- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,577

Tuấn Khanh Và Giấc “ Mộng Đêm Xuân”

10 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 79597)

Xuân vừa về trên bãi cỏ non…

 Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.
 Mùa xuân như đến gần thêm chút nữa khi ta nghe câu hát của Tuấn Khanh. 
 Em ơi xuân đến bên thềm rồi…  

 (Mùa Xuân Đầu Tiên)

 Mùa xuân đến thật gần. Mùa xuân đã đến bên thềm, mùa xuân đã đến bên em.

 Nghe câu hát, tưởng chừng nghe được cả tiếng bước mùa xuân, nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài lướt thướt của “nàng xuân” chạm vào những bậc thềm cửa, nghe được cả tiếng động nhè nhẹ trong câu lục bát Trần Dạ Từ, phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà.

 “Anh nằm nghe bước em lên

 Ngoài song lá động, trên thềm áo bay”

 (Khi Nàng Đến)

 Mùa xuân đến thật gần. Xuân của đất trời, xuân trong lòng người.

 

Nỗi buồn ướp men say

 

Nghe những bài nhạc Xuân quen thuộc của các nhạc sĩ quen tên, tôi nhận ra một điều, mỗi “nàng xuân” của mỗi chàng nhạc sĩ có một vẻ đẹp riêng, những nét quyến rũ riêng.

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh là “Xuân mộng”, dắt ta đi vào những giấc mộng êm đềm, đi vào những giấc mơ tràn đầy mùa xuân tình ái của lứa đôi.

 Nghe tiếng xuân về tim rộn rã

 cho ước mơ thành những vần thơ… (Mộng Đêm Xuân)

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh còn là mùa xuân tao ngộ, mùa xuân tương phùng sau những cách ngăn, chia lìa qua bao tháng năm dài biền biệt.

 Hết rồi mùa chia ly

 cho tình xuân vừa ý… (Mùa Xuân Đầu Tiên)

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh rất gần với mùa xuân của thi nhân.

 “Ai bảo em là giai nhân

 cho lệ tràn đêm xuân

 cho tình tràn trước ngõ

 cho mộng tràn gối chăn”

 Những “lệ tràn đêm xuân” và những giấc mộng vàng, mộng đẹp ấy không chỉ có trong những câu thơ Lưu Trọng Lư thôi mà ta còn nghe được cả trong những câu hát của Tuấn Khanh nữa.

 Mộng về một đêm xuân sang

 em thì thầm ngày đó thương anh…

 Mộng tràn ngập đêm trăng sao

 sao đầy trời từng chiếc lấp lánh… 

 Những câu hát ấy ở trong bài “Chiếc lá cuối cùng”, một trong những ca khúc gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được nhiều trung tâm băng, dĩa nhạc thu âm nhất và tất nhiên, được nhiều người yêu thích nhất.

 Tại sao lại là “chiếc lá cuối cùng”? Không rõ là cái tựa của bài hát ấy và câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ nổi tiếng O’Henry có mối liên hệ nào(?). Điểm tương đồng là cả bài hát lẫn câu chuyện đều buồn bã như nhau, và cả người họa sĩ trong câu chuyện ấy lẫn người nhạc sĩ trong bài hát ấy đều có những đêm thức trắng, những đêm dõi mắt trông chờ chiếc lá cuối cùng sẽ lặng lẽ lìa cành trong đêm lạnh vắng. Chiếc lá cuối cùng rụng xuống là thời khắc cô bé trong câu chuyện ấy sẽ phải từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, cũng là thời khắc hai kẻ yêu nhau trong bài hát ấy sẽ phải nói lời chia tay.

 Lá trên cành một chiếc cuối bay xa…

 Nghe “Chiếc lá cuối cùng”, ta nghe một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ.

 “Chiếc lá cuối cùng” là chuyện tình trái ngang, là mối duyên không thành, là tìm quên trong men rượu, là tiếc nhớ những ngày vui đã xa như dĩ vãng.

 Rồi một chiều xuân thơ trinh

 cho lòng mình về với dĩ vãng…

 “Chiếc lá cuối cùng” là nỗi đau tê dại của trái tim rạn vỡ, là nỗi sầu chìm ngập trong men rượu, là nỗi-buồn-ướp-men-say.

 Đã có bao nhiêu ca sĩ từng hát “Chiếc lá cuối cùng” kể từ khi bài hát ra đời (1962), kể từ khi người ta nghe Thái Thanh hát lên lần đầu tiên, tác giả bài hát không sao nhớ hết, không kể ra hết được. Gần đây nhất, các ca sĩ trẻ ở trong nước cũng đã tìm đến bài hát ấy, cũng đã cất giọng “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?...” Bài hát có một đời sống thật là dài và vẫn luôn “mới”, luôn làm rung động những trái tim.

 Đã có bao nhiêu là giai thoại về những người yêu “Chiếc lá cuối cùng”, như một nhạc sĩ Tuấn Khanh… khác ở trong nước đã đặt tựa cho một sáng tác của mình là… “Chiếc lá đầu tiên”, hay như một người làm thơ đã cảm tác “Chiếc lá cuối cùng” để sáng tác bài thơ dài đến hơn trăm câu, mỗi câu bắt đầu bằng một hoặc hai chữ của trọn bài hát ấy.

 . . . . .

 Mộng về dưới bóng hoàng lan

 một đêm trăng ngọt hương tràn môi xinh

 xuân sang thắm lối ân tình

 em duyên như nụ hoa quỳnh, trao nhau

 thì thầm tiếng nhớ ngàn sau…

 Đã có bao nhiêu người tìm gặp được mình, tìm gặp những nỗi niềm “trắng đêm tâm sự” của mình trong bài hát ấy. Bài hát, có phải vì lẽ ấy, đã ở lại về lâu về dài trong lòng người?

 Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

 Thật ít có ai sử dụng chữ “chở” tuyệt vời đến như thế!

 

 

 

 Trong những câu hát của Tuấn Khanh ta vẫn nhặt ra được những câu thơ đẹp như thế, những chữ và nghĩa hay đến như thế, như là những chữ “vội vã”, “len lén”, “quấn quýt”, “lẻ loi”…

 Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã

 Đêm đêm heo may len lén vào hồn tìm nhau

 Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

 cho đêm không mơ, cơn mơ lẻ loi

 Những câu hát ấy–hay những câu thơ ấy–ở trong bài “Nỗi niềm” của nhạc sĩ Tuấn Khanh. 

 Từng ngày trôi qua tim em héo úa...

 “Nỗi niềm” là nỗi buồn héo hắt đến rã rượi.

 Những lời tình ta nghe được trong bài hát ấy như là tiếng thở dài não nuột của một người yêu. Nói “như là” vì lẽ, những lời ấy là “nỗi niềm” tâm sự của người vợ hiền, là nỗi lòng cô phụ những đêm dài trằn trọc, những đêm vò võ một mình một bóng, sau phút chia tay vội vã, tiễn chồng và các con lên đường… vượt biên.

 Nên em cô đơn những đêm về sáng…

 Anh ơi, đêm nay em nghe trống vắng buồn tênh…

 Nghe “Nỗi niềm” mà nghe lòng chùng xuống, mà nghe tim thắt lại.

 “Nỗi niềm”, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, là “Hoa soan bên thềm cũ” nối dài. Những lời thơ ý nhạc gửi gấm trong hai ca khúc ấy đều như lời hẹn ước gửi đến người bạn đời đầu gối tay ấp của ông.

 Em nhé, mình thương nhau muôn đời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

 “Nỗi niềm”, trong một nghĩa nào đó, cũng là “Chiếc lá cuối cùng” nối dài. Cũng là nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ, cũng là giai điệu chầm chậm, buồn buồn đến rã rời ấy. Có khác chăng, nỗi cách chia người yêu đổi thành nỗi chia lìa chồng vợ.

 

“Giàn hoa tím xưa chưa phai”

 

Dường như trong mỗi nhạc sĩ của chúng ta đều có ít nhiều một chàng thi sĩ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được những câu hát thật là thơ, thật là đẹp.

 Tôi vào vườn xưa

 gặp em tóc buông vai gầy

 thẹn thùng nhìn tôi ngỡ trong giấc mơ…

 Nghe những câu hát như thế, ta nghe được cả những ý thơ.

 Câu hát ấy ở trong bài nhạc có một mầu tím vấn vương của Tuấn Khanh, “Dưới giàn hoa cũ”, được ông sáng tác cách đây đúng năm mươi năm. Nghe lại bài hát ấy, sau nửa thế kỷ, sau bao vật đổi sao dời, vẫn nghe lòng lâng lâng như “ngỡ trong giấc mơ”, vẫn nghe một nỗi xao xuyến, bâng khuâng như “thuở ban đầu” của bài hát, như mối tình đầu thường khó phai.

 Nỗi xao xuyến, bâng khuâng ấy bàng bạc hầu hết trong các bài hát, trong từng lời ca ý nhạc của Tuấn Khanh.

 Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về

 thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai…

 Bài hát như mẩu tự truyện của người nghệ sĩ ấy. Dường như mỗi bài nhạc của ông là mỗi câu chuyện kể, là câu chuyện thật; nói đúng hơn, là câu chuyện tình.

 Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm

 thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên

 Hẹn tôi, “Đến một mùa se thắm duyên lành,

 ngắt bông hoa tím trên cành trao anh.”

 Những chuyện tình ấy thường dẫn đến một kết thúc “êm đềm”.

 Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm

 vầng trăng thu soi mắt em long lanh…

 Nếu ở Hoàng Trọng là “Trời buồn đem mây tím về chơi vơi…” (Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím), ở Nguyễn Hiền là Nhớ nhau khi mây vương vương màu tím…” (Ngàn Năm Mây Bay) thì ở Tuấn Khanh là…

 Những chiều buồn mây tím xây thành

 có thương hoa thắm mong chờ không anh? 

 Cũng là mầu mây tím, cũng là một mầu tím vời vợi, cũng là những nét nhạc lâng lâng, êm êm nhưng là những dòng nhạc không lẫn vào nhau được. Nét nhạc Hoàng Trọng nghe man mác như ngọn gió heo may lay động mặt nước hồ thu, nét nhạc Nguyễn Hiền nghe mênh mang, đẹp và buồn như bức tranh thủy mạc, trong lúc nét nhạc Tuấn Khanh nghe xao xuyến, bâng khuâng, và có thoáng e ấp, ngại ngùng như “nụ hoa vừa hé”, như “đôi môi xinh” của “người em nhỏ bé mộng mơ” (Mùa Xuân Đầu Tiên).

 “E ấp, ngại ngùng” nên chàng trai chỉ “thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai”, cô gái chỉ thầm hỏi “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?” Trong những câu hát của Tuấn Khanh, ta vẫn nghe được những lời tỏ tình thầm kín như thế, những lời tỏ bày nhiều ẩn dụ và chan chứa những tình ý yêu đương như thế.

 Chàng nhạc sĩ ấy không nói “Có thương người em nhỏ đợi chờ?” như ta vẫn thường nghe, thường gặp, mà nói… “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?”

 Chàng nhạc sĩ ấy cũng không nói “hương sắc phai tàn”, hay “tình yêu nhạt phai”, hay “lòng thủy chung qua bao tháng đợi năm chờ” mà nói… “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

 Tình yêu ấy thật nhẹ nhàng, thật tha thiết và đẹp như những cánh hoa mầu tím mỏng manh, lay động trong nắng sớm, trong gió chiều. Mầu hoa tím bâng khuâng và luôn có chút vấn vương.

 Hoa nào đợi chờ không phai sắc hương

 Ngày tàn không gieo nhớ thương

 Dặm trường không gây vấn vương

 

 

   

 Mầu tím, mầu của định mệnh. Bài hát ấy đã như một định mệnh.

 Đời tôi đã nhiều lần vui bước phong trần

 gió lùa xao xuyến tim đơn chiếc thân…

 Câu hát ấy,” nhạc sĩ Tuấn Khanh nói, “đã ‘ứng nghiệm’ vào tôi.” Chàng nghệ sĩ ấy, con người lãng tử ấy đã sống kiếp nổi trôi lang bạt kỳ hồ, kể từ ngày đơn thân độc mã khoác cây đàn lên vai, một mình vượt tuyến vào Nam năm 22 tuổi, hành trang chỉ vài bộ quần áo, vài tập sách nhạc và… chiếc đàn vĩ cầm không lúc nào rời chàng.

 “Hoa soan bên thềm cũ”, ra đời ít năm trước “Dưới giàn hoa cũ”, cũng là câu chuyện kể, là câu chuyện tình mùa ly loạn mà giới yêu nhạc cuối thập niên 50’s và đầu thập niên 60’s hầu như không ai lại không biết đến. Như bao lớp trai theo nhau lên đường, chàng trai phải giã biệt làng quê, giã biệt tình đầu vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi. Người đi nói với người ở lại những lời nhắn nhủ, vỗ về thiết tha, ân cần.

 Đừng buồn khi xa nhau em nhé,

 thăm em đôi ngày rồi anh đi… 

 Người lính chiến dừng chân phút giây thôi, rồi lại lên đường, rồi lại miệt mài đi khi quê hường còn tiếng súng.

 Chuyện tình mùa chinh chiến mang nhiều nỗi vấn vương “như hương hoa soan dâng bên thềm” trong buổi chiều vàng. Người lính chiến luôn giữ chắc tay súng, không chỉ “giữ gìn biên cương xa vời” mà còn giữ gìn cho tình yêu bền chặt, không nhạt phai theo tháng năm..

 Một chi tiết khá thú vị, trong lần ấn hành đầu tiên (nxb An Phú, 1956), một câu hát trong bản nhạc “Hoa soan bên thềm cũ” được in nhầm là “như hương hoa soan vang bên thềm”. Một số ca sĩ đã hát theo như thế (và nhiều ca sĩ đến nay vẫn hát như thế). Một số ca sĩ nhận ra chỗ sai ấy (“hương hoa” thì không thể “vang” được), bèn đổi chữ “vang” thành chữ “vàng” (vẫn cứ… sai, vì “hương hoa” thì không thể… xanh đỏ tím vàng được). Một số ca sĩ khác đổi lại là “như hương hoa soan vương bên thềm”, nghe hợp lý hơn, nhưng vẫn cứ… sai. Câu hát đúng, tác giả Tuấn Khanh cho biết, là “như hương hoa soan dâng bên thềm”.

 Chữ “vương” đã hay, chữ “dâng” lại hay hơn. Thật khó mà có thể nghĩ ra, tìm ra được chữ nào hay hơn thế.

 “Người kể chuyện mình”, có thể gọi nhạc sĩ Tuấn Khanh bằng cái tên ấy, qua những bài nhạc gắn liền với tên tuổi ông. Từ “Hoa soan bên thềm cũ” đến “Dưới giàn hoa cũ”, đến “Chiếc lá cuối cùng”, đến “Quán nửa khuya”, đến cả những bài nhạc về sau này như “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… Có khi chỉ nghe qua cái tựa của bài nhạc thôi, như “Hai kỷ niệm, một chuyến đi”, “Đêm này nghỉ đỡ chân”… người ta cũng hiểu được đấy là những câu chuyện buồn vui được ông kể lại bằng lời ca tiếng nhạc.

 Những câu chuyện kể trong nhạc Tuấn Khanh thường là “chuyện hai người”, thường là những lời tình thật tha thiết, thật dịu dàng “hai người” nói với nhau.

 Em nhé mình thương nhau muôn đời

 Anh giữ gìn biên cương xa vời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Nhìn nhau khẽ nói câu

 “Thời gian trôi qua mau

 không phai lạt đâu…”  (Một Chiều Đông) 

 Tuấn Khanh, ông đã phơi trải lòng mình qua những dòng kẻ nhạc, đã dẫn dắt người nghe đi vào những câu chuyện lòng qua những giai điệu đằm thắm, ngọt ngào.

 Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm

 lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui… (Chiều Biên Khu)

 Câu hát ấy rất gần với câu hát của Phạm Duy, một “người kể chuyện mình” khác, kể về những buồn vui đời lính bên bếp lửa hồng trong ngày trở về của người chiến binh.

 Ngày trở về, trong bếp vui

 anh nói chuyện nghe, chuyện đời chiến sĩ

 sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê… (Ngày Trở Về)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, người ta như nghe được những nỗi niềm và những rung cảm của trái tim ông. Chính từ những rung cảm của trái tim, chính từ những rung cảm chân thực ấy, những ca khúc của ông đã chạm được tới trái tim người nghe.

 

“Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt”

 

Những người yêu nét đẹp trong nhạc tiền chiến cũng sẽ dễ dàng yêu thích những khúc “nhạc tình muôn thuở” của Tuấn Khanh như là “dòng nhạc tiền chiến nối dài”. Một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc “lãng mạn tiền chiến”, nhạc sĩ Tô Vũ, cũng đã yêu những khúc nhạc tình ấy. Tác giả “Em đến thăm anh một chiều mưa” đã tìm đến ông như tìm đến mối đồng cảm trong nhạc Việt, như tìm đến mối duyên tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng điệu.

 Sao gọi là “đồng điệu”? Hai chàng nghệ sĩ cùng chia sẻ mối đồng cảm về tính thẩm mỹ trong âm nhạc và nghệ thuật. Hai chàng nghệ sĩ cùng “kể chuyện mình” bằng những giai điệu lâng lâng như ướp chút men say của tình yêu, và bằng những lời nhạc đẹp như lời thơ.

 Ở Tuấn Khanh là:

 Chiều nay buồn tôi đi tìm ý… (Mộng Đêm Xuân)

 Ở Tô Vũ là:

 Ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

 Ở Tuấn Khanh là:

 Đồi núi chiều nay mây vương ngợp trời… (Buồn Đêm Vắng)

 Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Ở Tô Vũ là:

 Ta ước mơ một chiều thêu nắng

 em đến chơi quên niềm cay đắng

 và quên đường về… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 (“Chiều thêu nắng”, trước Tô Vũ, tôi chưa hề nghe nhà thơ nào nói như thế. Chỉ có những “chiều vương nắng”, “chiều buông nắng”..., hoặc “đất thêu nắng” trong câu thơ Huy Cận.

 “Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng

 Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu” / Đi Giữa Đường Thơm)

 Ở Tô Vũ là kỷ niệm êm đềm về một đôi mắt, một tà áo:

 Em đến thăm anh người em gái,

 tà áo hương nồng

 mắt huyền trìu mến

 sưởi ấm lòng anh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 Ở Tuấn Khanh cũng có một đôi mắt như thế:

 Vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

 Tại mình còn yêu, tại mình còn thương đôi mắt lạ thường… (Nhạt Nhòa)

 Và một tà áo như thế:

 Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo… (Từ Đó Khôn Nguôi)

 Ở Tô Vũ cũng có một người “bồi hồi” đứng nhìn theo như thế:

 Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 Trong câu hát của Tuấn Khanh có chữ “dâng” thật là đẹp:

 Nay qua đau thương yên bình rồi

 tình ta lên hương ngát

 như hương hoa soan dâng bên thềm… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Trong câu hát của Tô Vũ cũng có chữ “dâng” thật là đẹp:

 Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh,

 gió dâng khúc đàn thanh bình

 ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

 Cả hai chàng nhạc sĩ đều là “người kể chuyện mình”. Ở Tuấn Khanh là:

 Có một lần tôi về qua nơi đó

 Tiếng chuông chùa ngân báo tin đêm về… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

 Ở Tô Vũ là:

 Em đến thăm anh một chiều mưa,

 mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 

 

 

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe những thoáng rung động nhẹ nhàng, những xao xuyến, bâng khuâng về một câu chuyện kể, về một bóng hình nào đã đi qua đời mình, để lại những dấu ấn khó phai. Nghe nhạc Tuấn Khanh là lần theo những lối mòn kỷ niệm, là tìm về những phút giây êm đềm, có khi là cuộc hạnh ngộ kỳ thú, có khi chỉ là cuộc gặp gỡ tình cờ trong một chuyến đi, một đêm nào “nghỉ đỡ chân”.

 Cơm sắn canh rau

 bên hàng cau xanh ba mái đầu

 Mẹ thầm nói câu

 “Chiều nay có con ta thấy vui,

 ngày mai đơn người quá”… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta gặp lại những mùa thu “mây tím xây thành”, những buổi chiều vàng “khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi”, và cả những lời hẹn thề dưới bầu trời lấp lánh sao đêm.

 Rồi mai anh đưa em về nơi vui ấm êm

 trăng soi đầy thềm

 Nhìn nhau khẽ nói câu

 “Thời gian trôi qua mau

 không phai lạt đâu” (Một Chiều Đông)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe lại những nét nhạc lâng lâng “tiền chiến”, những mối tình như gió thoảng, những nhớ nhung và mộng mơ, những khung trời đầy trăng và sao.

 Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm 

 vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta còn nghe thấy những cuộc chia tay buồn bã, ngậm ngùi, nghe thấy những hối tiếc vì những lời chưa kịp nói hay chưa nói hết, và không làm sao trút cho cạn, dốc cho vơi những nỗi niềm.

 Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi… (Từ Đó Khôn Nguôi)

 

 Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã… 

 Đêm em xa anh em chưa kịp nói… (Nỗi Niềm)

 

 Đêm chia ly nghẹn ngào sao chẳng nói

 chỉ nghe tim nức nở trở về thôi (Chiếc Lá Cuối Cùng)

 Những cuộc chia tay nhạt nhòa nước mắt. Những giọt lệ long lanh như là “từng hạt sương khuya hoen đôi mắt biếc”, và lặng thầm như những giọt sương đêm chảy ràn rụa trên những ô kính ngoài khung cửa nhỏ.

 Đôi môi run run lệ tuôn khóe mắt 

 Ngỡ đã xa nhau nên khóc một lần từ giã… (Nỗi Niềm)

 

 Từ biệt người yêu muốn nói thật nhiều

 muốn khóc một chiều sao cứ ngại ngùng… 

 Lệ bỗng rưng rưng

 Tình nỡ quay lưng trong chiều hấp hối… (Nhạt Nhòa)

 Thật may một điều là, những câu chuyện tình của ông sau cùng vẫn có một kết thúc tròn đầy, vẫn có những phút giây trùng phùng như người lính trở về sau chiến tranh, để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc “mộng đêm xuân”.

 Nay qua đau thương yên bình rồi

 tình ta lên hương ngát… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 

 Ngày nào trăng khuyết nay lại tròn tươi nét môi

 ai ngờ chiều nay chúng mình đẹp đôi… (Chúng Mình Đẹp Đôi)

 

 Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

 xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

 

Chiếc vĩ cầm không có tuổi

 

“Những bài nào được anh yêu thích nhất trong số các nhạc phẩm của Tuấn Khanh?” tôi nhớ đã hỏi ông câu ấy. Thường thì với câu hỏi như thế, các nhạc sĩ ít khi trả lời thẳng hoặc chỉ trả lời xuôi theo… ý thích của số đông người yêu nhạc mình. Tuấn Khanh thì khác, sau vài giây nghĩ ngợi, ông nhắc đến hai bài “Mộng đêm xuân” và “Một chiều đông”, và nói ông yêu nét lãng mạn, thi vị trong những bài ấy. “‘Hoa soan bên thềm cũ’ và ‘Chiếc lá cuối cùng’,” ông nói, “là hai bài hát của kỷ niệm”. “Kỷ niệm khó quên?” tôi hỏi. Ông lắc đầu, “Không phải ‘khó quên’, mà… chẳng bao giờ quên được.” 

 Quay sang tôi, ông hỏi tôi… thích bài nào của Tuấn Khanh. “Dưới giàn hoa cũ,” tôi nói, không chút do dự. Ông hỏi vì sao, tôi trả lời, “Bài nhạc ấy nghe… ‘Tuấn Khanh’ hơn cả.” Những câu hát đẹp như thơ ấy, những nét nhạc lâng lâng ấy, đã gieo vào lòng tôi những tình cảm thật xao xuyến, thật êm đềm. Hơn thế nữa, câu chuyện trong bài hát ấy có một kết thúc thật đẹp, thật “happy ending”, nghĩa là rất… “Tuấn Khanh”. (Một lý do khác có chút riêng tư, người tôi yêu ngày xưa đã… yêu bài hát ấy, đã yêu câu hát ấy, “Những chiều buồn mây tím xây thành…”). “Dưới giàn hoa cũ”, bài hát đã đưa tôi lại gần với dòng nhạc Tuấn Khanh. Nét nhạc lâng lâng ấy, giai điệu thật là đẹp ấy chỉ có ở Tuấn Khanh, không lẫn vào đâu được. (Tôi nhớ, lần đầu nghe “Nỗi niềm” qua giọng Ngọc Minh, người bạn hỏi, “Nghe được chứ?” Tôi nói, “Rằng hay thì có hay, nhưng mà nghe có vẻ…‘Tuấn Khanh’ quá.” “Thì Tuấn Khanh chứ còn ai nữa!” người bạn nói. Tôi có hơi bất ngờ, vì không nghĩ ông vẫn còn… viết nhạc). Tôi cũng yêu “Đêm này nghỉ đỡ chân”, yêu chút hạnh phúc đơn sơ trong bài tango hiếm hoi ấy của ông. Ai cũng từng có một “đêm này nghỉ đỡ chân” như thế, ai cũng từng có những thoáng hạnh phúc thật đơn sơ như thế, ai cũng từng có chút vấn vương về một bóng hình nào đó đã tạt ngang qua đời mình.

 Nói như thế cũng để thấy rằng, mỗi người có thể yêu thích những bài nhạc khác nhau của Tuấn Khanh, mỗi người đều tìm thấy một bài nào mình yêu thích, hay giữ trong lòng mình kỷ niệm nào về một bài hát nào của Tuấn Khanh.

 Như các bài nhạc làm nên tên tuổi một nhạc sĩ, một ca sĩ, mỗi bài nhạc của Tuấn Khanh cũng phù hợp hoặc gắn liền với giọng hát nào đó. “Hoa soan bên thềm cũ” nghe được vào “thuở ban đầu” qua hai tiếng hát quấn quýt Thái Thanh và Thái Hằng (hát duo) của Ban hợp ca Thăng Long, để từ đó trở nên một trong những ca khúc phổ biến nhất, được yêu cầu nhiều nhất trên các làn sóng đài phát thanh, các chương trình đại nhạc hội, các phòng trà ca nhạc. “Dưới giàn hoa cũ” và “Chiếc lá cuối cùng” được giọng hát… đầu tiên là Thái Thanh gửi đến giới yêu nhạc (Sĩ Phú và Lệ Thu được xem là hai giọng hát gắn liền với “Chiếc lá cuối cùng” về sau này). “Một chiều đông” được yêu thích qua các giọng hát Sĩ Phú, Duy Trác, Mai Hương. “Mộng đêm xuân” được yêu thích với giọng Duy Trác và Sĩ Phú. “Gọi buồn” với giọng Sĩ Phú. “Chiều biên khu” với giọng Lệ Thanh, Thái Thanh, Nhật Trường. “Quán nửa khuya” với giọng Thanh Thúy, Duy Khánh. “Từ đó khôn nguôi” với giọng Quỳnh Giao. “Những lời ru cuối” với giọng Hoàng Oanh, Quỳnh Giao. “Chúng mình đẹp đôi” với giọng Nhật Trường…

 Có thể nói được rằng không có ca sĩ tên tuổi nào của miền Nam ngày trước mà không từng hát bài nào đó của Tuấn Khanh.

 Tất nhiên, ca sĩ đầu tiên thể hiện mọi ca khúc của Tuấn Khanh vẫn là… Trần Ngọc (một tên gọi khác của nhạc sĩ Tuấn Khanh). Ít ai biết tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” từng chiếm giải “thủ khoa” trong cuộc thi “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Hà Nội năm 1953. “Thí sinh” Trần Ngọc, 21 tuổi vào thuở ấy, hát bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích, và “thí sinh” Thanh Hằng, người đoạt giải nhì, hát bài “Đêm xuân” của Phạm Duy. (“Thí sinh” đoạt giải nhất trong cuộc thi tổ chức năm sau, 1954, là Duy Trác). Cánh “chim giang hồ” Trần Ngọc đã bay một vòng bay quá dài trước khi quay về lại chốn cũ (Hà Nội, 2007) để có cuộc hội ngộ kỳ thú, dạt dào cảm xúc với “cố nhân” Thanh Hằng, và cùng ngồi nhắc chuyện xưa sau khi chiếc bánh xe nặng nề của thời gian đã lăn đi một vòng hơn năm mươi năm. Những người yêu nhạc cuối thập niên 50’s và thập niên 60’s hẳn còn nhớ tới ba viên “ngọc” quý của làng ca nhạc thuở ấy là Anh Ngọc, Ngọc Long và Trần Ngọc, trong đó giọng hát trầm ấm của Trần Ngọc (trong các ban nhạc tên tuổi của đài phát thanh Saigon và Quân Đội) từng cất lên các bài hát quen thuộc như “Trở về thôn cũ” (Nhị Hà), “Cánh hoa duyên kiếp” (Đoàn Chuẩn), “Mơ hoa” (Hoàng Giác), “Người về” (Phạm Duy)…. Chương trình “Nhạc chủ đề” về tiếng hát Trần Ngọc của đài phát thanh Saigon do nhà văn Đào Trường Phúc thực hiện vào giữa năm 1970 đã đánh dấu ngày tiếng hát ấy lặng lẽ rời bỏ sự nghiệp ca hát của mình. Gần đây, rất tình cờ tôi được nghe lại giọng hát “vang bóng một thời” ấy qua bài “Nợ nhau một chút giận hờn” (một trong những sáng tác của ông về sau này). Giọng hát “ngẫu hứng” nhưng vẫn nghe nhiều rung cảm, vẫn nghe phảng phất chút dư âm của một mùa kỷ niệm.

 Cũng ít ai biết, sáng tác đầu tay của Tuấn Khanh là một bài phổ thơ T.T.KH, “Hai sắc hoa Ti-gôn”, cho thấy ở nơi ông, nơi chàng trai 16 tuổi ngày ấy, một tâm hồn yêu thi ca. Có thể kể ra được những bài phổ thơ của ông được yêu chuộng về sau này như “Tôi mở vòng tay” (thơ Tuệ Mai), “Những lời ru cuối” (phổ từ bài “Ru” của Nguyễn Đình Toàn)…, và gần đây nhất, “Chọn màu áo” (thơ Nhất Tuấn), “Chiều thứ Bảy xa rồi” (thơ Hồng Vũ Lan Nhi) và “Nợ nhau một chút giận hờn” (thơ Phạm Quang Vịnh). Cũng ít ai biết, ông còn viết lời cho nhạc phim nữa. “Lá thu” (nhạc Đức Hưng, lời Tuấn Khanh), sau đổi tên thành “Mưa lạnh hoàng hôn”, là bài nhạc chính trong phim Mưa Lạnh Hoàng Hôn (1961) của đạo diễn Nguyễn Long (vừa là diễn viên chính, diễn chung với Mai Ly). Bài hát được ca sĩ Mai Trường trình bày lần đầu và khá phổ biến với giọng hát Duy Trác về sau này.

 Điều ít ai ngờ được, vào đúng năm 70 tuổi, chỉ trong vòng một năm thôi (1983), ông đã đặt lời cho một trăm bài thánh ca, và phổ đến hơn năm mươi bài thiền ca. Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy, vào buổi hoàng hôn của đời người, đã chảy xuôi về dòng nhạc tâm linh? Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy đến nay vẫn dào dạt, vẫn còn sung mãn đến như thế? Chuyện thật nhưng lại như nhuốm một vẻ gì huyền nhiệm, khiến ngay đến chính ông cũng không sao giải thích được.

 Có lẽ vẫn còn quá sớm để nói được bài nhạc… cuối cùng của Tuấn Khanh là bài nào. Người ta khó mà biết được, hay chỉ biết được rằng, đấy là bài nhạc mà ông… chưa hề viết ra.

 

* * *

 

Trước năm 1975 chúng ta có “Hoa soan bên thềm cũ”, có “Chiếc lá cuối cùng”, có “Dưới giàn hoa cũ”, có “Mộng đêm xuân”, có “Một chiều đông”… của Tuấn Khanh. Sau năm 1975 chúng ta có “Nỗi niềm”, có “Nhạt nhòa”, có “Từ đó khôn nguôi”, có “Tháng Chín dòng sông”, có “Nợ nhau một chút giận hờn”… Nguồn nhạc hứng trong tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa hề vơi cạn. Trái tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa có lúc nào “già”, và vẫn như những phím đàn nhạy cảm, chỉ cần chạm nhẹ đến là đã rung lên những nốt nhạc thảng thốt. Có như thế hôm nay chúng ta mới có những “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… và mới nghe lòng rung động vì những khúc nhạc êm đềm, ngọt ngào như thanh âm tiếng vĩ cầm réo rắt của người nhạc sĩ ấy.

 Không có tuổi nào cho người viết nhạc tình, vì tình yêu làm gì có tuổi, và vì tuổi nào không là tuổi của tình yêu.

 “Chiếc vĩ cầm không có tuổi”, Tuấn Khanh, tôi muốn được gọi ông như thế. Chiếc vĩ cầm, nhạc cụ được ông yêu thích nhất, đã dẫn ông bước vào thế giới kỳ diệu và mê hoặc của âm thanh, dẫn ông bước vào cuộc hành trình âm nhạc dài đến hơn sáu mươi năm, kể từ bài học về âm nhạc đầu tiên ông học được từ người anh cả ở Hà Nội.

 Tuấn Khanh, ông đã viết nên những khúc nhạc tình ấy bằng những rung cảm thực sự của trái tim mình. Không yêu, không từng trải qua những hạnh phúc và khổ đau vì tình yêu thì không thể nào viết được những khúc nhạc, những câu hát cảm xúc tràn bờ đến như thế.

 Hạnh phúc trong nhạc Tuấn Khanh thật đơn sơ và êm đềm như một giấc mơ thanh bình, có “trăng soi đầy thềm”, có “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

 Tình yêu trong nhạc Tuấn Khanh thật dịu êm và phảng phất tựa hồ như “hương hoa soan dâng bên thềm, nhẹ nhàng nhưng ngất say”.

 Xao xuyến và bâng khuâng, dịu dàng mà tha thiết, nhẹ nhàng và lâng lâng như nhắp chút men say của tình yêu, như gối đầu lên những giấc mơ yên bình. Nét nhạc Tuấn Khanh là thế, tâm hồn Tuấn Khanh là vậy.

 Con người nghệ sĩ tài hoa ấy vẫn còn dạo lên những khúc nhạc êm đềm bằng thanh âm réo rắt, du dương từ chiếc vĩ cầm yêu quý của chàng để “đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn”. (*) 

lê hữu
(*) Thúy Đã Đi Rồi, nhạc Y Vân

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1148)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1207)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1897)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5929)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5913)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13247)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30181)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81281)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20293)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 76)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại