- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tuấn Khanh Và Giấc “ Mộng Đêm Xuân”

10 Tháng Hai 201012:00 SA(Xem: 111505)

Xuân vừa về trên bãi cỏ non…

 Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.
 Mùa xuân như đến gần thêm chút nữa khi ta nghe câu hát của Tuấn Khanh. 
 Em ơi xuân đến bên thềm rồi…  

 (Mùa Xuân Đầu Tiên)

 Mùa xuân đến thật gần. Mùa xuân đã đến bên thềm, mùa xuân đã đến bên em.

 Nghe câu hát, tưởng chừng nghe được cả tiếng bước mùa xuân, nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài lướt thướt của “nàng xuân” chạm vào những bậc thềm cửa, nghe được cả tiếng động nhè nhẹ trong câu lục bát Trần Dạ Từ, phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà.

 “Anh nằm nghe bước em lên

 Ngoài song lá động, trên thềm áo bay”

 (Khi Nàng Đến)

 Mùa xuân đến thật gần. Xuân của đất trời, xuân trong lòng người.

 

Nỗi buồn ướp men say

 

Nghe những bài nhạc Xuân quen thuộc của các nhạc sĩ quen tên, tôi nhận ra một điều, mỗi “nàng xuân” của mỗi chàng nhạc sĩ có một vẻ đẹp riêng, những nét quyến rũ riêng.

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh là “Xuân mộng”, dắt ta đi vào những giấc mộng êm đềm, đi vào những giấc mơ tràn đầy mùa xuân tình ái của lứa đôi.

 Nghe tiếng xuân về tim rộn rã

 cho ước mơ thành những vần thơ… (Mộng Đêm Xuân)

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh còn là mùa xuân tao ngộ, mùa xuân tương phùng sau những cách ngăn, chia lìa qua bao tháng năm dài biền biệt.

 Hết rồi mùa chia ly

 cho tình xuân vừa ý… (Mùa Xuân Đầu Tiên)

 Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh rất gần với mùa xuân của thi nhân.

 “Ai bảo em là giai nhân

 cho lệ tràn đêm xuân

 cho tình tràn trước ngõ

 cho mộng tràn gối chăn”

 Những “lệ tràn đêm xuân” và những giấc mộng vàng, mộng đẹp ấy không chỉ có trong những câu thơ Lưu Trọng Lư thôi mà ta còn nghe được cả trong những câu hát của Tuấn Khanh nữa.

 Mộng về một đêm xuân sang

 em thì thầm ngày đó thương anh…

 Mộng tràn ngập đêm trăng sao

 sao đầy trời từng chiếc lấp lánh… 

 Những câu hát ấy ở trong bài “Chiếc lá cuối cùng”, một trong những ca khúc gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được nhiều trung tâm băng, dĩa nhạc thu âm nhất và tất nhiên, được nhiều người yêu thích nhất.

 Tại sao lại là “chiếc lá cuối cùng”? Không rõ là cái tựa của bài hát ấy và câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ nổi tiếng O’Henry có mối liên hệ nào(?). Điểm tương đồng là cả bài hát lẫn câu chuyện đều buồn bã như nhau, và cả người họa sĩ trong câu chuyện ấy lẫn người nhạc sĩ trong bài hát ấy đều có những đêm thức trắng, những đêm dõi mắt trông chờ chiếc lá cuối cùng sẽ lặng lẽ lìa cành trong đêm lạnh vắng. Chiếc lá cuối cùng rụng xuống là thời khắc cô bé trong câu chuyện ấy sẽ phải từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, cũng là thời khắc hai kẻ yêu nhau trong bài hát ấy sẽ phải nói lời chia tay.

 Lá trên cành một chiếc cuối bay xa…

 Nghe “Chiếc lá cuối cùng”, ta nghe một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ.

 “Chiếc lá cuối cùng” là chuyện tình trái ngang, là mối duyên không thành, là tìm quên trong men rượu, là tiếc nhớ những ngày vui đã xa như dĩ vãng.

 Rồi một chiều xuân thơ trinh

 cho lòng mình về với dĩ vãng…

 “Chiếc lá cuối cùng” là nỗi đau tê dại của trái tim rạn vỡ, là nỗi sầu chìm ngập trong men rượu, là nỗi-buồn-ướp-men-say.

 Đã có bao nhiêu ca sĩ từng hát “Chiếc lá cuối cùng” kể từ khi bài hát ra đời (1962), kể từ khi người ta nghe Thái Thanh hát lên lần đầu tiên, tác giả bài hát không sao nhớ hết, không kể ra hết được. Gần đây nhất, các ca sĩ trẻ ở trong nước cũng đã tìm đến bài hát ấy, cũng đã cất giọng “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?...” Bài hát có một đời sống thật là dài và vẫn luôn “mới”, luôn làm rung động những trái tim.

 Đã có bao nhiêu là giai thoại về những người yêu “Chiếc lá cuối cùng”, như một nhạc sĩ Tuấn Khanh… khác ở trong nước đã đặt tựa cho một sáng tác của mình là… “Chiếc lá đầu tiên”, hay như một người làm thơ đã cảm tác “Chiếc lá cuối cùng” để sáng tác bài thơ dài đến hơn trăm câu, mỗi câu bắt đầu bằng một hoặc hai chữ của trọn bài hát ấy.

 . . . . .

 Mộng về dưới bóng hoàng lan

 một đêm trăng ngọt hương tràn môi xinh

 xuân sang thắm lối ân tình

 em duyên như nụ hoa quỳnh, trao nhau

 thì thầm tiếng nhớ ngàn sau…

 Đã có bao nhiêu người tìm gặp được mình, tìm gặp những nỗi niềm “trắng đêm tâm sự” của mình trong bài hát ấy. Bài hát, có phải vì lẽ ấy, đã ở lại về lâu về dài trong lòng người?

 Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

 Thật ít có ai sử dụng chữ “chở” tuyệt vời đến như thế!

 

 

 

 Trong những câu hát của Tuấn Khanh ta vẫn nhặt ra được những câu thơ đẹp như thế, những chữ và nghĩa hay đến như thế, như là những chữ “vội vã”, “len lén”, “quấn quýt”, “lẻ loi”…

 Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã

 Đêm đêm heo may len lén vào hồn tìm nhau

 Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

 cho đêm không mơ, cơn mơ lẻ loi

 Những câu hát ấy–hay những câu thơ ấy–ở trong bài “Nỗi niềm” của nhạc sĩ Tuấn Khanh. 

 Từng ngày trôi qua tim em héo úa...

 “Nỗi niềm” là nỗi buồn héo hắt đến rã rượi.

 Những lời tình ta nghe được trong bài hát ấy như là tiếng thở dài não nuột của một người yêu. Nói “như là” vì lẽ, những lời ấy là “nỗi niềm” tâm sự của người vợ hiền, là nỗi lòng cô phụ những đêm dài trằn trọc, những đêm vò võ một mình một bóng, sau phút chia tay vội vã, tiễn chồng và các con lên đường… vượt biên.

 Nên em cô đơn những đêm về sáng…

 Anh ơi, đêm nay em nghe trống vắng buồn tênh…

 Nghe “Nỗi niềm” mà nghe lòng chùng xuống, mà nghe tim thắt lại.

 “Nỗi niềm”, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, là “Hoa soan bên thềm cũ” nối dài. Những lời thơ ý nhạc gửi gấm trong hai ca khúc ấy đều như lời hẹn ước gửi đến người bạn đời đầu gối tay ấp của ông.

 Em nhé, mình thương nhau muôn đời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

 “Nỗi niềm”, trong một nghĩa nào đó, cũng là “Chiếc lá cuối cùng” nối dài. Cũng là nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ, cũng là giai điệu chầm chậm, buồn buồn đến rã rời ấy. Có khác chăng, nỗi cách chia người yêu đổi thành nỗi chia lìa chồng vợ.

 

“Giàn hoa tím xưa chưa phai”

 

Dường như trong mỗi nhạc sĩ của chúng ta đều có ít nhiều một chàng thi sĩ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được những câu hát thật là thơ, thật là đẹp.

 Tôi vào vườn xưa

 gặp em tóc buông vai gầy

 thẹn thùng nhìn tôi ngỡ trong giấc mơ…

 Nghe những câu hát như thế, ta nghe được cả những ý thơ.

 Câu hát ấy ở trong bài nhạc có một mầu tím vấn vương của Tuấn Khanh, “Dưới giàn hoa cũ”, được ông sáng tác cách đây đúng năm mươi năm. Nghe lại bài hát ấy, sau nửa thế kỷ, sau bao vật đổi sao dời, vẫn nghe lòng lâng lâng như “ngỡ trong giấc mơ”, vẫn nghe một nỗi xao xuyến, bâng khuâng như “thuở ban đầu” của bài hát, như mối tình đầu thường khó phai.

 Nỗi xao xuyến, bâng khuâng ấy bàng bạc hầu hết trong các bài hát, trong từng lời ca ý nhạc của Tuấn Khanh.

 Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về

 thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai…

 Bài hát như mẩu tự truyện của người nghệ sĩ ấy. Dường như mỗi bài nhạc của ông là mỗi câu chuyện kể, là câu chuyện thật; nói đúng hơn, là câu chuyện tình.

 Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm

 thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên

 Hẹn tôi, “Đến một mùa se thắm duyên lành,

 ngắt bông hoa tím trên cành trao anh.”

 Những chuyện tình ấy thường dẫn đến một kết thúc “êm đềm”.

 Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm

 vầng trăng thu soi mắt em long lanh…

 Nếu ở Hoàng Trọng là “Trời buồn đem mây tím về chơi vơi…” (Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím), ở Nguyễn Hiền là Nhớ nhau khi mây vương vương màu tím…” (Ngàn Năm Mây Bay) thì ở Tuấn Khanh là…

 Những chiều buồn mây tím xây thành

 có thương hoa thắm mong chờ không anh? 

 Cũng là mầu mây tím, cũng là một mầu tím vời vợi, cũng là những nét nhạc lâng lâng, êm êm nhưng là những dòng nhạc không lẫn vào nhau được. Nét nhạc Hoàng Trọng nghe man mác như ngọn gió heo may lay động mặt nước hồ thu, nét nhạc Nguyễn Hiền nghe mênh mang, đẹp và buồn như bức tranh thủy mạc, trong lúc nét nhạc Tuấn Khanh nghe xao xuyến, bâng khuâng, và có thoáng e ấp, ngại ngùng như “nụ hoa vừa hé”, như “đôi môi xinh” của “người em nhỏ bé mộng mơ” (Mùa Xuân Đầu Tiên).

 “E ấp, ngại ngùng” nên chàng trai chỉ “thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai”, cô gái chỉ thầm hỏi “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?” Trong những câu hát của Tuấn Khanh, ta vẫn nghe được những lời tỏ tình thầm kín như thế, những lời tỏ bày nhiều ẩn dụ và chan chứa những tình ý yêu đương như thế.

 Chàng nhạc sĩ ấy không nói “Có thương người em nhỏ đợi chờ?” như ta vẫn thường nghe, thường gặp, mà nói… “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?”

 Chàng nhạc sĩ ấy cũng không nói “hương sắc phai tàn”, hay “tình yêu nhạt phai”, hay “lòng thủy chung qua bao tháng đợi năm chờ” mà nói… “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

 Tình yêu ấy thật nhẹ nhàng, thật tha thiết và đẹp như những cánh hoa mầu tím mỏng manh, lay động trong nắng sớm, trong gió chiều. Mầu hoa tím bâng khuâng và luôn có chút vấn vương.

 Hoa nào đợi chờ không phai sắc hương

 Ngày tàn không gieo nhớ thương

 Dặm trường không gây vấn vương

 

 

   

 Mầu tím, mầu của định mệnh. Bài hát ấy đã như một định mệnh.

 Đời tôi đã nhiều lần vui bước phong trần

 gió lùa xao xuyến tim đơn chiếc thân…

 Câu hát ấy,” nhạc sĩ Tuấn Khanh nói, “đã ‘ứng nghiệm’ vào tôi.” Chàng nghệ sĩ ấy, con người lãng tử ấy đã sống kiếp nổi trôi lang bạt kỳ hồ, kể từ ngày đơn thân độc mã khoác cây đàn lên vai, một mình vượt tuyến vào Nam năm 22 tuổi, hành trang chỉ vài bộ quần áo, vài tập sách nhạc và… chiếc đàn vĩ cầm không lúc nào rời chàng.

 “Hoa soan bên thềm cũ”, ra đời ít năm trước “Dưới giàn hoa cũ”, cũng là câu chuyện kể, là câu chuyện tình mùa ly loạn mà giới yêu nhạc cuối thập niên 50’s và đầu thập niên 60’s hầu như không ai lại không biết đến. Như bao lớp trai theo nhau lên đường, chàng trai phải giã biệt làng quê, giã biệt tình đầu vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi. Người đi nói với người ở lại những lời nhắn nhủ, vỗ về thiết tha, ân cần.

 Đừng buồn khi xa nhau em nhé,

 thăm em đôi ngày rồi anh đi… 

 Người lính chiến dừng chân phút giây thôi, rồi lại lên đường, rồi lại miệt mài đi khi quê hường còn tiếng súng.

 Chuyện tình mùa chinh chiến mang nhiều nỗi vấn vương “như hương hoa soan dâng bên thềm” trong buổi chiều vàng. Người lính chiến luôn giữ chắc tay súng, không chỉ “giữ gìn biên cương xa vời” mà còn giữ gìn cho tình yêu bền chặt, không nhạt phai theo tháng năm..

 Một chi tiết khá thú vị, trong lần ấn hành đầu tiên (nxb An Phú, 1956), một câu hát trong bản nhạc “Hoa soan bên thềm cũ” được in nhầm là “như hương hoa soan vang bên thềm”. Một số ca sĩ đã hát theo như thế (và nhiều ca sĩ đến nay vẫn hát như thế). Một số ca sĩ nhận ra chỗ sai ấy (“hương hoa” thì không thể “vang” được), bèn đổi chữ “vang” thành chữ “vàng” (vẫn cứ… sai, vì “hương hoa” thì không thể… xanh đỏ tím vàng được). Một số ca sĩ khác đổi lại là “như hương hoa soan vương bên thềm”, nghe hợp lý hơn, nhưng vẫn cứ… sai. Câu hát đúng, tác giả Tuấn Khanh cho biết, là “như hương hoa soan dâng bên thềm”.

 Chữ “vương” đã hay, chữ “dâng” lại hay hơn. Thật khó mà có thể nghĩ ra, tìm ra được chữ nào hay hơn thế.

 “Người kể chuyện mình”, có thể gọi nhạc sĩ Tuấn Khanh bằng cái tên ấy, qua những bài nhạc gắn liền với tên tuổi ông. Từ “Hoa soan bên thềm cũ” đến “Dưới giàn hoa cũ”, đến “Chiếc lá cuối cùng”, đến “Quán nửa khuya”, đến cả những bài nhạc về sau này như “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… Có khi chỉ nghe qua cái tựa của bài nhạc thôi, như “Hai kỷ niệm, một chuyến đi”, “Đêm này nghỉ đỡ chân”… người ta cũng hiểu được đấy là những câu chuyện buồn vui được ông kể lại bằng lời ca tiếng nhạc.

 Những câu chuyện kể trong nhạc Tuấn Khanh thường là “chuyện hai người”, thường là những lời tình thật tha thiết, thật dịu dàng “hai người” nói với nhau.

 Em nhé mình thương nhau muôn đời

 Anh giữ gìn biên cương xa vời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Nhìn nhau khẽ nói câu

 “Thời gian trôi qua mau

 không phai lạt đâu…”  (Một Chiều Đông) 

 Tuấn Khanh, ông đã phơi trải lòng mình qua những dòng kẻ nhạc, đã dẫn dắt người nghe đi vào những câu chuyện lòng qua những giai điệu đằm thắm, ngọt ngào.

 Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm

 lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui… (Chiều Biên Khu)

 Câu hát ấy rất gần với câu hát của Phạm Duy, một “người kể chuyện mình” khác, kể về những buồn vui đời lính bên bếp lửa hồng trong ngày trở về của người chiến binh.

 Ngày trở về, trong bếp vui

 anh nói chuyện nghe, chuyện đời chiến sĩ

 sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê… (Ngày Trở Về)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, người ta như nghe được những nỗi niềm và những rung cảm của trái tim ông. Chính từ những rung cảm của trái tim, chính từ những rung cảm chân thực ấy, những ca khúc của ông đã chạm được tới trái tim người nghe.

 

“Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt”

 

Những người yêu nét đẹp trong nhạc tiền chiến cũng sẽ dễ dàng yêu thích những khúc “nhạc tình muôn thuở” của Tuấn Khanh như là “dòng nhạc tiền chiến nối dài”. Một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc “lãng mạn tiền chiến”, nhạc sĩ Tô Vũ, cũng đã yêu những khúc nhạc tình ấy. Tác giả “Em đến thăm anh một chiều mưa” đã tìm đến ông như tìm đến mối đồng cảm trong nhạc Việt, như tìm đến mối duyên tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng điệu.

 Sao gọi là “đồng điệu”? Hai chàng nghệ sĩ cùng chia sẻ mối đồng cảm về tính thẩm mỹ trong âm nhạc và nghệ thuật. Hai chàng nghệ sĩ cùng “kể chuyện mình” bằng những giai điệu lâng lâng như ướp chút men say của tình yêu, và bằng những lời nhạc đẹp như lời thơ.

 Ở Tuấn Khanh là:

 Chiều nay buồn tôi đi tìm ý… (Mộng Đêm Xuân)

 Ở Tô Vũ là:

 Ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

 Ở Tuấn Khanh là:

 Đồi núi chiều nay mây vương ngợp trời… (Buồn Đêm Vắng)

 Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Ở Tô Vũ là:

 Ta ước mơ một chiều thêu nắng

 em đến chơi quên niềm cay đắng

 và quên đường về… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 (“Chiều thêu nắng”, trước Tô Vũ, tôi chưa hề nghe nhà thơ nào nói như thế. Chỉ có những “chiều vương nắng”, “chiều buông nắng”..., hoặc “đất thêu nắng” trong câu thơ Huy Cận.

 “Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng

 Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu” / Đi Giữa Đường Thơm)

 Ở Tô Vũ là kỷ niệm êm đềm về một đôi mắt, một tà áo:

 Em đến thăm anh người em gái,

 tà áo hương nồng

 mắt huyền trìu mến

 sưởi ấm lòng anh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 Ở Tuấn Khanh cũng có một đôi mắt như thế:

 Vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

 Tại mình còn yêu, tại mình còn thương đôi mắt lạ thường… (Nhạt Nhòa)

 Và một tà áo như thế:

 Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo… (Từ Đó Khôn Nguôi)

 Ở Tô Vũ cũng có một người “bồi hồi” đứng nhìn theo như thế:

 Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 Trong câu hát của Tuấn Khanh có chữ “dâng” thật là đẹp:

 Nay qua đau thương yên bình rồi

 tình ta lên hương ngát

 như hương hoa soan dâng bên thềm… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 Trong câu hát của Tô Vũ cũng có chữ “dâng” thật là đẹp:

 Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh,

 gió dâng khúc đàn thanh bình

 ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

 Cả hai chàng nhạc sĩ đều là “người kể chuyện mình”. Ở Tuấn Khanh là:

 Có một lần tôi về qua nơi đó

 Tiếng chuông chùa ngân báo tin đêm về… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

 Ở Tô Vũ là:

 Em đến thăm anh một chiều mưa,

 mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

 

 

 

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe những thoáng rung động nhẹ nhàng, những xao xuyến, bâng khuâng về một câu chuyện kể, về một bóng hình nào đã đi qua đời mình, để lại những dấu ấn khó phai. Nghe nhạc Tuấn Khanh là lần theo những lối mòn kỷ niệm, là tìm về những phút giây êm đềm, có khi là cuộc hạnh ngộ kỳ thú, có khi chỉ là cuộc gặp gỡ tình cờ trong một chuyến đi, một đêm nào “nghỉ đỡ chân”.

 Cơm sắn canh rau

 bên hàng cau xanh ba mái đầu

 Mẹ thầm nói câu

 “Chiều nay có con ta thấy vui,

 ngày mai đơn người quá”… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta gặp lại những mùa thu “mây tím xây thành”, những buổi chiều vàng “khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi”, và cả những lời hẹn thề dưới bầu trời lấp lánh sao đêm.

 Rồi mai anh đưa em về nơi vui ấm êm

 trăng soi đầy thềm

 Nhìn nhau khẽ nói câu

 “Thời gian trôi qua mau

 không phai lạt đâu” (Một Chiều Đông)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe lại những nét nhạc lâng lâng “tiền chiến”, những mối tình như gió thoảng, những nhớ nhung và mộng mơ, những khung trời đầy trăng và sao.

 Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm 

 vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

 Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta còn nghe thấy những cuộc chia tay buồn bã, ngậm ngùi, nghe thấy những hối tiếc vì những lời chưa kịp nói hay chưa nói hết, và không làm sao trút cho cạn, dốc cho vơi những nỗi niềm.

 Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi… (Từ Đó Khôn Nguôi)

 

 Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã… 

 Đêm em xa anh em chưa kịp nói… (Nỗi Niềm)

 

 Đêm chia ly nghẹn ngào sao chẳng nói

 chỉ nghe tim nức nở trở về thôi (Chiếc Lá Cuối Cùng)

 Những cuộc chia tay nhạt nhòa nước mắt. Những giọt lệ long lanh như là “từng hạt sương khuya hoen đôi mắt biếc”, và lặng thầm như những giọt sương đêm chảy ràn rụa trên những ô kính ngoài khung cửa nhỏ.

 Đôi môi run run lệ tuôn khóe mắt 

 Ngỡ đã xa nhau nên khóc một lần từ giã… (Nỗi Niềm)

 

 Từ biệt người yêu muốn nói thật nhiều

 muốn khóc một chiều sao cứ ngại ngùng… 

 Lệ bỗng rưng rưng

 Tình nỡ quay lưng trong chiều hấp hối… (Nhạt Nhòa)

 Thật may một điều là, những câu chuyện tình của ông sau cùng vẫn có một kết thúc tròn đầy, vẫn có những phút giây trùng phùng như người lính trở về sau chiến tranh, để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc “mộng đêm xuân”.

 Nay qua đau thương yên bình rồi

 tình ta lên hương ngát… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

 

 Ngày nào trăng khuyết nay lại tròn tươi nét môi

 ai ngờ chiều nay chúng mình đẹp đôi… (Chúng Mình Đẹp Đôi)

 

 Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

 xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

 

Chiếc vĩ cầm không có tuổi

 

“Những bài nào được anh yêu thích nhất trong số các nhạc phẩm của Tuấn Khanh?” tôi nhớ đã hỏi ông câu ấy. Thường thì với câu hỏi như thế, các nhạc sĩ ít khi trả lời thẳng hoặc chỉ trả lời xuôi theo… ý thích của số đông người yêu nhạc mình. Tuấn Khanh thì khác, sau vài giây nghĩ ngợi, ông nhắc đến hai bài “Mộng đêm xuân” và “Một chiều đông”, và nói ông yêu nét lãng mạn, thi vị trong những bài ấy. “‘Hoa soan bên thềm cũ’ và ‘Chiếc lá cuối cùng’,” ông nói, “là hai bài hát của kỷ niệm”. “Kỷ niệm khó quên?” tôi hỏi. Ông lắc đầu, “Không phải ‘khó quên’, mà… chẳng bao giờ quên được.” 

 Quay sang tôi, ông hỏi tôi… thích bài nào của Tuấn Khanh. “Dưới giàn hoa cũ,” tôi nói, không chút do dự. Ông hỏi vì sao, tôi trả lời, “Bài nhạc ấy nghe… ‘Tuấn Khanh’ hơn cả.” Những câu hát đẹp như thơ ấy, những nét nhạc lâng lâng ấy, đã gieo vào lòng tôi những tình cảm thật xao xuyến, thật êm đềm. Hơn thế nữa, câu chuyện trong bài hát ấy có một kết thúc thật đẹp, thật “happy ending”, nghĩa là rất… “Tuấn Khanh”. (Một lý do khác có chút riêng tư, người tôi yêu ngày xưa đã… yêu bài hát ấy, đã yêu câu hát ấy, “Những chiều buồn mây tím xây thành…”). “Dưới giàn hoa cũ”, bài hát đã đưa tôi lại gần với dòng nhạc Tuấn Khanh. Nét nhạc lâng lâng ấy, giai điệu thật là đẹp ấy chỉ có ở Tuấn Khanh, không lẫn vào đâu được. (Tôi nhớ, lần đầu nghe “Nỗi niềm” qua giọng Ngọc Minh, người bạn hỏi, “Nghe được chứ?” Tôi nói, “Rằng hay thì có hay, nhưng mà nghe có vẻ…‘Tuấn Khanh’ quá.” “Thì Tuấn Khanh chứ còn ai nữa!” người bạn nói. Tôi có hơi bất ngờ, vì không nghĩ ông vẫn còn… viết nhạc). Tôi cũng yêu “Đêm này nghỉ đỡ chân”, yêu chút hạnh phúc đơn sơ trong bài tango hiếm hoi ấy của ông. Ai cũng từng có một “đêm này nghỉ đỡ chân” như thế, ai cũng từng có những thoáng hạnh phúc thật đơn sơ như thế, ai cũng từng có chút vấn vương về một bóng hình nào đó đã tạt ngang qua đời mình.

 Nói như thế cũng để thấy rằng, mỗi người có thể yêu thích những bài nhạc khác nhau của Tuấn Khanh, mỗi người đều tìm thấy một bài nào mình yêu thích, hay giữ trong lòng mình kỷ niệm nào về một bài hát nào của Tuấn Khanh.

 Như các bài nhạc làm nên tên tuổi một nhạc sĩ, một ca sĩ, mỗi bài nhạc của Tuấn Khanh cũng phù hợp hoặc gắn liền với giọng hát nào đó. “Hoa soan bên thềm cũ” nghe được vào “thuở ban đầu” qua hai tiếng hát quấn quýt Thái Thanh và Thái Hằng (hát duo) của Ban hợp ca Thăng Long, để từ đó trở nên một trong những ca khúc phổ biến nhất, được yêu cầu nhiều nhất trên các làn sóng đài phát thanh, các chương trình đại nhạc hội, các phòng trà ca nhạc. “Dưới giàn hoa cũ” và “Chiếc lá cuối cùng” được giọng hát… đầu tiên là Thái Thanh gửi đến giới yêu nhạc (Sĩ Phú và Lệ Thu được xem là hai giọng hát gắn liền với “Chiếc lá cuối cùng” về sau này). “Một chiều đông” được yêu thích qua các giọng hát Sĩ Phú, Duy Trác, Mai Hương. “Mộng đêm xuân” được yêu thích với giọng Duy Trác và Sĩ Phú. “Gọi buồn” với giọng Sĩ Phú. “Chiều biên khu” với giọng Lệ Thanh, Thái Thanh, Nhật Trường. “Quán nửa khuya” với giọng Thanh Thúy, Duy Khánh. “Từ đó khôn nguôi” với giọng Quỳnh Giao. “Những lời ru cuối” với giọng Hoàng Oanh, Quỳnh Giao. “Chúng mình đẹp đôi” với giọng Nhật Trường…

 Có thể nói được rằng không có ca sĩ tên tuổi nào của miền Nam ngày trước mà không từng hát bài nào đó của Tuấn Khanh.

 Tất nhiên, ca sĩ đầu tiên thể hiện mọi ca khúc của Tuấn Khanh vẫn là… Trần Ngọc (một tên gọi khác của nhạc sĩ Tuấn Khanh). Ít ai biết tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” từng chiếm giải “thủ khoa” trong cuộc thi “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Hà Nội năm 1953. “Thí sinh” Trần Ngọc, 21 tuổi vào thuở ấy, hát bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích, và “thí sinh” Thanh Hằng, người đoạt giải nhì, hát bài “Đêm xuân” của Phạm Duy. (“Thí sinh” đoạt giải nhất trong cuộc thi tổ chức năm sau, 1954, là Duy Trác). Cánh “chim giang hồ” Trần Ngọc đã bay một vòng bay quá dài trước khi quay về lại chốn cũ (Hà Nội, 2007) để có cuộc hội ngộ kỳ thú, dạt dào cảm xúc với “cố nhân” Thanh Hằng, và cùng ngồi nhắc chuyện xưa sau khi chiếc bánh xe nặng nề của thời gian đã lăn đi một vòng hơn năm mươi năm. Những người yêu nhạc cuối thập niên 50’s và thập niên 60’s hẳn còn nhớ tới ba viên “ngọc” quý của làng ca nhạc thuở ấy là Anh Ngọc, Ngọc Long và Trần Ngọc, trong đó giọng hát trầm ấm của Trần Ngọc (trong các ban nhạc tên tuổi của đài phát thanh Saigon và Quân Đội) từng cất lên các bài hát quen thuộc như “Trở về thôn cũ” (Nhị Hà), “Cánh hoa duyên kiếp” (Đoàn Chuẩn), “Mơ hoa” (Hoàng Giác), “Người về” (Phạm Duy)…. Chương trình “Nhạc chủ đề” về tiếng hát Trần Ngọc của đài phát thanh Saigon do nhà văn Đào Trường Phúc thực hiện vào giữa năm 1970 đã đánh dấu ngày tiếng hát ấy lặng lẽ rời bỏ sự nghiệp ca hát của mình. Gần đây, rất tình cờ tôi được nghe lại giọng hát “vang bóng một thời” ấy qua bài “Nợ nhau một chút giận hờn” (một trong những sáng tác của ông về sau này). Giọng hát “ngẫu hứng” nhưng vẫn nghe nhiều rung cảm, vẫn nghe phảng phất chút dư âm của một mùa kỷ niệm.

 Cũng ít ai biết, sáng tác đầu tay của Tuấn Khanh là một bài phổ thơ T.T.KH, “Hai sắc hoa Ti-gôn”, cho thấy ở nơi ông, nơi chàng trai 16 tuổi ngày ấy, một tâm hồn yêu thi ca. Có thể kể ra được những bài phổ thơ của ông được yêu chuộng về sau này như “Tôi mở vòng tay” (thơ Tuệ Mai), “Những lời ru cuối” (phổ từ bài “Ru” của Nguyễn Đình Toàn)…, và gần đây nhất, “Chọn màu áo” (thơ Nhất Tuấn), “Chiều thứ Bảy xa rồi” (thơ Hồng Vũ Lan Nhi) và “Nợ nhau một chút giận hờn” (thơ Phạm Quang Vịnh). Cũng ít ai biết, ông còn viết lời cho nhạc phim nữa. “Lá thu” (nhạc Đức Hưng, lời Tuấn Khanh), sau đổi tên thành “Mưa lạnh hoàng hôn”, là bài nhạc chính trong phim Mưa Lạnh Hoàng Hôn (1961) của đạo diễn Nguyễn Long (vừa là diễn viên chính, diễn chung với Mai Ly). Bài hát được ca sĩ Mai Trường trình bày lần đầu và khá phổ biến với giọng hát Duy Trác về sau này.

 Điều ít ai ngờ được, vào đúng năm 70 tuổi, chỉ trong vòng một năm thôi (1983), ông đã đặt lời cho một trăm bài thánh ca, và phổ đến hơn năm mươi bài thiền ca. Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy, vào buổi hoàng hôn của đời người, đã chảy xuôi về dòng nhạc tâm linh? Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy đến nay vẫn dào dạt, vẫn còn sung mãn đến như thế? Chuyện thật nhưng lại như nhuốm một vẻ gì huyền nhiệm, khiến ngay đến chính ông cũng không sao giải thích được.

 Có lẽ vẫn còn quá sớm để nói được bài nhạc… cuối cùng của Tuấn Khanh là bài nào. Người ta khó mà biết được, hay chỉ biết được rằng, đấy là bài nhạc mà ông… chưa hề viết ra.

 

* * *

 

Trước năm 1975 chúng ta có “Hoa soan bên thềm cũ”, có “Chiếc lá cuối cùng”, có “Dưới giàn hoa cũ”, có “Mộng đêm xuân”, có “Một chiều đông”… của Tuấn Khanh. Sau năm 1975 chúng ta có “Nỗi niềm”, có “Nhạt nhòa”, có “Từ đó khôn nguôi”, có “Tháng Chín dòng sông”, có “Nợ nhau một chút giận hờn”… Nguồn nhạc hứng trong tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa hề vơi cạn. Trái tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa có lúc nào “già”, và vẫn như những phím đàn nhạy cảm, chỉ cần chạm nhẹ đến là đã rung lên những nốt nhạc thảng thốt. Có như thế hôm nay chúng ta mới có những “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… và mới nghe lòng rung động vì những khúc nhạc êm đềm, ngọt ngào như thanh âm tiếng vĩ cầm réo rắt của người nhạc sĩ ấy.

 Không có tuổi nào cho người viết nhạc tình, vì tình yêu làm gì có tuổi, và vì tuổi nào không là tuổi của tình yêu.

 “Chiếc vĩ cầm không có tuổi”, Tuấn Khanh, tôi muốn được gọi ông như thế. Chiếc vĩ cầm, nhạc cụ được ông yêu thích nhất, đã dẫn ông bước vào thế giới kỳ diệu và mê hoặc của âm thanh, dẫn ông bước vào cuộc hành trình âm nhạc dài đến hơn sáu mươi năm, kể từ bài học về âm nhạc đầu tiên ông học được từ người anh cả ở Hà Nội.

 Tuấn Khanh, ông đã viết nên những khúc nhạc tình ấy bằng những rung cảm thực sự của trái tim mình. Không yêu, không từng trải qua những hạnh phúc và khổ đau vì tình yêu thì không thể nào viết được những khúc nhạc, những câu hát cảm xúc tràn bờ đến như thế.

 Hạnh phúc trong nhạc Tuấn Khanh thật đơn sơ và êm đềm như một giấc mơ thanh bình, có “trăng soi đầy thềm”, có “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

 Tình yêu trong nhạc Tuấn Khanh thật dịu êm và phảng phất tựa hồ như “hương hoa soan dâng bên thềm, nhẹ nhàng nhưng ngất say”.

 Xao xuyến và bâng khuâng, dịu dàng mà tha thiết, nhẹ nhàng và lâng lâng như nhắp chút men say của tình yêu, như gối đầu lên những giấc mơ yên bình. Nét nhạc Tuấn Khanh là thế, tâm hồn Tuấn Khanh là vậy.

 Con người nghệ sĩ tài hoa ấy vẫn còn dạo lên những khúc nhạc êm đềm bằng thanh âm réo rắt, du dương từ chiếc vĩ cầm yêu quý của chàng để “đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn”. (*) 

lê hữu
(*) Thúy Đã Đi Rồi, nhạc Y Vân

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 277)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 279)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 319)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 328)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 560)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 572)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 313)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 547)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 621)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 437)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7001)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13938)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13380)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 274)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 279)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 319)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 557)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 313)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 615)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2679)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2831)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 547)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 664)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3470)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3868)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 328)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 436)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 596)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2842)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9626)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26069)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32422)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32743)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7365)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9784)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2435)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2478)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2510)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2855)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5040)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4352)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3979)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5090)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.