- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TIẾNG CHUÔNG NHÀ THỜ RUNG ...

25 Tháng Ba 20252:10 CH(Xem: 15576)

Chuong-nha-tho-co-hinh-dang-nhu-mot-chiec-non-tru-va-kha-ngan
Chuông Nhà Thờ - ảnh Internet




Nguyễn Công Khanh

TIẾNG CHUÔNG NHÀ THỜ RUNG…

           

Có lẽ trong 50 năm qua ở Mỹ tôi chưa được nghe lại tiếng chuông nhà thờ. Hầu hết các nhà thờ ở Mỹ không có gác chuông. Tôi còn nhớ có đọc môt bài than phiền của hàng xóm về tiếng chuông của một nhà thờ ngày đêm rung chuông, dân Mỹ lại là những người Bảo vệ Môi trường hạng nhất, mà tiếng động thì bị họ liệt vào hàng ô nhiễm môi trường.

Gia đình tôi theo Phật giáo.

Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, chính phủ và bộ đội Việt Minh {VM} rút khỏi thành phố lủi vào rừng sâu ẩn náu, bảo tồn lực lượng, trường kỳ kháng chiến, chờ thời để lại cho thanh niên Tự Vệ thành phố ở lại cầm chân ngăn cản bước tiến của địch và phá hủy các công thự.

Họ nội tôi ở vùng quê theo VM, bố tôi bỏ Hà nội đem gia đình theo họ vào vùng kháng chiến. Họ ngoại tôi ở Hà nội theo phe Quốc Gia, làm công chức như Kho Bạc, Hỏa xa…Ông cậu, em của mẹ tôi làm Phủ Toàn Quyền theo Việt Quốc bị Việt Minh bắt cùng nhiều người ngay ngày họ cướp chính quyền. Hai đảng thương lượng, được thả và rút lên chiến khu Yên Báy, nhưng chỉ ít tháng sau bị VM bao vây tàn sát không còn một ai. Họ ngoại tôi chỉ chạy loanh quanh và trở về Hà nội rất sớm. 

Tôi còn nhớ khi chạy loạn, gia đình tôi luôn đến các làng đạo lánh nạn, vì tin rằng quân Pháp sẽ không đến bắn phá, đốt nhà hay bắt bớ. Yên ổn cũng được ít lâu, bố tôi mang tôi đến nhà thờ để xin học. Không lớp nào hợp với tôi, mẹ tôi nói cứ để nó học cho khỏi quên mặt chữ. Tôi 10 tuổi đang học lớp Moyen 1 tại trường Piere Pasquier, ở phố Sinh Từ. Tôi đã học qua lớp Enfantin, Preparatoire, nếu tôi nghĩ không lầm tôi sẽ phải học qua lớp Moyen 2 và lớp Supérieur để thi bằng Certificat, tức là bằng Tiểu Học. Thời đó, người lớn có bằng đó, nói được ít nhiều tiếng Pháp là có thể đi xin việc được rồi.

 Những ngày ở nhà thờ, tôi học thuộc lòng hai bài kinh căn bản là “Kinh Lạy Cha” và “Kinh Kính Mừng”, đến nay tôi vẫn còn có thể đọc lại được. Tôi được Cha xứ tin cậy giao cho việc kéo chuông với một đứa trẻ khác. Tôi nhìn lên gác chuông vút trên cao, một sợi thừng đan bằng chão thả dòng xuống kéo kê trên mặt đất. Thật ra là chúng tôi chỉ nắm lấy dây đánh đu từ góc này sang góc khác theo nhịp chuông.

Đó là tiếng chuông nhà thờ đầu đời mà tôi nghe được và kéo chung với một đứa trẻ khác. Tiếng chuông nghe rộn rã, gọn gàng cuốn lên cao  tỏa ra khắp làng và cánh đồng xa tưởng như trong một thuở thanh bình nào đó.

Quân Pháp mở rộng vùng kiểm soát, đánh tới làng, bố tôi lại đem gia đình chạy sang một làng đạo khác, thay vì chạy ngược lại và nói được tiếng Pháp thì họ sẽ chỉ dẫn đường về Hà nội, vì lúc đó chính phủ Quốc Gia đã thành lập và cố chiêu dụ dân chúng. Tôi vẫn được đến nhà thờ học kinh và thỉnh thoảng được kéo những hồi chuông như trước. Nhưng càng chạy xa, càng ở lâu thì càng túng quẫn. Có bao nhiêu thứ có thể bán được đều bán hết. 

Sau cùng kiệt quệ, họ giới thiệu đến một trại tạm cư dành cho dân tản cư từ thành phố đến đó học việc để tìm việc làm. Bố tôi được làm trên văn phòng và họ dậy tôi nhiều nghề từ kéo sợi, làm nón và sau này làm tại xưởng bút chì, làm mực và giấy carbon cho máy chữ… Ở trại gặp được nhiều người cùng cảnh ngộ, mấy cô tiểu thư Hà thành, áo lụa bạc mầu lem luốc, “Như cánh hoa trong thời loạn ly”. Có hai anh thương binh, nguyên là thanh niên Tự Vệ Thành mỗi anh mất một chân, một anh mất chân phải, một anh mất chân trái, lội bộ từ Việt Bắc về đồng bằng. Đường thì xa, hai anh còn một trái lựu đạn bảo nhau cùng mở cho rồi đời, nhưng trái lựu đạn không nổ. Hai anh gài lại và đi tiếp.

Từ ngày có hai anh trại vui hẳn lên. Hai anh thường hay tụ họp chúng tôi bầy ra các trò chơi. Một anh có tài làm ra những câu nhạc “chế” hát mỉa, như câu “Hi sinh đời cho núi sông…” thành “Hi sinh đùi cho núi sông...”, câu “Sống tranh đấu mà không sờn gian khổ…” thành “Sống ăn sắn mà không thèm ăn phở, chết trong nhà mà không chết ở ngoài sân…”. Bọn cán bộ trại tức lắm mà không làm gì được anh.

Một hôm hai anh bảo chúng tôi mang rổ ra sông mang cá về. Ra đến nơi, một anh rút kíp trái lựu đạn, đã một lần hoãn mạng chết cho hai anh. Lúng túng thế nào vì chiếc nạng, anh trượt chân ngã và trái lựu đạn bị tung lên cao và lần này thì nó nổ, nhưng không ai bị thương tích.

Trong thời gian này, tôi học được nhiều bài hát kháng chiến đầu tiên, tôi nhớ bài Làng Tôi của Văn Cao có tính chất lãng mạn như sau:

“Làng tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu bóng cau với con thuyền, một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang.

Chiều khi giặc Pháp qua, chiều vắng tiếng chuông ngân, phá tan nhà thờ xưa…”

Tôi không thấy một nhà thờ nào bị phá. Quân Pháp khômg phá vì họ xây dựng lên, Việt Minh không dám phá và dân bị xúi duc cũng không dám phá, thành thử hầu như các nhà thờ vẫn còn nguyên. Chỉ thấy Việt Minh ra tay tiêu thổ kháng chiến, phá nát bằng địa các thành phố, cầu cống,, trục lộ giao thông để cản bước tiến của địch quân. Còn lính Pháp thì nhằm bắn phá những làng mạc có Việt Minh ẩn náu.

Quân Pháp lại đánh đến, đốt phá tan tành trại, mẹ tôi nhân dịp này mang mấy đứa em tôi theo một số người trở về Hà nội. Tôi và  bố tôi vì đi làm xa nên không thể về cùng. Sau đó mẹ tôi cho người ra đón tôi, và chính mẹ tôi tự mình ra đón bố tôi về.

Tôi mất bốn năm học, phải học tư tại một trường đạo lớn có tên là Dũng Lạc, cạnh nhà thờ lớn. Hàng ngày tôi lại được nghe tiếng chuông, hình như chuông nhà thờ rung mỗi giờ báo cho mọi biết mấy giờ trong ngày tùy theo số tiếng chuông. Đêm Giáng Sinh tôi đạp xe đến nhà thờ, đêm đông lạnh lẽo vắng người, tôi đứng yên lặng nghe tiếng nhạc ống, những bài thánh ca bằng tiếng La tinh và những hồi chuông rộn rã quyện lên không trung, thấy một điều gì linh thiêng khôn tả. Tôi đỗ xong bằng Tiểu Học và may mắn vào được trường Chu Văn An.

Hà nội những năm đó được bảo vệ khá an ninh, chiến tranh thì ở mãi núi rừng xa. Tôi và các bạn thường hay đạp xe lang thang trong thành phố và các vùng quê xa. Tôi có cảm tưởng như sống lại được cả một thời lãng mạn tiền chiến. Tôi đọc gần như hầu hết các tác phẩm của Tự lực Văn Đoàn, của các nhà văn cùng thời của một tiệm cho thuê sách ở góc chợ Đồng Xuân. Tôi đã chơi đàn và chép lại hàng trăm bài nhạc ướt át ủy mị  như “Dư Âm”, Trăng Mờ Bên Suối”, “Về Bến Sông Tương”…mà sau này họ gọi là Nhạc Vàng, vào năm, sáu quyển dầy cộm. Một người bạn tôi, có công ngồi chép lại không biết bao nhiêu bài thơ mới. Nhưng rồi chúng tôi cũng phải bỏ Hà Nội, bỏ những ngày vui theo một triệu người di cư vào Nam, để lại một thành phố trống rỗng. Riêng tôi, tôi rời Hà nội gần giống như bài “Nỗi Lòng” của nhạc sĩ Anh Bằng: “ Tôi xa Hà Nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu…”. Tôi cũng có một cô hàng xóm, gặp nhau thường nói những chuyện bâng quơ. Cô vào Nam trước, gửi cho tôi một tấm hình và một lá thư hẹn tôi ở Saigon. Chúng tôi gặp lại nhau, nhưng mối tình học trò đó như bong bóng mùa mưa tan lúc nào không hay.

Vào Saigon, tôi cùng mọi người sống những năm mở đầu của thời Cộng Hòa, an bình, hưng thịnh và phấn khởi. Một người cha đi làm có thể nuôi một gia đình sung túc, bệnh viện miễn phí, giáo dục từ Tiểu học đến Đại học đều miễn phí, một số trường Đại học lại  cấp học bổng cho sinh viên hàng tháng cho đến khi ra trường.  Tôi thi vào được Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, mỗi tháng được 2,000 đồng như lương một công chức. Trường tọa lạc cạnh Bộ Ngoại Giao trước Phủ Tổng Thống và ngay sau nhà Thờ Đức Bà chỉ cách một công viên. Với số tiền đó, không bao lâu tôi mua được một xe Vespa, cùng bạn bè sống đúng mốt như các thanh niên hồi đó. Nhắc lại để các bạn cùng nhớ, may áo Adam trước cửa Tòa Đô Chánh, mặc quần Chiến Lê Văn Duyệt, đi giầy Gia bên Khánh Hội và đồ bộ Tân Tân trên đường Tự Do… Hàng ngày sau buổi học, các bạn thường rủ nhau ra các quán trên đường Tự Do như La Pagode, Givral, Broda uống cà phê nhìn đường phố hay Pole Nord ở cuối đường cạnh Hotel Majestic để chơi Tilt. Thành thử một ngày có thể tôi đã lái xe qua nhà thờ đến hai, ba lần. Đêm Giáng Sinh, chúng tôi cùng hẹn nhau ở đó trước giờ đi “Bal” khiêu vũ. Tôi được nghe lại nhạc thánh ca và nhìn lên gác chuông vút trên cao. Giáng Sinh ở Saigon không như ở Hà Nội xưa, vui và sống động hơn, ban đêm trời mát,  đông người vì không ai nghĩ đến mình có đạo hay không. 

Cuối năm 1961 tôi ra trường, tưởng rằng sẽ được kéo cái cuộc đời ở Saigon như các khóa trước, Tổng Thống Diệm đã thay đổi chính sách đưa nửa khóa của chúng tôi vào ngành Trung Ương Tỉnh Báo và nửa khoá còn lại gửi ra quân trường Đồng Đế theo học một khoá Chuẩn Úy Hiện Dịch trong đó tôi. Mọi người cho đó là một lò luyện thép, tướng Đỗ Cao Trí, chỉ huy trưởng nói: “Một người lính bộ binh giỏi là một người đi bộ giỏi”. Thành thử chúng tôi đi bộ mút mùa, hàng tuần di hành 60 cây số theo tốc độ, vai đeo sac nặng chĩu và hai tay mang khẩu Garant nặng như cái cùm. Đèo Rù Rì, Núi “Cô Gái nằm”, những cánh rừng Diên Khánh đi đến mòn chân. Có những đêm không được nghỉ lại phải đi gác tại các trọng điểm trong vùng. Một lần toán gác của tôi ở phía biển cạnh khu xóm Ba Làng. Ba Làng được biết đến là cả làng này vượt biển lánh nạn Cộng sản bằng thuyền và mảng trôi vào Nam sau thời hạn di chuyển khi đất nước chia đôi. Tối đó chúng tôi lén vào xóm nhờ một bà nấu cháo gà và mua mấy chai bia ngồi nhậu với cánh và cổ gà.

Sau khi mãn khóa, tôi cầm sự vụ lệnh mới biết nhiệm sở của mình là đảo Phú Quốc. Khi tôi đến đó, tất cả các đường bộ đều bị cắt đứt, chỉ còn lại 5 ấp nằm sát ven biển, 4 ấp đã có hàng rào chiến lược. Di chuyển liên lạc đều phải dùng thuyền hay nhờ hải thuyền. Tối nào nằm trong quận cũng nghe súng bắn lẻ từ phía bên kia sông Dương Đông của du kích bắn sang, và hàng tràng súng của dân vệ bên này bắn lại. Nghe riết rồi thành quen, cứ sau hai hồi súng đó là mọi người có thể ngủ yên cho đến sáng. 

Không hiểu sao tôi đã ở lại đảo gần ba năm mà không xin đổi, thay vì các công chức bị đổi ra đó, họ tính từng ngày để trở lại đất liền. Có thể tôi đã lãng mạn hóa, đã huyền thoại hóa những ngày trên đảo. Tôi tưởng tượng như mình là một Gaugin trong các rừng dừa, ở đó có những chàng trai đánh trống bập bùng, những cô gái mình trần đang múa, cầm những vòng hoa đón khách lạ. Tưởng mình như một Gary Cooper trong phim “Retour au Paradis” hay Marlon Brando trong “Mutinity on Bounty” … Một lần trong những ngày bão biển, không biết làm gì tôi vào trong kho lục tìm được cuốn Địa Phương Chí. Tôi mải mê đọc, có những phần lịch sử của hòn đảo mà nhiều người chưa biết, bao nhiêu huyền thoại được viết lại. Nhất là có một đoạn nói về bà Kim Giao mang 50 con trâu ra đảo lánh nạn Tây Sơn, sau này bị thất bại, bà mất và những con trâu đó thành những con trâu rừng lang thang trên đảo. Tôi cố đi tìm đàn trâu đó tưởng như mình đang đi tìm một thiên đường lỡ dở. Tôi dò hỏi dân thì được biết đàn trâu còn lại hai con, năm trước một con bị bắn chết còn lại một con…

Một sự ngẫu nhiên, trong 5 ấp kể trên, có một ấp ở cuối đảo là An Thới lại là nơi định cư chính của dân vượt biển Ba Làng. Họ xây được một nhà thờ khá lớn và có hai linh mục. Ấp có một một trung đội dân vệ, trang bị vũ khí sơ sài, nhưng du kích cũng chưa bao giờ đến trêu trọc. Tôi cũng thường hay xuống đó và quen thân với vị linh mục trẻ có tên là Hoàng văn Cung và ông trưởng ấp Niềm. Thỉnh thoảng cha Cung lên Dương Đông làm lễ, tôi cũng đến dự, như thường lệ tôi vẫn dự các ngày lễ lớn tại chùa Phật Giáo, thánh thất Cao Đài hay Hòa Hảo…

Nơi làm lễ là một nhà thờ cổ nhỏ được xây từ thế kỷ trước, mái không còn nữa, chỉ còn trơ 4 bức tường gạch và sàn trơ mầu gạch cũ. Tôi theo mọi người đọc kinh, vẫn những bài kinh cũ mà tôi đã thuộc lòng. Lời kinh và tiếng giảng của cha lẫn trong gió biển. Tôi cũng còn nhớ hai ngôi mộ cổ của hai nhà truyền đạo được xây cũng từ thế kỷ trước có tên lạ hoắc tại gần Dinh Cậu, cạnh Ty Khí Tượng mà mỗi chiều khi tắm biển xong tôi vẫn ngồi nghỉ trên đó. 45 năm sau tôi trở lại Phú Quốc thì ngôi nhà thờ cổ hai ngôi mộ không còn nữa.

Trong thời gian ở đó, tôi đã đến các ấp nhiều lần để củng cố ấp, lập hương ước và thực hiện các chương trình của chính phủ. Tôi lại được giao cho viết dự thảo thành lập tỉnh Phú Quốc. Chuyến đến thăm ấp Hàm Ninh lần cuối, vì biển động tôi đã ở đó một tuần và bỗng nhiên tìm thấy một cái sọ trâu khô trắng nằm ỏ hàng rào, tôi ra bới lên và mang vào nhà hỏi thì họ nói con trâu này vừa bị Thiếu úy đồn trưởng bắn chết. Tôi vội chạy lên đồn thì lính cho biết Thiếu uý lần vừa rồi đi săn đã bị ngã gẫy xương và được đưa về bệnh viện tỉnh tuần trước rồi. Tôi trở lại chỗ sọ con trâu, ôm nó lên tưởng như thiên đường của mình đang đi tìm đã mất thật rồi.

Về quận, tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về tỉnh nhường chỗ cho người khác tiếp tục dự án thành tỉnh. Tỉnh trưởng an ủi tôi: “Anh nên về, ở đó lâu họ sẽ quên anh”.

Vốn  quen sống giữa trời cao biển rộng, chán ngán những ngày dài tù túng của một đời công chức tỉnh lị, tôi thường lấy cớ đi ra ngoài công tác. Có lần tôi theo một phái đoàn đi thăm khu định cư Cai Sắn của dân Công Giáo. Đây là một khu định cư khá lớn trong đồng bằng Cửu Long, dọc theo quốc lộ 4, nằm giữa Ngã Ba Lộ Tẻ phía Bắc và phi trường Rạch Sỏi phía Nam, gổm 8 kinh, kinh nào cũng có nhà thờ riêng, ruộng thẳng cánh cò bay. Trong các kinh còn có những con lạch nhỏ ngang dọc di chuyển bằng ghe thuyền rất thuận tiện.

Hôm đó phái đoàn đi thăm nhiều kinh, kinh cuối cùng là kinh số 8. Khi ghe cặp bến mọi người lên bờ, bỡ ngỡ không thấy dân ra đón như các kinh khác. Thì ra giáo dân ở kinh này đã rời dần về các vùng vui  và yên ổn hơn. Mọi người đi vào nhà thờ, gặp một ông bõ già và một lúc sau mới thấy một linh mục gầy còm khoác áo choàng ra đón. Trong lúc mọi người vây quanh linh mục hỏi han, tôi chợt nhận ra  linh mục là một người rất quen và khi linh mục nhìn tôi, tôi cũng thấy có cảm tưởng như thế, nhưng chúng tôi còn e dè chưa có dịp nói chuyện. Lúc sau phái đoàn đem quà ra tặng và vội vã rời khỏi nhà thờ vì trời đã về chiều và vùng này đã có những tin bất an.  Tôi cố tình đi lùi lại gần linh mục và bắt chuyện, chúng tôi nhận ra nhau, thì ra khi vào Saigon, tôi học nhẩy một lớp, không dám ở lại Chu Văn An và phải sang học trường Hồ Ngọc Cẩn, một trường đạo ở Bùi Chu Phát Diệm dọn vào. Tôi còn nhớ rõ, hồi đó hắn nhỏ con, gầy gò, nhưng tính ương ngạnh nên hay bị các học trò khác gây gổ. Không hiểu vì một cớ gì tôi lại hay bênh vực hắn nên thành một người bạn và thường hay đi với nhau. Tôi đỗ Tú Tài 1 xong và trở lại trường Chu Văn An, sau đó tôi không gặp được hắn nữa. 

Chúng tôi định đứng nói chuyện lâu hơn, nhưng bị mấy người dưới ghe to tiếng gọi. Chúng tôi chia tay, tôi nghe thấy người bạn trong bộ áo choàng linh mục bên cạnh bình thản nói với tôi: “Nếu mày còn ở vùng này, nhớ đến thăm tao”. Tôi bỗng thấy cả một thời trung học quay trở lại, tôi rưng rưng ôm lấy hắn và buột miệng: “Cha ơi là Cha”. Lúc ghe đã xa bờ, tôi cố nhìn lại, thấy hắn trong chiếc áo choàng đen vẫn còn đứng như in hình trong bóng trời chiều cho đến khi chiếc ghe rẽ quặt sang một hướng khác.

Tôi đã không làm tròn lời hẹn của người bạn, vì chỉ mấy tuần sau tôi nhận được giấy động viên và phải rời Rạch Giá về Saigon trình diện nhập ngũ… 

*


Hôm nay, trong vùng Tây Bắc, mấy tuần nay mưa lạnh rơi sụt sùi, đang mong ngày có tuyết, ngồi bên lò sưởi nhớ lại chuyện xưa, nhớ lại những tiếng chuông xưa, những ngôi tháp nhà thờ cổ, những làng đạo mà mình đã đi qua và những mảnh vụn của cuộc đời cũng theo đó mà cuốn về. Lòng thấy nao nao, những dấu vết ngày xưa chắc đã bị xóa nhòa từ lâu, nay chỉ còn trên mấy trang giấy. . .

  

 

NGUYỄN CÔNG KHANH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 5211)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 4441)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 6431)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 4202)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 4169)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 7033)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 5989)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 6281)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 7006)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 6931)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16204)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15218)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15578)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1288)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2021)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4202)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5989)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5413)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5990)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1336)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1889)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1830)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1607)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1604)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1636)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28643)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35163)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35018)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9882)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12012)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1059)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2021)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2497)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7033)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6472)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8408)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.