- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG GIỜ PHÚT BI TRÁNG BÊN LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ

27 Tháng Giêng 20253:16 SA(Xem: 16517)
NGUYEN THAI HOC

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

NHỮNG GIỜ PHÚT BI TRÁNG BÊN LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ

Truyện lịch sử

 

“Yen Bay, Quel est vocable qui rappelle qu’on ne bâillone pas un peuple qu’on ne le mate pas avec le sabre du bourreau - Yên Bái, đây là cái điều nhắc nhở ta rằng, không thể bịt miệng một dân tộc, mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ” (Louis Aragon).

 

 

Trong nhà khách của Đề lao Yên Bái, nhà báo Louis Roubaud đang lơ mơ với những mảnh của một giấc mộng khó hiểu bỗng choàng tỉnh giấc bởi tiếng nói, mệnh lệnh, tiếng búa nện bên ngoài. Mồ hôi toát đầy trán, ông giơ tay xem đồng hồ. Đã 4h. Nhà báo nhỏm dậy, vẫn nguyên quần áo ngủ, xách máy ảnh bước ra ngoài. Hai ngọn đèn pha đang chiếu sáng. Cách chỗ ông nghỉ 50m, một chiếc máy chém đang được dựng lên, xung quanh toàn lính khố xanh, khố đỏ, và các quan tài được xếp như quân cờ đô-mi-nô. Ông đếm nhẩm, rồi  bước tới gần một lính lê-dương.

- Sao xử chém 13 người mà lại có những 15 quan tài? (Tiếng Pháp)

       Lính lê-dương:

- Đề phòng có người xem sợ quá, vỡ tim mà chết tại chỗ! (Tiếng Pháp)

       Roubaud quay trở lại phòng khách. Ông ngồi thần người bên chiếc màn chưa kịp vén lên, có những con châu chấu bay vù vù đập vào màn, hoặc chạm vào chiếc bóng đèn điện đang sáng. Ông chăm chú ngắm nhìn sự tuyệt vọng của chúng như để mong phát hiện ra điều gì hệ trọng liên quan tới những gì ông sắp chứng kiến. Ấn tượng đêm qua trên chuyến tàu tử thần còn chấn động tâm hồn ông, có lẽ bắt đầu từ âm hưởng tiếng hát của đoàn tử tù vẳng ra từ đoàn tàu lắc lư xuyên đêm tối và trải dài trên mặt nước sông Hồng tối đen, lấp loáng ánh đèn tựa các vệt máu loang:

Ngàn lau vi vu ngàn lau vi vu

Hồn Việt Nam muôn đời! Hồn Việt Nam muôn đời, cất lên lời ca

Gian nan trải dài qua năm tháng

Qua bao thác ghềnh bão táp phong ba…

     Roubaud đeo các đồ nghề lỉnh kỉnh hớt hải chạy vào ga Hàng Cỏ đúng lúc 13 người tù đang bị điểm danh để lên một toa tàu đặc biệt, để sau đó lính tập, thông ngôn, cố đạo Pháp lên sau cùng. Viên mật thám nhìn thấy ông liền giơ ngón tay cái lên:

- Ô, ký giả Le Petit Parisien! Quả là ngài được đặc ân của Toàn quyền Paskier cho đi theo một cuộc xử tử những tên nổi loạn khét tiếng nhất, do một hội đồng Đề hình tầm thế kỷ kết án! (Tiếng Pháp).

     Roubaud lịch sự trả lời:

- Cảm ơn các ngài! Tuy nhiên, kèm theo đặc ân đó là một lời đe dọa ngầm: anh hãy dùng sự trung thực của một ngòi bút cho quyền lợi của những người cai trị tại xứ sở này! (Tiếng Pháp).

     Thấy ông định trèo lên toa đặc biệt, viên mật thám chỉ tay cho ông toa sang trọng dành cho cảnh binh, mật thám.

- Mời ông sang toa này! (Tiếng Pháp).

     Nhưng Roubaud nhảy lên toa các tử tù.

- Không, đó không phải là chỗ dành cho “các ngòi bút trung thực” như các ông nói! (Tiếng Pháp).

     Roubaud được chứng kiến toàn bộ những gì đã xảy ra trên toa tàu le lói ánh sáng Địa phủ vàng vọt  đó.

Khi những tử tù vừa dừng hát, thì liền rộ lên tiếng cười đùa náo động của tuổi trẻ. Linh mục Drouet lắc đầu thở dài:

- Còn hát, còn đùa vui được ư? Ôi, những linh hồn chưa biết sợ… (Tiếng Pháp).

     Viên thông ngôn định mở lời phiên dịch thì Phó Đức Chính gạt anh ta ra.

- Cái sợ lâu nay là thứ xa sỉ phẩm đối với chúng tôi, thưa ngài! (Tiếng Pháp).

     Linh mục Drouet làm dấu thánh:

- Lạy Chúa tôi! Thật tội nghiệp! (Tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính:

- E rằng người đáng tội nghiệp không phải là chúng tôi! Và chúng tôi chẳng có tội gì khiến ông phải rửa cả! (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học lừ mắt với Chính:

- Ông Cố Ân của nhà thờ Lớn Hà Nội cũng đi theo lần này là một vinh dự hiếm có đối với chúng ta đó! - Anh quay sang vị linh mục - Thưa ngài, tôi rất kính trọng ngài, nhà ngôn ngữ học đã biên soạn tự vị Phalangsa-Annam. Lần này hy vọng cũng là dịp để ngài sẽ nói với nhân dân nước ngài hiểu thêm về chúng tôi… (tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính cướp lời:

- …Rằng chúng tôi không phải là một tổ chức của đảng chuyên cướp bóc, khủng bố như các ngài vẫn tuyên truyền! (tiếng Pháp).

     Vị linh mục làm dấu Cha – Con - Thánh thần. Nguyễn Thái Học tiếp:

- Và trong cuốn tự vị sẽ tái bản của ngài, cần có thêm mục viết rõ về chúng tôi, là con em của một dân tộc anh hùng bị đày đọa trong tăm tối, có cơ quan ngôn luận là tờ báo Hồn Nước (L’Âme Nationale), với tôn chỉ hành động là cứu Tổ quốc tôi thoát khỏi ách áp bức của ngoại bang! (tiếng Pháp).

     Vị linh mục lấy khăn lau mồ hôi trán.

- Lạy Chúa nhân từ! (tiếng Pháp).

     Roubaud mở túi xách, lấy ra một tờ báo đưa cho linh mục xem.

- Đây, tôi mới sưu tầm được. Họ đúng là một tổ chức đáng kính trọng đó! Ngài toàn quyền Robin đã ví sức mạnh của người Pháp chẳng khác gì mãnh hổ vồ đàn ong trước họ (tiếng Pháp).

     Linh mục cầm tờ báo, sửa lại kính, chú mục đọc trong ánh đèn vàng khè đung đưa của bóng đèn nhỏ duy nhất trên toa tàu. Trên măng-sét tờ Hồn Nước ghi: “Cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng” với dòng phụ chú: “Hỡi đồng bào! Chúng ta sẽ mãi mãi bị khổ sở khi đất nước Việt Nam còn mang cùm chân của những người Pháp!

     Linh mục nói với Roubaud:

- Nếu như nước Pháp phải cảm ơn người La Mã đã đem lại văn minh cho dân tộc Gô-loa, thì họ cũng phải thừa nhận những điều tốt đẹp mà người Pháp đã làm cho Việt Nam, phải cảm ơn người Pháp chứ! Nhưng họ đã chống lại nước Pháp, họ là những kẻ có tội! Và họ phải hối hận! (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học nghe thấy thế liền bước sấn tới, cố ghìm phẫn nộ.

- Phải cảm ơn người Pháp ư? Chúng tôi phải cảm ơn kẻ đã đạp giày săng-đá vào bụng cô thợ 17 tuổi đến tàn phế, chỉ vì nghi ngờ cô ăn cắp một cuốn sợi nhỏ? Đã có hàng vạn người vô tội bị giết; bởi bom dội xuống làng, hoặc bởi chết đói chết khát do chính phủ Đông Pháp đã đốt mất nhà mất cửa - Anh nói với nhà báo Pháp - Chính ông đã kể lại trung thực những điều đó trên tờ báo của ông! (Tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính:

- Kẻ có tội là là thực dân Pháp! Còn chúng tôi không có tội. Đuổi Pháp về Pháp, cứu nước Nam chưa thành, đâu phải là tội? (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học:

- Và chúng tôi không có gì phải hối hận cả! - Anh cất giọng ngâm - Mourir pour sa partie/ C’est le sort le plus bau/Le plus digne d’envie… Chết cho Tổ quốc/ Hiến thân tuyệt vời/ Ước ao chính đáng nhất (Tiếng Pháp).

      Linh mục và Roubaud chỉ biết nhìn nhau, rồi nhún vai.

      Roubaud ngẩng tai lắng nghe không gian tràn ngập tiếng côn trùng, ễnh ương, thạch sùng, tắc kè, châu chấu như đang dạo bản hòa tấu thiên nhiên bi thảm… Lúc đó, tiếng kèn la-vầy bên trại lính bắt đầu nổi lên thúc dục. Ông đứng dậy, trút bỏ bộ đồ ngủ, mặc quần áo rất cẩn thận, rồi tắt đèn, bước ra ngoài.

       Ở trại lính, lính khố xanh khố đỏ đang xếp thành hình vuông quanh sân. Dân chúng đang lục tục kéo đến pháp trường mỗi lúc một đông.

       Còn trong đề lao Yên Bái, các tù nhân bị nhốt chung một gian nhà, vẫn bị xích.

       Tiếng kèn la-vầy như một tiếng gọi thức tỉnh tất cả tử tù. Mọi người ngơ ngác, ngái ngủ, bỗng choàng dậy. Nguyễn Thái Học vỗ nhẹ hai tay:

- Anh em ơi, tỉnh táo lên đi! Sắp tới lúc cho người Pháp xâm lược thêm lần nữa biết thế nào là người yêu nước Việt Nam!

       Phó Đức Chính che miệng ngáp, bảo:

- Anh Học ơi, cả đêm qua chúng ta có “bạn đồng hành” là cái máy chém ở toa tàu bên cạnh. Anh có dịp đọc sách báo nhiều chắc biết lai lịch của nó, kể cho anh em vui lên tý đi?

      Nguyễn Thái Học cười:

- Ồ, nó do kỹ sư Pháp Jô-jep Ghi-lôt-tin (J. Guilottine) sáng chế ra cuối thế kỷ trước, với thiện chí làm giảm bớt đau đớn cho tội nhân… Nhưng, sự thật thì nó trấn áp thần kinh người thực khủng khiếp!

       Phó Đức Chính nằn nì:

- Anh có thể miêu tả rõ hơn được không?

       Nguyễn Thái Học gật đầu:

- Thế này nhé: Tử tù phải nằm trên một tấm ván, cổ bị gông lại. Chỉ cần giật nút hãm là lưỡi dao rơi tự do phập xuống. Ai yếu bóng vía, chỉ trông hoặc nghe tiếng phập nhanh như thái chuối là đủ chết ngất…

       Phó Đức Chính giơ nắm tay lên:

- Thế thì, trong mọi cách hành hình, thì đây là cách hành hình tưởng “văn minh”, nhưng hóa ra lại man rợ nhất!

       Nghe tới đó, hai người tù liền nép mình trong góc, ngồi xổm và run bắn lên. Còn người tử tù tên là Ngô Văn Du ôm mặt khóc lóc thảm thiết. Chính nhìn Học như muốn hỏi nên xử lý thế nào. Học bước tới Du.

- Chúng ta là những kẻ thất bại nhưng không đớn hèn, các bạn! Đừng để bọn chúng khinh thường chúng ta!

       Du nói như sắp khóc:

- Nhưng đảng trưởng ơi, tôi còn có mẹ già và hai con gái nhỏ, tôi chưa muốn chết… Liệu họ có đưa đơn ân xá của tôi lên Chính phủ không anh?

       Nguyễn Thái Học chợt dấy niềm thương hại sâu sắc:

- Chắc có đấy, họ là quân xâm lược, nhưng cũng thuộc thế giới văn minh, họ sẽ làm theo thủ tục của tư pháp. Nhưng…

       Phó Đức Chính xấn tới.

- Anh thôi khóc lóc đi! Đừng làm nhục thanh danh người Việt Nam yêu nước làm cách mạng! - Quay sang hai người đang ngồi rúm ró - Các anh đứng thẳng lên đi! Ông Von-te chẳng đã bảo: Người ta có đứng thẳng lưng lên thì cũng đã gần mặt đất lắm rồi!

       Học kín đáo bấm tay Chính. Rồi nuốt nước mắt vào lòng, Học thì thầm song rõ ràng, rành mạch:

- Các anh ạ, tôi rất ân hận đã để chúng ta thất bại… Nhưng chúng ta chết đi, để cả thế giới biết cái tinh thần dân tộc này còn đang sống… Chúng ta chết, nhưng sẽ để lại cái gương hy sinh phấn đấu cho người sau nối bước! Các bạn ơi, chúng ta cùng đồng hành… Không thành công, thôi thì thành nhân vậy…

       Chính cũng chợt lén lau giọt lệ chợt ứa ra. Anh nắm chặt tay Học, thầm thì: “Cảm ơn anh… Cảm ơn…”

       Nguyễn Thái Học giật tay bạn ra:

- Chúng ta hãy cảm ơn những người đã chết, và những người còn sống đang tiếp tục sự nghiệp của chúng ta… Những đảng viên trung kiên của ta vẫn không ngừng hoạt động ở nhiều nơi…

       Phó Đức Chính:

- Còn nếu đại sự không thành, chết là vinh!

       Lúc đó, đao phủ Công dáng lùn tịt bước vào, đi cùng phụ tá, đến bên các tù nhân. Đến trước Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính thì Công dừng lại, quỳ phục xuống, khóc rưng rức. 

- Mong các ông xá tội cho… Các ông chết trẻ sẽ thiêng lắm… Tôi biết tôi trọng tội, nhưng vì miếng cơm manh áo phải làm theo phận sự. Xin các ông mở lượng hải hà khoan lượng…

       Nguyễn Thái Học bước tới đỡ Cai Công đứng dậy:

- Ông Cai Công ạ! Đừng biến mình thành cái máy bên máy chém. Giải nghệ đi, kẻo tội lỗi chất chồng tội lỗi, Diêm Vương cũng không chấp nhận ông đâu!

      Cai Công ấp úng nói: “Vâng”, và bước lùi ra. Công sứ Yên Bái Bottini bước vào, cùng thông ngôn. Viên Công sứ đọc bức điện văn bằng tiếng Pháp. Thông ngôn dịch: “Chính phủ Pháp đã bác tất cả những đơn xin ân xá đợt này!”

       Ngô Văn Du và hai người nghe thấy thế, đổ sụp người xuống. Du khóc rống lên, chắp tay van lạy, kêu xin. Công sứ nhún vai, rồi bệ vệ bước ra. Chính xông tới định giơ tay tát Du. Học giữ tay Chính lại, tiến tới Du, đỡ anh ta đứng lên, và nói bằng giọng cố ghìm bớt sự nghẹn ngào:

- Anh Du… Tôi thương các anh lắm… Tôi có nợ với các anh… Nhưng anh ơi, tất cả chúng ta còn mắc nợ với non sông này… Đứng lên anh! Số mệnh bắt chúng ta phải chết khi còn dở dang đại nghiệp… Nhưng số mệnh dân tộc này sẽ vẻ vang, bởi có máu của chúng ta…

       Du Lau nước mắt.

- Cảm ơn đảng trưởng… Hãy tha thứ cho sự yếu đuối thoáng qua của tôi…

       Hai người lính bưng hai cái tráp lớn sơn son đựng bao thuốc lá, mấy điếu xì gà, một chai rượu Rum, 13 cái ly. Người lính rót rượu Rum ra, đưa khay đến cho từng người, nhưng mọi người lắc đầu.

       Nguyễn Thái Học cầm các ly rượu lên đưa cho từng người.

- Đừng từ chối, các anh! Đây là chén rượu quan hà, chén rượu ly biệt! - Ông ngâm thơ Kiều - Tiễn đưa một chén quan hà

       Ngọc Tỉnh hồ hởi:

- Ồ, đảng trưởng nói chí phải! Nào, chúng ta uống cùng cụ Nguyễn Du thôi: Tiễn đưa một chén quan hà…

       Và Nguyễn Thái Học sau khi cụng ly, cạn chén, liền ung dung cầm lấy điếu xì gà, rồi ra hiệu cho tên lính châm thuốc cho.

       Đồng hồ Đề lao chỉ 5 giờ.

       Pháp trường là bãi cỏ lớn cách bãi lính tập 100m, trước khu nhà thờ, có hàng cây bàng và cây báng súng bao quanh. Đoạn đầu đài dựng trên bãi cỏ, vươn lên hai cột xám xịt. Hơn ba trăm cảnh binh, cảnh sát, mật thám và lê-dương đã giăng ra bảo vệ khu hành quyết tù nhân. Người dân kéo đến đã đông nghịt, lặng lẽ chen chân đứng quanh bãi cỏ pháp trường. Trên đoạn đường trải đá bên cạnh pháp trường là dăm bảy chiếc xe bò chờ sẵn để chở xác người đi chôn. Bãi bên, đã xếp những chiếc quan tài bằng mây.

       Nhà báo Roubaud bắt đầu quan sát căng thẳng. Phía núi xa, rạng đông đang xuất hiện bằng một vệt mây màu máu. Một toán người hình sillouett tối xẫm chuyển động trên nền trời ấy - đi đầu là Công sứ Bottini, đi sau là một tiểu đội lính lê-dương lực lưỡng cầm súng cắm lưỡi lê dẫn giải 13 người tử tù đi tới pháp trường. Nguyễn Thái Học vừa đi vừa lấy từ trong ngực ra lọn tóc của Cô Giang ngắm nghía giây lát, rồi lại cất kỹ chỗ cũ.

       Cai Công và trợ lý cũng đã bước tới pháp trường. Nhìn thấy một người tử tù mặt xám ngoét, run lẩy bẩy, Cai Công bước tới vỗ vai anh.

- Đừng sợ anh! Chẳng cảm thấy đau đớn gì đâu!

       Lần lượt 13 nghĩa sĩ lên đoạn đầu đài. Tất cả đều bình thản bước tới theo danh sách được gọi.

- Học sinh Nguyễn Như Liên!

- Thầy lang Bùi Tư Toàn!

- Lính pháo thủ Bùi Văn Chuẩn!

- Lính pháo thủ Nguyễn An!

- Lính cấp dưỡng Đào Văn Nhít!

- Lính pháo thủ Ngô Văn Du!

- Lính pháo thủ Nguyễn Văn Cửu!

- Lính pháo thủ Hà Văn lao!

- Lính pháo thủ Đỗ Văn Tứ!

- Lính pháo thủ Nguyễn Văn Thịnh!

- Cai pháo thủ Nguyễn Văn Tiềm!

- Tham tá Phó Đức Chính!

- Sinh viên Nguyễn Thái Học!

       Khi cố đạo Drouet đề nghị rửa tội cho từng người bước tới máy chém, tất cả đều lắc đầu khước từ. Ông ta tới Nguyễn Thái Học là người cuối cùng, chưa kịp mở lời đề nghị thì anh đã ngắt lời một cách đanh thép song lịch sự:

- Thưa ngài cố đạo! Mong ngài hãy rửa tội cho những người đã gây ra thảm cảnh đối với nhân dân tôi! (Tiếng Pháp).

       Đứng ở xa, vợ của đảng trưởng Nguyễn Thái Học là Nguyễn Thị Giang trong bộ ria mép, chiếc kính râm và quần áo cải trang, cô len tới gần. Cảnh binh ngăn đám đông đang xô tới, trong đó có Cô Giang là người dữ dội nhất. Hai tên cảnh bính xốc tay Cô Giang ra xa đám đông. Cô Giang cắn chặt răng lại, kìm nén nước mắt đang ứa ra. Hai chân cô cứ chực khụy xuống. Nhà báo Roubaud nhìn thấy Cô Giang, và chăm chú quan sát cô, vẻ thương cảm.

       Nguyễn Thái Học chứng kiến lần lượt từng người bước lên máy chém. Người nào đi qua, anh đều giơ hai nắm tay chụm lên cao để chào. Và tất cả mọi người đều gật đầu chào từ biệt anh, rồi cất to tiếng hô: “Việt Nam vạn tuế!”.

       Những tiếng hô “Việt Nam vạn tuế!” lần lượt vang lên, tới tường nhà thờ dội ra đường phố Yên Bái. Mỗi lần như thế, Nguyễn Thái Học đều mỉm cười sung sướng, tự hào. Phó Đức Chính là người thứ 12 lên đoạn đầu đài. Nguyễn Thái Học giơ tay chào lần cuối cùng. Phó Đức Chính hô: “Việt Nam vạn tuế!”

       Linh mục Drouet bước tới gần Chính:

- Cậu chết trẻ vậy, có ân hận gì không? (Tiếng Pháp)

       Phó Đức Chính:

- Ở đời, mong làm lấy một việc lớn mà việc ấy không thành thì chết có gì ân hận? (Tiếng Pháp) - Rồi anh nói lớn - Hãy cho ta nằm ngửa để nhìn lưỡi máy chém của Ghi-lôt-tin!

       Nhiều người ngoảnh mặt đi không dám ngó. Nhiều người lấy khăn lén lau nước mắt. Linh mục Drouet làm dấu thánh, thì thào:

- Anh ta mới ngoài hai mươi tuổi… Thực ghê gớm! (Tiếng Pháp)

       Nhà báo Roubaud gật đầu đồng tình, rồi lấy khăn mù xoa lau nước mắt. Máy ảnh bỏ thõng trước ngực, ông không hề chụp được một tấm hình nào từ đầu cuộc xử trảm, chỉ ngây người ra trước những tiếng hô “Việt Nam” và bộc lộ một cảm xúc đặc biệt...

       Từ đầu, Nguyễn Thái Học vẫn ngậm điếu xì gà to hút dở đã tắt. Khi gọi đến tên mình, anh phì điếu thuốc ra khỏi miệng, thong thả bước tới máy chém. Vừa đi, anh vừa dõng dạc đọc to câu thơ bằng tiếng Pháp: “Mourir pour sa patrie/ C’est le sort le plus beau/ La plus digne d’envie” (Chết cho đất nước của mình/ Là cái chết đẹp nhất/ Thanh thản tuyệt vời nhất). Và anh hô lớn: “Việt Nam vạn tuế!”

       Một tiếng “phập” cuối cùng của lưỡi dao máy chém.

       Cô Giang bất giác giơ hai bàn tay lên ôm mặt. Cô gần như ngã gục xuống đất, nếu như không có một người đàn ông kịp thời đỡ lấy cô. Phía dân chúng đứng xem bỗng vang lên tiếng hô ầm ầm: “Đả đảo thực dân Pháp dã man!”. Những tiếng phụ họa “đả đảo, đả đảo” ầm ầm, buộc đám cảnh binh phải dùng dùi cui tới tấp.

       Viên công sứ De Bottini giơ tay xem đồng hồ. 5 giờ 35 phút.

       Gần chục chiếc xe bò chở xác tù nhân lăn dọc theo đường bờ sông. Nguyễn Thị Giang vẫn phải đứng nhìn từ xa. Cho tới tận lúc này cô vẫn không thể rơi một giọt nước mắt nào trước những cái chết bi tráng của chồng và các chiến hữu.

       Hôm đó là ngày 17 tháng 6 năm 1930.

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5734)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 4631)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 5190)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 5617)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 5872)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 3143)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 6158)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 5856)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 4138)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 4320)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8873)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15809)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14823)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15180)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2421)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 3113)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4354)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5734)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3157)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4630)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4138)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4905)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3502)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3732)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3875)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4877)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2479)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 3065)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3143)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3663)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11734)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28124)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34517)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34594)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9259)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11520)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2421)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5734)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5201)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5253)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4576)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6534)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5772)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7600)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.