- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG GIỜ PHÚT BI TRÁNG BÊN LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ

27 Tháng Giêng 20253:16 SA(Xem: 17426)
NGUYEN THAI HOC

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

NHỮNG GIỜ PHÚT BI TRÁNG BÊN LƯỠI KIẾM CỦA ĐAO PHỦ

Truyện lịch sử

 

“Yen Bay, Quel est vocable qui rappelle qu’on ne bâillone pas un peuple qu’on ne le mate pas avec le sabre du bourreau - Yên Bái, đây là cái điều nhắc nhở ta rằng, không thể bịt miệng một dân tộc, mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ” (Louis Aragon).

 

 

Trong nhà khách của Đề lao Yên Bái, nhà báo Louis Roubaud đang lơ mơ với những mảnh của một giấc mộng khó hiểu bỗng choàng tỉnh giấc bởi tiếng nói, mệnh lệnh, tiếng búa nện bên ngoài. Mồ hôi toát đầy trán, ông giơ tay xem đồng hồ. Đã 4h. Nhà báo nhỏm dậy, vẫn nguyên quần áo ngủ, xách máy ảnh bước ra ngoài. Hai ngọn đèn pha đang chiếu sáng. Cách chỗ ông nghỉ 50m, một chiếc máy chém đang được dựng lên, xung quanh toàn lính khố xanh, khố đỏ, và các quan tài được xếp như quân cờ đô-mi-nô. Ông đếm nhẩm, rồi  bước tới gần một lính lê-dương.

- Sao xử chém 13 người mà lại có những 15 quan tài? (Tiếng Pháp)

       Lính lê-dương:

- Đề phòng có người xem sợ quá, vỡ tim mà chết tại chỗ! (Tiếng Pháp)

       Roubaud quay trở lại phòng khách. Ông ngồi thần người bên chiếc màn chưa kịp vén lên, có những con châu chấu bay vù vù đập vào màn, hoặc chạm vào chiếc bóng đèn điện đang sáng. Ông chăm chú ngắm nhìn sự tuyệt vọng của chúng như để mong phát hiện ra điều gì hệ trọng liên quan tới những gì ông sắp chứng kiến. Ấn tượng đêm qua trên chuyến tàu tử thần còn chấn động tâm hồn ông, có lẽ bắt đầu từ âm hưởng tiếng hát của đoàn tử tù vẳng ra từ đoàn tàu lắc lư xuyên đêm tối và trải dài trên mặt nước sông Hồng tối đen, lấp loáng ánh đèn tựa các vệt máu loang:

Ngàn lau vi vu ngàn lau vi vu

Hồn Việt Nam muôn đời! Hồn Việt Nam muôn đời, cất lên lời ca

Gian nan trải dài qua năm tháng

Qua bao thác ghềnh bão táp phong ba…

     Roubaud đeo các đồ nghề lỉnh kỉnh hớt hải chạy vào ga Hàng Cỏ đúng lúc 13 người tù đang bị điểm danh để lên một toa tàu đặc biệt, để sau đó lính tập, thông ngôn, cố đạo Pháp lên sau cùng. Viên mật thám nhìn thấy ông liền giơ ngón tay cái lên:

- Ô, ký giả Le Petit Parisien! Quả là ngài được đặc ân của Toàn quyền Paskier cho đi theo một cuộc xử tử những tên nổi loạn khét tiếng nhất, do một hội đồng Đề hình tầm thế kỷ kết án! (Tiếng Pháp).

     Roubaud lịch sự trả lời:

- Cảm ơn các ngài! Tuy nhiên, kèm theo đặc ân đó là một lời đe dọa ngầm: anh hãy dùng sự trung thực của một ngòi bút cho quyền lợi của những người cai trị tại xứ sở này! (Tiếng Pháp).

     Thấy ông định trèo lên toa đặc biệt, viên mật thám chỉ tay cho ông toa sang trọng dành cho cảnh binh, mật thám.

- Mời ông sang toa này! (Tiếng Pháp).

     Nhưng Roubaud nhảy lên toa các tử tù.

- Không, đó không phải là chỗ dành cho “các ngòi bút trung thực” như các ông nói! (Tiếng Pháp).

     Roubaud được chứng kiến toàn bộ những gì đã xảy ra trên toa tàu le lói ánh sáng Địa phủ vàng vọt  đó.

Khi những tử tù vừa dừng hát, thì liền rộ lên tiếng cười đùa náo động của tuổi trẻ. Linh mục Drouet lắc đầu thở dài:

- Còn hát, còn đùa vui được ư? Ôi, những linh hồn chưa biết sợ… (Tiếng Pháp).

     Viên thông ngôn định mở lời phiên dịch thì Phó Đức Chính gạt anh ta ra.

- Cái sợ lâu nay là thứ xa sỉ phẩm đối với chúng tôi, thưa ngài! (Tiếng Pháp).

     Linh mục Drouet làm dấu thánh:

- Lạy Chúa tôi! Thật tội nghiệp! (Tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính:

- E rằng người đáng tội nghiệp không phải là chúng tôi! Và chúng tôi chẳng có tội gì khiến ông phải rửa cả! (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học lừ mắt với Chính:

- Ông Cố Ân của nhà thờ Lớn Hà Nội cũng đi theo lần này là một vinh dự hiếm có đối với chúng ta đó! - Anh quay sang vị linh mục - Thưa ngài, tôi rất kính trọng ngài, nhà ngôn ngữ học đã biên soạn tự vị Phalangsa-Annam. Lần này hy vọng cũng là dịp để ngài sẽ nói với nhân dân nước ngài hiểu thêm về chúng tôi… (tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính cướp lời:

- …Rằng chúng tôi không phải là một tổ chức của đảng chuyên cướp bóc, khủng bố như các ngài vẫn tuyên truyền! (tiếng Pháp).

     Vị linh mục làm dấu Cha – Con - Thánh thần. Nguyễn Thái Học tiếp:

- Và trong cuốn tự vị sẽ tái bản của ngài, cần có thêm mục viết rõ về chúng tôi, là con em của một dân tộc anh hùng bị đày đọa trong tăm tối, có cơ quan ngôn luận là tờ báo Hồn Nước (L’Âme Nationale), với tôn chỉ hành động là cứu Tổ quốc tôi thoát khỏi ách áp bức của ngoại bang! (tiếng Pháp).

     Vị linh mục lấy khăn lau mồ hôi trán.

- Lạy Chúa nhân từ! (tiếng Pháp).

     Roubaud mở túi xách, lấy ra một tờ báo đưa cho linh mục xem.

- Đây, tôi mới sưu tầm được. Họ đúng là một tổ chức đáng kính trọng đó! Ngài toàn quyền Robin đã ví sức mạnh của người Pháp chẳng khác gì mãnh hổ vồ đàn ong trước họ (tiếng Pháp).

     Linh mục cầm tờ báo, sửa lại kính, chú mục đọc trong ánh đèn vàng khè đung đưa của bóng đèn nhỏ duy nhất trên toa tàu. Trên măng-sét tờ Hồn Nước ghi: “Cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Nam Quốc dân Đảng” với dòng phụ chú: “Hỡi đồng bào! Chúng ta sẽ mãi mãi bị khổ sở khi đất nước Việt Nam còn mang cùm chân của những người Pháp!

     Linh mục nói với Roubaud:

- Nếu như nước Pháp phải cảm ơn người La Mã đã đem lại văn minh cho dân tộc Gô-loa, thì họ cũng phải thừa nhận những điều tốt đẹp mà người Pháp đã làm cho Việt Nam, phải cảm ơn người Pháp chứ! Nhưng họ đã chống lại nước Pháp, họ là những kẻ có tội! Và họ phải hối hận! (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học nghe thấy thế liền bước sấn tới, cố ghìm phẫn nộ.

- Phải cảm ơn người Pháp ư? Chúng tôi phải cảm ơn kẻ đã đạp giày săng-đá vào bụng cô thợ 17 tuổi đến tàn phế, chỉ vì nghi ngờ cô ăn cắp một cuốn sợi nhỏ? Đã có hàng vạn người vô tội bị giết; bởi bom dội xuống làng, hoặc bởi chết đói chết khát do chính phủ Đông Pháp đã đốt mất nhà mất cửa - Anh nói với nhà báo Pháp - Chính ông đã kể lại trung thực những điều đó trên tờ báo của ông! (Tiếng Pháp).

     Phó Đức Chính:

- Kẻ có tội là là thực dân Pháp! Còn chúng tôi không có tội. Đuổi Pháp về Pháp, cứu nước Nam chưa thành, đâu phải là tội? (Tiếng Pháp).

     Nguyễn Thái Học:

- Và chúng tôi không có gì phải hối hận cả! - Anh cất giọng ngâm - Mourir pour sa partie/ C’est le sort le plus bau/Le plus digne d’envie… Chết cho Tổ quốc/ Hiến thân tuyệt vời/ Ước ao chính đáng nhất (Tiếng Pháp).

      Linh mục và Roubaud chỉ biết nhìn nhau, rồi nhún vai.

      Roubaud ngẩng tai lắng nghe không gian tràn ngập tiếng côn trùng, ễnh ương, thạch sùng, tắc kè, châu chấu như đang dạo bản hòa tấu thiên nhiên bi thảm… Lúc đó, tiếng kèn la-vầy bên trại lính bắt đầu nổi lên thúc dục. Ông đứng dậy, trút bỏ bộ đồ ngủ, mặc quần áo rất cẩn thận, rồi tắt đèn, bước ra ngoài.

       Ở trại lính, lính khố xanh khố đỏ đang xếp thành hình vuông quanh sân. Dân chúng đang lục tục kéo đến pháp trường mỗi lúc một đông.

       Còn trong đề lao Yên Bái, các tù nhân bị nhốt chung một gian nhà, vẫn bị xích.

       Tiếng kèn la-vầy như một tiếng gọi thức tỉnh tất cả tử tù. Mọi người ngơ ngác, ngái ngủ, bỗng choàng dậy. Nguyễn Thái Học vỗ nhẹ hai tay:

- Anh em ơi, tỉnh táo lên đi! Sắp tới lúc cho người Pháp xâm lược thêm lần nữa biết thế nào là người yêu nước Việt Nam!

       Phó Đức Chính che miệng ngáp, bảo:

- Anh Học ơi, cả đêm qua chúng ta có “bạn đồng hành” là cái máy chém ở toa tàu bên cạnh. Anh có dịp đọc sách báo nhiều chắc biết lai lịch của nó, kể cho anh em vui lên tý đi?

      Nguyễn Thái Học cười:

- Ồ, nó do kỹ sư Pháp Jô-jep Ghi-lôt-tin (J. Guilottine) sáng chế ra cuối thế kỷ trước, với thiện chí làm giảm bớt đau đớn cho tội nhân… Nhưng, sự thật thì nó trấn áp thần kinh người thực khủng khiếp!

       Phó Đức Chính nằn nì:

- Anh có thể miêu tả rõ hơn được không?

       Nguyễn Thái Học gật đầu:

- Thế này nhé: Tử tù phải nằm trên một tấm ván, cổ bị gông lại. Chỉ cần giật nút hãm là lưỡi dao rơi tự do phập xuống. Ai yếu bóng vía, chỉ trông hoặc nghe tiếng phập nhanh như thái chuối là đủ chết ngất…

       Phó Đức Chính giơ nắm tay lên:

- Thế thì, trong mọi cách hành hình, thì đây là cách hành hình tưởng “văn minh”, nhưng hóa ra lại man rợ nhất!

       Nghe tới đó, hai người tù liền nép mình trong góc, ngồi xổm và run bắn lên. Còn người tử tù tên là Ngô Văn Du ôm mặt khóc lóc thảm thiết. Chính nhìn Học như muốn hỏi nên xử lý thế nào. Học bước tới Du.

- Chúng ta là những kẻ thất bại nhưng không đớn hèn, các bạn! Đừng để bọn chúng khinh thường chúng ta!

       Du nói như sắp khóc:

- Nhưng đảng trưởng ơi, tôi còn có mẹ già và hai con gái nhỏ, tôi chưa muốn chết… Liệu họ có đưa đơn ân xá của tôi lên Chính phủ không anh?

       Nguyễn Thái Học chợt dấy niềm thương hại sâu sắc:

- Chắc có đấy, họ là quân xâm lược, nhưng cũng thuộc thế giới văn minh, họ sẽ làm theo thủ tục của tư pháp. Nhưng…

       Phó Đức Chính xấn tới.

- Anh thôi khóc lóc đi! Đừng làm nhục thanh danh người Việt Nam yêu nước làm cách mạng! - Quay sang hai người đang ngồi rúm ró - Các anh đứng thẳng lên đi! Ông Von-te chẳng đã bảo: Người ta có đứng thẳng lưng lên thì cũng đã gần mặt đất lắm rồi!

       Học kín đáo bấm tay Chính. Rồi nuốt nước mắt vào lòng, Học thì thầm song rõ ràng, rành mạch:

- Các anh ạ, tôi rất ân hận đã để chúng ta thất bại… Nhưng chúng ta chết đi, để cả thế giới biết cái tinh thần dân tộc này còn đang sống… Chúng ta chết, nhưng sẽ để lại cái gương hy sinh phấn đấu cho người sau nối bước! Các bạn ơi, chúng ta cùng đồng hành… Không thành công, thôi thì thành nhân vậy…

       Chính cũng chợt lén lau giọt lệ chợt ứa ra. Anh nắm chặt tay Học, thầm thì: “Cảm ơn anh… Cảm ơn…”

       Nguyễn Thái Học giật tay bạn ra:

- Chúng ta hãy cảm ơn những người đã chết, và những người còn sống đang tiếp tục sự nghiệp của chúng ta… Những đảng viên trung kiên của ta vẫn không ngừng hoạt động ở nhiều nơi…

       Phó Đức Chính:

- Còn nếu đại sự không thành, chết là vinh!

       Lúc đó, đao phủ Công dáng lùn tịt bước vào, đi cùng phụ tá, đến bên các tù nhân. Đến trước Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính thì Công dừng lại, quỳ phục xuống, khóc rưng rức. 

- Mong các ông xá tội cho… Các ông chết trẻ sẽ thiêng lắm… Tôi biết tôi trọng tội, nhưng vì miếng cơm manh áo phải làm theo phận sự. Xin các ông mở lượng hải hà khoan lượng…

       Nguyễn Thái Học bước tới đỡ Cai Công đứng dậy:

- Ông Cai Công ạ! Đừng biến mình thành cái máy bên máy chém. Giải nghệ đi, kẻo tội lỗi chất chồng tội lỗi, Diêm Vương cũng không chấp nhận ông đâu!

      Cai Công ấp úng nói: “Vâng”, và bước lùi ra. Công sứ Yên Bái Bottini bước vào, cùng thông ngôn. Viên Công sứ đọc bức điện văn bằng tiếng Pháp. Thông ngôn dịch: “Chính phủ Pháp đã bác tất cả những đơn xin ân xá đợt này!”

       Ngô Văn Du và hai người nghe thấy thế, đổ sụp người xuống. Du khóc rống lên, chắp tay van lạy, kêu xin. Công sứ nhún vai, rồi bệ vệ bước ra. Chính xông tới định giơ tay tát Du. Học giữ tay Chính lại, tiến tới Du, đỡ anh ta đứng lên, và nói bằng giọng cố ghìm bớt sự nghẹn ngào:

- Anh Du… Tôi thương các anh lắm… Tôi có nợ với các anh… Nhưng anh ơi, tất cả chúng ta còn mắc nợ với non sông này… Đứng lên anh! Số mệnh bắt chúng ta phải chết khi còn dở dang đại nghiệp… Nhưng số mệnh dân tộc này sẽ vẻ vang, bởi có máu của chúng ta…

       Du Lau nước mắt.

- Cảm ơn đảng trưởng… Hãy tha thứ cho sự yếu đuối thoáng qua của tôi…

       Hai người lính bưng hai cái tráp lớn sơn son đựng bao thuốc lá, mấy điếu xì gà, một chai rượu Rum, 13 cái ly. Người lính rót rượu Rum ra, đưa khay đến cho từng người, nhưng mọi người lắc đầu.

       Nguyễn Thái Học cầm các ly rượu lên đưa cho từng người.

- Đừng từ chối, các anh! Đây là chén rượu quan hà, chén rượu ly biệt! - Ông ngâm thơ Kiều - Tiễn đưa một chén quan hà

       Ngọc Tỉnh hồ hởi:

- Ồ, đảng trưởng nói chí phải! Nào, chúng ta uống cùng cụ Nguyễn Du thôi: Tiễn đưa một chén quan hà…

       Và Nguyễn Thái Học sau khi cụng ly, cạn chén, liền ung dung cầm lấy điếu xì gà, rồi ra hiệu cho tên lính châm thuốc cho.

       Đồng hồ Đề lao chỉ 5 giờ.

       Pháp trường là bãi cỏ lớn cách bãi lính tập 100m, trước khu nhà thờ, có hàng cây bàng và cây báng súng bao quanh. Đoạn đầu đài dựng trên bãi cỏ, vươn lên hai cột xám xịt. Hơn ba trăm cảnh binh, cảnh sát, mật thám và lê-dương đã giăng ra bảo vệ khu hành quyết tù nhân. Người dân kéo đến đã đông nghịt, lặng lẽ chen chân đứng quanh bãi cỏ pháp trường. Trên đoạn đường trải đá bên cạnh pháp trường là dăm bảy chiếc xe bò chờ sẵn để chở xác người đi chôn. Bãi bên, đã xếp những chiếc quan tài bằng mây.

       Nhà báo Roubaud bắt đầu quan sát căng thẳng. Phía núi xa, rạng đông đang xuất hiện bằng một vệt mây màu máu. Một toán người hình sillouett tối xẫm chuyển động trên nền trời ấy - đi đầu là Công sứ Bottini, đi sau là một tiểu đội lính lê-dương lực lưỡng cầm súng cắm lưỡi lê dẫn giải 13 người tử tù đi tới pháp trường. Nguyễn Thái Học vừa đi vừa lấy từ trong ngực ra lọn tóc của Cô Giang ngắm nghía giây lát, rồi lại cất kỹ chỗ cũ.

       Cai Công và trợ lý cũng đã bước tới pháp trường. Nhìn thấy một người tử tù mặt xám ngoét, run lẩy bẩy, Cai Công bước tới vỗ vai anh.

- Đừng sợ anh! Chẳng cảm thấy đau đớn gì đâu!

       Lần lượt 13 nghĩa sĩ lên đoạn đầu đài. Tất cả đều bình thản bước tới theo danh sách được gọi.

- Học sinh Nguyễn Như Liên!

- Thầy lang Bùi Tư Toàn!

- Lính pháo thủ Bùi Văn Chuẩn!

- Lính pháo thủ Nguyễn An!

- Lính cấp dưỡng Đào Văn Nhít!

- Lính pháo thủ Ngô Văn Du!

- Lính pháo thủ Nguyễn Văn Cửu!

- Lính pháo thủ Hà Văn lao!

- Lính pháo thủ Đỗ Văn Tứ!

- Lính pháo thủ Nguyễn Văn Thịnh!

- Cai pháo thủ Nguyễn Văn Tiềm!

- Tham tá Phó Đức Chính!

- Sinh viên Nguyễn Thái Học!

       Khi cố đạo Drouet đề nghị rửa tội cho từng người bước tới máy chém, tất cả đều lắc đầu khước từ. Ông ta tới Nguyễn Thái Học là người cuối cùng, chưa kịp mở lời đề nghị thì anh đã ngắt lời một cách đanh thép song lịch sự:

- Thưa ngài cố đạo! Mong ngài hãy rửa tội cho những người đã gây ra thảm cảnh đối với nhân dân tôi! (Tiếng Pháp).

       Đứng ở xa, vợ của đảng trưởng Nguyễn Thái Học là Nguyễn Thị Giang trong bộ ria mép, chiếc kính râm và quần áo cải trang, cô len tới gần. Cảnh binh ngăn đám đông đang xô tới, trong đó có Cô Giang là người dữ dội nhất. Hai tên cảnh bính xốc tay Cô Giang ra xa đám đông. Cô Giang cắn chặt răng lại, kìm nén nước mắt đang ứa ra. Hai chân cô cứ chực khụy xuống. Nhà báo Roubaud nhìn thấy Cô Giang, và chăm chú quan sát cô, vẻ thương cảm.

       Nguyễn Thái Học chứng kiến lần lượt từng người bước lên máy chém. Người nào đi qua, anh đều giơ hai nắm tay chụm lên cao để chào. Và tất cả mọi người đều gật đầu chào từ biệt anh, rồi cất to tiếng hô: “Việt Nam vạn tuế!”.

       Những tiếng hô “Việt Nam vạn tuế!” lần lượt vang lên, tới tường nhà thờ dội ra đường phố Yên Bái. Mỗi lần như thế, Nguyễn Thái Học đều mỉm cười sung sướng, tự hào. Phó Đức Chính là người thứ 12 lên đoạn đầu đài. Nguyễn Thái Học giơ tay chào lần cuối cùng. Phó Đức Chính hô: “Việt Nam vạn tuế!”

       Linh mục Drouet bước tới gần Chính:

- Cậu chết trẻ vậy, có ân hận gì không? (Tiếng Pháp)

       Phó Đức Chính:

- Ở đời, mong làm lấy một việc lớn mà việc ấy không thành thì chết có gì ân hận? (Tiếng Pháp) - Rồi anh nói lớn - Hãy cho ta nằm ngửa để nhìn lưỡi máy chém của Ghi-lôt-tin!

       Nhiều người ngoảnh mặt đi không dám ngó. Nhiều người lấy khăn lén lau nước mắt. Linh mục Drouet làm dấu thánh, thì thào:

- Anh ta mới ngoài hai mươi tuổi… Thực ghê gớm! (Tiếng Pháp)

       Nhà báo Roubaud gật đầu đồng tình, rồi lấy khăn mù xoa lau nước mắt. Máy ảnh bỏ thõng trước ngực, ông không hề chụp được một tấm hình nào từ đầu cuộc xử trảm, chỉ ngây người ra trước những tiếng hô “Việt Nam” và bộc lộ một cảm xúc đặc biệt...

       Từ đầu, Nguyễn Thái Học vẫn ngậm điếu xì gà to hút dở đã tắt. Khi gọi đến tên mình, anh phì điếu thuốc ra khỏi miệng, thong thả bước tới máy chém. Vừa đi, anh vừa dõng dạc đọc to câu thơ bằng tiếng Pháp: “Mourir pour sa patrie/ C’est le sort le plus beau/ La plus digne d’envie” (Chết cho đất nước của mình/ Là cái chết đẹp nhất/ Thanh thản tuyệt vời nhất). Và anh hô lớn: “Việt Nam vạn tuế!”

       Một tiếng “phập” cuối cùng của lưỡi dao máy chém.

       Cô Giang bất giác giơ hai bàn tay lên ôm mặt. Cô gần như ngã gục xuống đất, nếu như không có một người đàn ông kịp thời đỡ lấy cô. Phía dân chúng đứng xem bỗng vang lên tiếng hô ầm ầm: “Đả đảo thực dân Pháp dã man!”. Những tiếng phụ họa “đả đảo, đả đảo” ầm ầm, buộc đám cảnh binh phải dùng dùi cui tới tấp.

       Viên công sứ De Bottini giơ tay xem đồng hồ. 5 giờ 35 phút.

       Gần chục chiếc xe bò chở xác tù nhân lăn dọc theo đường bờ sông. Nguyễn Thị Giang vẫn phải đứng nhìn từ xa. Cho tới tận lúc này cô vẫn không thể rơi một giọt nước mắt nào trước những cái chết bi tráng của chồng và các chiến hữu.

       Hôm đó là ngày 17 tháng 6 năm 1930.

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 376)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1044)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2500)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16681)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1043)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5144)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7102)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6414)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29509)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35652)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3296)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7692)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7033)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9699)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.