu. Vui thôi”. Đến lúc đó bọn tôi từ Mỹ về quê hương cũ (Mỹ là quê hương mới) để thực hiện cái tạm gọi là Tân Đông du, cố làm cho lớp trẻ hai miền Nam Bắc thôi nhìn về Liên Xô, các nước Đông Âu như các nước để du học, đổi chiều nhìn qua Thái bình dương tới Canada và Hoa kỳ. Đó là một công tác tự nguyện, thiện nguyện, “diễn tiến hòa bình”... gọi là một chút giúp đỡ quê hương cũ Việt nam đang sống trong lạc hậu, chậm tiến. Một thượng nghị sĩ của tiểu bang (đã chiến đấu hai nhiệm kỳ VN) và một số viên chức Bộ Ngoại giao chỉ giúp đỡ về phương diện giấy tờ. Còn ngoài ra, tự lo lấy, như các hội thiện nguyện khác ở Hoa kỳ.

 

Vì công việc kéo dài trong thời gian, mấy đứa con thuê nhà ở Sài gòn cho đỡ tốn (không dùng người ngoài vì tiền đâu mà trả lương). Khi hai vợ chồng tôi về, không ngạc nhiên thấy Trịnh Cung rồi cả vợ tới thăm vì Du, đứa con thứ tư, đã cho biết có liên hệ tình cảm với M., đứa con gái út của Trịnh Cung. Hai đứa có thể tiến tới hôn nhân bất cứ lúc nào. Điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là nhan sắc và y phục của cháu M. Tuy là con gái xứ Huế nhưng không hề mảnh mai. Cháu đẹp khỏe mạnh, ăn mặc như một cô gái Tây phương. (M có một cô chị lấy chồng Việt kiều Mỹ, cô cháu này cho tôi biết: cháu ở Sài gòn lớn, lấy chồng ở Sài gòn nhỏ...) Hai vợ chồng tôi ưng thuận cô “chuẩn con dâu” xinh đẹp M. này đến độ đã có một thời đi chơi ăn uống, đưa các sinh viên ra Hà nội để được phỏng vấn, cũng mang cháu M. theo. Chỉ cần đợi hai đứa chính thức ngỏ ý muốn lấy nhau, là Trịnh Cung và tôi tổ chức đám cưới liền. Nhưng đợi hoài không thấy đôi trẻ nói năng gì. Sau cùng đôi trẻ xứng đôi vừa lứa, môn đăng hộ đối ấy cũng lấy vợ lấy chồng, nhưng “chàng” lấy một cô dược sĩ gốc Huế mới ra trường, con một người bạn tôi lúc trẻ có gia nhập nhóm Thái độ, “nàng” lấy người yêu đã cũ của mình. Thế là xong, gọn ghẽ và có hậu một mối tình xuyên đại dương..

 

 Một buổi tối lại thăm Trịnh Cung tại nhà hai tầng trong một hẻm gần tượng Phù đổng Thiên vương, tôi ngạc nhiên không thấy treo tranh. Hỏi, được trả lời là bán hết rồi. Nhân tiện, tôi hỏi Trịnh Cung sao chưa HO đi Mỹ, được trả lời là không hội đủ điều kiện 3 năm cải tạo, còn thiếu vài tháng. Tôi ý kiến ngay: 6 tháng nông trường kinh tế mới để đâu, sao không cộng vào? Trịnh Cung: Nông trường giải tán, cán bộ được phân tán khắp nơi, biết đâu mà tìm... nhờ chứng nhận... Tôi bèn đi một đường an ủi như sau, (đúng sai các ông bạn họa sĩ cứ việc cho ý kiến): Thôi, bạn ở lại Việt nam, dễ bán tranh. Sang Mỹ làm họa sĩ Mỹ phải cạnh tranh với quốc tế, không phải ai cũng nổi lên, bán được tranh đâu... Thôi, bạn chịu khó xin tòa Đại sứ Mỹ cái visa du lịch, thăm con gái và bạn bè... Dân Mỹ quí nhân tài (và gái đẹp), bạn cứ đem xấp hình chụp tranh của bạn cho họ coi, chắc là được visa. Và mọi sự đúng như vậy. Trịnh Cung kể: Vừa mở xấp hình tranh ra, là tất cả bỏ việc xem hình, chẳng phỏng vấn đến một câu...

 

 Vậy là họa sĩ Trịnh Cung đi Mỹ, thuyết trình ở nhiều đại học Califonia về hội họa đương đại Việt nam. Email hỏi thăm có khỏe không, email trả lời vắn tắt: Khỏe. Sau khi Trịnh Cung mỹ du phiêu lưu ký, tôi còn ở VN thêm một thời gian để được đọc một bài phỏng vấn ngắn Trịnh Cung trên báo Tuổi trẻ. Hỏi: Tại sao họa sĩ hay vẽ phía sau của phụ nữ? Trả lời: “Tại tôi thích cái đằng sau của họ...”. Tôi cũng thích cái đằng sau của phụ nữ như Trịnh Cung vậy, đẹp và nhiều lý thú. Chắc nhiều ngôi sao điện ảnh Mỹ cũng nghĩ như vậy nên hay khoe cái mặt sau với khán giả, như Kim Basinger, Charlize Theron... Có lần tôi xin Trịnh Cung một hình làm bìa, anh gửi cho tôi, dĩ nhiên là tranh mặt sau một phụ nữ mầu xanh da trời đậm nhạt, nhan đề là “Trăng”, ai muốn hiểu hay tưởng tượng tới đâu, tùy ý. Đáng tiếc là cuốn sách chưa ra đời được.

 

 Từ đây trở đi những gì tôi được biết về ông bạn họa sĩ này, đều là do bạn bè xa gần kể lại, kể cả những tin đồn (giá trị các tin đồn: xin đọc phụ lục dưới đây). Sau một thời gian cư trú khá dài ở Mỹ, nghe đồn Trịnh Cung phát hiện ra mình bị ung thư, như bà vợ trước đây. Vào bệnh viện chữa trị một thời gian thì bác sĩ chê, trả về cho chết ở nhà. Với ông họa sĩ này, Mỹ là đất tạm dung, ông bay về VN, nhưng không sống ở Sài-gòn nữa mà ra Nha Trang sống với mẹ già. Bà cho uống thuốc đông y gia truyền kinh, thượng, Chăm chi đó, Trịnh Cung khỏi bệnh và vì vợ cũ đã chết, (vẫn tin đồn)) ông lấy một cô gái trẻ (năm nay mới được 28 tuổi), lão bạng sinh châu thêm một đứa con, làm giới quần hào tóc bạc hai bên bờ Thái bình dương phục lăn! Như thế là hơn lão trượng Phạm Duy rồi...

 

 Đã thế ông còn tạm bỏ cây cọ để cầm bút viết một bài ký về bạn thân Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn thì thiếu gì người viết về, thêm một Trịnh Cung nữa đâu có sao, nhất là nhạc sĩ này đã chết. Nhưng người ta viết không sao, Trịnh Cung viết gửi đăng trên báo điện tử “Da mầu” ở “giáo xứ” Bolsa, thì lại khác. Trịnh Cung vốn hiền lành (hình như họa sĩ nào cũng hiền lành, dữ như Van Goch cũng chỉ cầm dao cắt tai... mình thôi), chỉ viết một bài ký mà gây tranh luận trong nước ngoài nước ồn ào, um xùm. Tôi đang thời kỳ hồi phục sau một cơn bệnh bốn tháng, lúc tỉnh thì túi mật đã biến mất (theo Thảo Trường, khi bị cắt túi mật rồi, anh không còn sợ bất cứ ai bất cứ điều gì! Mật đâu còn để “sợ mất mật”). Theo dõi cuộc tranh luận một cách khá lơ đãng, tôi cho rằng tại Trịnh Cung dùng từ không được chính xác: Trịnh Công Sơn chỉ có như mọi người một “thái độ hay lập trường chính trị” mà thôi, không có “tham vọng chính trị” chi hết. Sự kiện anh trốn lính trước 75 dễ cắt nghĩa lắm: người anh nhỏ bé như thế không thể “apt” cho đời lính nhưng những toán bắt lính hoạt động khắp nơi làm anh sợ, hay tự bản thân anh không thích làm lính (bình thường ra một thanh niên có thể thích hay không thích đời lính, thích thì nhập ngũ không thích thì ở nhà, mỗi khi ra đường nhìn trái phải trên dưới xem có toán chặn xét hay không).

 

 Còn việc Trịnh Công Sơn cao hứng rủ Trịnh Cung ra bưng theo VC , là việc cao hứng nhất thời của tuổi trẻ, nói để mà nói cho vui miệng thôi, có ông nào “nhẩy núi” như Hoàng phủ Ngọc Tường đâu (mà ông này chỉ vì bị Công an bên này rượt bắt vì tham gia đấu tranh của Phật giáo miền Trung, hết đường chạy đành ra bưng vậy). Thí dụ khác như hai ông bạn đã nhận làm đại diện cho phía Mặt Trận là Bảo Cự và Sâm Thương, đã từng đến nhà tôi thuyết phục hãy “trở về với dân tộc” (nghĩa là theo Mặt Trận), tôi đều khước từ. Viện lý đằng sau lưng Mặt Trận là Cộng sản Bắc kỳ, đằng sau Cộng sản Bắc kỳ là Trung Quốc và vân vân. Cứ giữ lập trường như bọn tôi, mới thật sự là dân tộc. Vậy phía nào giữ lập trường phía đó, và cả hai sẽ vẫn là bạn tôi, dù tôi biết mấy ông phía đó không vui vẻ gì khi thấy tôi không chết trận như một lính “ngụy”, chết bệnh như một cải tạo viên trên rừng núi vô danh, cho “đáng đời một kẻ lầm đường lạc lối!...” (nhận xét của Lữ Phương)

 

 

Phụ lục Giá trị của các tin đồn

 

 Tôi xin kể một chuyện có thật để chứng tỏ giá trị rất là tương đối của các tin đồn. Tin đồn tuy thiếu xác thực thật, cần kiểm chứng lại, nhưng tác động của nó đôi khi lại mạnh mẽ, cụ thể. Thí dụ như tình bạn giữa Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn tạp chí VĂN ở Sài gòn và tôi. Dù có resume khác hẳn nhau, hai đứa vẫn trở thành bạn văn và ăn nhậu lai rai trong nhiều năm, và tưởng rằng thứ “đổi đời” do Cộng sản miền Bắc mang lại, cũng không cắt đứt được. Trong thời kỳ 10 năm cán bộ bắt dân miền Nam ăn độn và ăn đói như miền Bắc, thủ tướng Phạm văn Đồng gọi là “san bằng cách biệt giữa hai miền”, có những khi Trần Phong Giao buôn củi, phân phối cho vợ tôi bán lẻ lấy lời nuôi con, và khi tôi được tha khỏi trại cải tạo tập trung (các diện khá nhẹ hơn như hạ sĩ quan VNCH chỉ phải học tập “tại chỗ” ba ngày thôi, ngay nơi mình ở), Trần Phong Giao đến thăm, và câu thứ hai là hỏi tôi còn giữ được nhiều lưỡi dao cạo cũ không, để theo anh ra chợ làm nghề chẻ rau muống thuê cho các bà hàng quà, kiếm cũng được gạo ăn... Cứ cà rịch cà tang như thế, bữa đói bữa no bữa bobo khoai sắn trong chín năm, vợ tôi được phép mang các con sang Mỹ đoàn tụ với gia đình... của nàng ở Seattle, tôi được đi theo vì thuộc diện bảo lãnh “ăn theo” vợ (thân nhân phía tôi ở miền Đông không ai chịu ký bảo lãnh, đúng như lời phán của mấy ông thầy tử vi: tôi mạng không vô chính diệu (thế là làm sao không ai cắt nghĩa) cung thê tử rất tốt, bạn bè cũng thế, cung anh em thì đầy đố kỵ, bố chết sớm và nghèo, mẹ thì con yêu con ghét..) .

 

 Không lâu cho lắm, nghĩa là dòng nước có mầu ghê rợn của con lạch chưa chảy nhiều cho lắm dưới gầm cầu gần nhà Trần Phong Giao, tôi đã trở về VN trong một phái đoàn văn hóa giáo dục. Tôi đã được biết hai điều: một là căn nhà gỗ năm xưa của Trần Phong Giao đã bị cháy, nhưng đã được Hội Nhà Văn thành phố, hay Thành Ủy tôi không rõ, giúp đỡ xây lại bằng gạch khang trang hơn xưa, hai là ai chứ tên nhà văn Thế Uyên đừng có bước chân đến nhà Trần Phong Giao... Tôi hỏi một bạn văn Sài gòn lý do thì anh chỉ nói ngồi bất cứ đâu, nhắc tới Thế Uyên, là Trần Phong Giao chê nhiều, đến nỗi anh khuyên tôi đi đâu thì đi, đừng tới thăm bạn cũ này. Tính tôi vốn tò mò, một phần ưa truyện lạ (chính vì thế sau 30 tháng 4 tôi đã ở lại xem chế độ cộng sản đích thực tròn méo ra sao, khi biết nó méo thì như một lời thơ xưa “Đến khi tôi hiểu thì tôi đã...”) nên một buổi sáng mượn một scooter tôi tới hẻm quen thuộc gần cây cầu đường Trưng vương. Quả thực nhà mới của Trần Phong Giao là nhà gạch khang trang hơn nhà gỗ cũ. Nghe đứa con hô bố có khách, Trần Phong Giao tà tà áo ba lỗ quần xà lỏn hai lỗ đi ra (áo ba lỗ là theo lối gọi Bắc kỳ 75, quần xà lỏn hai lỗ là do tôi (Bắc kỳ 54) bắt chước cho “văn minh tiến bộ”) . Nhìn thấy tôi anh toan quay vô không tiếp thì một người khách bước vào. Trần Phong Giao bắt tay người đó, mời ngồi xuống bàn và bắt đầu nói chuyện. Coi như không có tôi ngồi lù lù trước mặt. Ông khách có vẻ ngượng, giơ tay mời chủ nhân nói chuyện với tôi trước, tôi cười từ chối, nói: “Mời hai anh cứ tự nhiên, tôi hút xong điếu thuốc này, là về nơi rất xa đây”. Tình huống có vẻ hơi khôi hài vì rõ ràng ba người mà cứ giả vờ có hai. Tôi dụi diếu thuốc vào gạt tàn, đứng dậy để danh thiếp địa chỉ tôi ở Mỹ xuống bàn, Trần Phong Giao lấy tay đẩy ra, không nhận, nói: “Tôi không có kính, chả đọc được!” Tôi cười bắt tay từ giã ông bạn không quen kia, Trần Phong Giao quay mặt đi, im lặng nhìn bức tường trước mặt. Tôi cũng im lặng đẩy xe ra khỏi hẻm, ra về, chấm dứt một tình bạn cố cựu.

 

 Về Mỹ một thời gian tôi nghe tin Trần Phong Giao đã chết ở nhà con gái, trước khi tôi hỏi được bạn bè nội địa lý do tại sao ông bạn này bỗng dưng ghét tôi như vậy. Chắc lại nghe các tin đồn Thế Uyên là CIA, CIB, là thân cộng, thân Tầu, thân vân vân... Có một tạp chí miền Đông hỏi một người thân của tôi mới sang Mỹ, là có phải Thế Uyên thân cộng không, ông này là một HO, đã trả lời: Thân cộng cái gì... Nó chính là Cộng sản...! Làm tôi sau này khi phải “làm việc” với Công an nội địa, đã hỏi đùa: Các anh coi dùm sổ hộ tịch của Đảng, xem có tên tôi không mà nhiều hội đoàn hải ngoại cứ chụp nón cối cho tôi hoài hoài...

 

 Tin đồn thường là thế, nên tôi chỉ nghe bằng một tai và khi có dịp là hỏi lại chính đương sự. Dù rằng đôi khi gặp “tai nạn” như trường hợp Trần Phong Giao vừa kể trên. Và đó không phải hiếm có trong cuộc đời dài và phức tạp của tôi. Gần đây là trường hợp Võ Phiến, một trong những bậc huynh trưởng của tôi. Tôi nghe đồn trong bộ văn học miền Nam 54-75, anh có chê tôi làm tan vỡ gia đình người khác, làm tôi thắc mắc vì từ khi lớn lên tôi vẫn nghe theo lời khuyên cổ xưa: Trai tân gái góa thì chơi, Đừng nơi có vợ đừng nơi có chồng, sau hiện đại hóa bằng lời khuyên của Papillon, tù chung thân khổ sai đã vượt ngục đi qua nhiều nước: Trong cõi giang hồ, muốn yên ổn, đừng có tán vợ bạn hay em gái bạn... Vậy làm gì có mục tôi làm tan vỡ gia đình người khác, dù bạn bè có vợ xinh đẹp cũng nhiều. Vậy lại tin đồn thôi.

 

thế-uyên

tháng 6, 09
seattle, usa

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 61068)
T ôi tên Thê. Kiếp luân hồi của tôi được tính tuổi bằng khoảng sáu trăm năm, đã bảy lần đổi kiếp. Bên bờ sông, tôi đứng nhìn từng cơn gió thổi qua. Mái tóc tôi dài ngang lưng, tha thiết như gió. Gương mặt tôi mịn lấm tấm những hạt sương bay qua rồi đọng lại. Tôi luôn xin được làm đàn bà, để khi gặp tôi, người ấy có thể nhận ra tôi.
29 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 62934)
S ót lại mùa rơi vàng mắt lá rêu xanh chập chững ngó hiên đời chiều nay giữa tiếng chim tình tự thảng thốt lan nhanh khúc đau rời
29 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 59852)
Đ ặng Nguyên Sơn là bút danh của Trần Thị Phương Lan , đang sống và làm việc tại Quảng Trị. “Say Nắng” là tác phẩm đầu tiên mà Đặng Nguyên Sơn gởi đến bạn đọc Hợp Lưu. Truyện của Đặng Nguyên Sơn đam mê và cuốn hút từ những dòng đầu tiên. Mời quí bạn cùng đi vào không gian truyện “Say Nắng”.
28 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 64389)
t rở dậy tìm giấc ngủ mình đã cho đi rồi tự nhiên muốn đòi lại bóng tối ăn gian em lơ ngơ giữa vùng đêm sắp cạn
28 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 66555)
t ôi bóc trần người bạn của tôi bằng những câu chuyện tưởng tượng điều gì đó xáo trộn điều gì như là tưởng tượng
27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 63887)
L ần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Phạm Tử Văn là một người viết rất trẻ, hiện sống và làm việc tại Việt Nam. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu truyện ngắn “ Giấc mơ vượt đỉnh Mí Roòng” của Phạm Tử Văn đến với quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu.
27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 72389)
S inh một năm sau chiến tranh Việt Nam, năm 1976, miên di là bút danh (không viết hoa) của Lê Xuân Hòa. Cái tên miên di không viết hoa là một đặc biệt, đặc biệt như tên và đặc biệt như thơ . Thơ của miên di rất gần gũi trong đời sống của chúng ta. Mời quí vị cùng chúng tôi đi vào thế giới thơ đặc biệt nầy…
27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 73378)
C ô gái nằm khỏa thân trên tấm nệm ga trắng muốt, đôi mắt lim dim nhìn anh không chớp. Cô ngạc nhiên không hiểu tại sao từ lúc dẫn cô vào khách sạn này, anh chỉ ngồi hút thuốc mà không hề để tâm đến cô. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong cuộc đời, kể từ ngày cô dấn thân vào cái nghề nhơ nhớp này, cô mới gặp anh là một.
27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 63975)
C uộc sinh tồn thon em trói chặt gã đàn ông ứ nhớ  bầm uất không xuất cơn mê dính chặt vào thân
26 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 62346)
T hế gian này nhiều khi thuận dòng chó tiến hóa thành người đến giới hạn trầm luân siêu thoát linh hồn bay đi tồn lưu tiếng sủa giữa khuya
07 Tháng Tám 2026(Xem: 452)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11042)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17659)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16733)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 256)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 281)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1941)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2509)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 208)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2380)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2147)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2750)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 972)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1033)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1585)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2353)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 145)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 116)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1641)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2193)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3066)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14390)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30473)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36733)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12164)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13508)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3919)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5918)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5420)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5975)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6615)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8958)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8273)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11211)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.