- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Lạt Ma Giáo

17 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 116186)

Lần này, Đức Đạt Lai Lạt Ma [ ĐLLM] đến hoằng pháp ở Úc gặp mùa mưa bão tùm lum. Mưa lạnh khùng luôn làm chính khách nào cũng muốn trùm... mền! 

Mới đầu ThT Howard rét quá không tiếp. 

Thói thường thấy thiên hạ lạnh thì mình lạnh theo, run thì run theo, thế nên John So Thị Trưởng Melbourne lây rét cũng né luôn không gặp mà chỉ cho Phó Thị Trưởng David Wilson tiếp ĐLLM thôi. Dù cho về phương diện bang giao quốc tế, ĐLLM không chỉ là giáo chủ một tôn giáo lớn mà còn là quốc trưởng của quốc gia Tây Tạng, dù là quốc trưởng lưu vong. 

Chỉ có thủ lãnh đối lập Kevin Rudd gồng mình tuyên bố sẽ gặp ĐLLM khi ngài đến Úc. 

Mà Howard và So rét quá né không gặp ĐLLM cũng phải. Những người như Howard và So thì mũi rất thính hơi đồng cho nên đâm ngại chọc giận Trung Hoa tẩy chay than đá, quặng mõ, dầu khí, bột mì, trái cây, rượu...thì phiền. 

Hoặc TH ngầm ra lệnh cấm nhà giàu đến Crown Casino, nếu có ngứa tay thì qua Macao, hay cấm du học sinh đừng qua Úc du học nữa thì hại bạc triệu! Mỗi năm các đại học ở Úc đã hồt tiền du học sinh TH hay VN biết bao nhiêu tiền... 

Chương trình 7.30 Report của đài ABC ngày 3/4/07 cho biết số du học sinh xài với giá chót mỗi năm xỉn xỉn 10 ngàn đã trở thành một thị trường béo bở. Cho nên các đại học Úc đã không ngại cho huê hồng hậu hĩ mỗi người là 5.000 cho những ai dụ được một du học sinh cho họ! 

Các văn phòng cố vấn du học sinh mọc lên như nấm, bất chấp nhiều khi vị văn phòng trưởng không hề biết mặt mũi các bằng đại học hay cổng vào đại học vuông hay méo nữa! 

Howard và So ngại là phải. Nhưng rồi Howard đã đổi ý có lẽ vì sắp đến mùa bầu cử? 

Tại sao lại khiêu khích một cộng đồng đang lớn mạnh như PG trong đó đa số đều có cảm tình với PG Tây Tạng mà ĐLLM là đại diện? 

Thật vậy, kết quả điều tra dân số ở Úc cho thấy PG là tập thể tăng nhanh nhất với tỷ lệ 79% trong thời gian 5 năm từ 1996 đến 2001. 

Chủ Tịch Hồ cẩm Đào hay Tòa Đại sứ TQ ở Canberra có đi bầu đâu trong khi 79 % đó đa số đều coi ĐLLM là Phật sống?! 

Với lại, trong chuyến du hoá 1996, ĐLLM đã gặp cả ThT Howard, Thủ lãnh đối lập Kim Beazley và Thủ Hiến Bob Carr và chẳng thấy TH cự nự mè nheo gì. Phải chăng cái lo tiên khởi của Howard và So nói cho cùng chỉ là nỗi lo con buôn? 

Về PG Tây Tạng, những ai quen với ngoại ngữ thì không lạ gì từ ngữ tantrism hay tantrisme hay occutlisme, esotérisme mà trong Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn gọi là mật giáo, mật tông hay bí tông... ĐTC cũng không dịch chữ tantra hay tantrisme trong khi Từ Điển Phật Học của Chân Nguyên Nguyễn tường Bách thì không dịch chữ này mà để nguyên là tăng-tra. 

Với người Việt, PG Tây Tạng thường được gọi là Mật Tông bất kể đó là tantrisme, esotérisme hay occulisme.... 

Mật tông được xem là một trong ba nhánh của PG, hai nhánh kia là Thiền và Tịnh... 

Các phái Thiền, Tịnh tha hồ quảng cáo, ngay cả phái thầy cúng cũng không ngại trưng bảng hiệu như Minh Đăng Quang Như Lai, tục gọi là Cổ Sơn Môn. Nhưng Mật tông thì tuyệt nhiên không, dù ai cũng biết mật tông vẫn còn đó và người dân VN người dân thường nghe đến Mật tông nhiều hơn là thấy biết một vị sư nào đó tu theo mật tông dù cho truyền thuyết về mật tông thì không thiếu chi qua cách tu hành bí mật và bùa chú. 

Có rất nhiều truyền thuyết giải thích tại sao vua Tự Đức đã cấm tiệt mật tông hành đạo khiến cho phái này phải rút vào bóng tối. Tất cả chỉ truyền miệng không có tài liệu chính thức nào... 

Đọc truyện Kim Dung thấy nói đến các sư lạt-ma giáo, các sư thuộc phái mũ vàng [hoàng cân], xuất quỷ nhập thần từ Tây Tạng, nhưng Kim Dung không nói rõ PG Tây Tạng là gì. 

Có dịp đọc Núi Đá Tiên Tri của Z.28, tuy cường điệu nhưng ít ra cũng có một vài ý niệm vể Tây Tạng huyền bí hay ít ra cũng lờ mờ nhận ra lý do tại sao TH nhất quyết nắm cứng Tây Tạng không nhả ra. 

Mấy quyển từ điển về PG như Our Religions by Preeminent Scholars from each Tradition dày cộm nhưng chỉ có một chương về PG [chương 2 Buddhism, do Masao Abe viết] chứ không có Mật tông hay PG Tây Tạng. 

Quyển Buddhist Dictionary của Nyanatiloka chỉ nói sơ qua về Thanh Tịnh Đạo [Visuddhi hay visuddhi magga] vốn là tên một bộ luận cơ bản của PG có liên hệ đến cách tu hành của Mật tông thôi [sđd tr.248]. 

Chỉ có Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn là chịu nói rõ về Mật Tông và hoàn toàn khác về định nghĩ Mật tông của Chân Nguyên Nguyễn Tường Bách trong Từ Điển Phật Học [sđd. tr.259]. 

Theo Đoàn Trung Còn thì tên khác của Mật tông là Lạt-Ma giáo và.... 

Lạt Ma giáo [Lamaisme] là phái đạo Phật riêng ở Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu. 

Đạo Phật ở Ấn Độ chánh thức truyền lên Tây Tạng vào thế kỷ thứ bảy, [nghĩa là hai trăm năm sau khi Tây Tạng trở thành một quốc gia tự chủ độc lập]. 

Từ đó, đạo Phật ở Tây Tạng mở mang ra mãi và truyền bá ra các nước gần là Mãn Châu, Mông Cổ, Trung Hoa. 

Bởi người ta gọi thầy tu là Lạt-ma cho nên người ta xưng nền đạo là Lạt-ma giáo. 

Lạt-ma giáo có hai phái.

1-Phái Hồng giáo [thầy tu đội mũ đỏ] là phái cố cựu chuyên luyện các phép thuật, các môn thần bí, dung hòa với tư tưởng bình dân. 

2-Phái Hoàng giáo [thầy tu đội mũ vàng] là phái cải cách do đức Tông-Cáp-Ba [ Tsong-khapa] dẫn đạo từ thế kỷ 14. Phái này được chánh phủ công nhận là Chánh giáo, thầy tu có nghi thức đúng đắn hơn, giữ giới hạnh thanh tịnh theo PG, ở trong những ngôi chùa lớn mà ban tăng già có đến hằng ngàn người. 

Phái Hoàng giáo tức Lạt-Ma giáo chính thức có hai vị chúa-tể nắm giữ mối đạo, ủng hộ chúng-sanh: 

1- Ngài Đạt-Lại Lạt-ma[Dalai-lama] hóa thân của đức Quán Thế Âm, ngự ở điện Bổ-đà-lạc-ca sơn [Potala] tại Kinh thành Lạp-Tát [Lhassa]. 

2- Ngài Ban Thiền Lạt-ma [Pentchen-lama] là hóa thân của Phật A-Di-Đà, trụ tại Chùa Trát-thập-luân-bố [Trashi-Lumpo] ở thành Shigatsé. 

Lời văn đơn sơ chân chất của Đoàn Trung Còn đã vô tình vẽ ra bức tranh lịch sử thế trị của PG Tây Tạng và cho thấy cái khó của đức ĐLLM khi nói đến PG Tây Tạng hay Tây Tạng tự trị. 

Ký tên trong lời tựa quyển IMAGES phát hành để kỷ niệm chuyến viếng thăm Úc năm 1996, đương kim ĐLLM ký là Tenzin Gyatso ĐLLM thứ 14 của Tây Tạng và IMAGES lại do FPMT [viết tắt của chữ The Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition - Viện bảo tồn truyền thống Đại thừa] xuất bản. 

Những chi tiết đó có thể gây băn khoăn vì thông thường người ta vẫn quen miệng gọi là PG Tây Tạng, nhưng không mấy người nghĩ PG Tây Tạng là PG Tây Tạng nào? Có phải là Mật Tông, có phải là Lạt-Ma giáo mà ĐLLM là đại diện, là giáo chủ? 

Thực ra thì Tenzin Gyatso là thế danh của ĐLLM người mà tín đồ Phật giáo Tây Tạng tin là hiện thân thứ 14 của Quán Thế Âm Bồ Tát, vị thân hộ mạng của dân tộc Tây Tạng. 

Tenzin Gyatso là con trai của một gia đình nông dân Tây Tạng tên Lhamo Dhondup và sau được đổi là Tenzin Gyatso, có lẽ vì lý do an ninh. 

Theo truyền thuyết PG Tây Tạng thì vị Lạt- Ma đương nhiệm tạ thế sẽ đầu thai trở lại phục vụ quần chúng Tây Tạng. 

Ví dụ như ngài ĐLLM hiện nay, ĐLLM thứ 14, tạ thế thì sẽ đầu thai thành ĐLLM thứ 15. 

Vấn đề làm sao biết ngài đầu thai ở đâu trong gia đình nào với cha mẹ nào thì truyền thuyết Tây Tạng đã nói rất nhiều, và hấp dẫn như chuyện phong thần trinh thám vậy... 

Việc đầu thai trở lại sau khi tạ thế có lẽ bắt nguồn từ việc tôn kính Bồ Tát Quán Thế Âm trong PG Tây Tạng. 

Thật vậy, ngoài Bát Nhã Tâm Kinh, bài kinh căn bản của PG Tây Tạng cũng như PGVN chính là bài Chú Đại Bi. 

Bài chú này thường không được dịch ra tiếng Tây Tạng hay Việt Ngữ, ngay cả Hán Việt, mà chỉ tụng nguyên văn theo phiên âm Phạn ngữ, trừ phần nhập đề mà cũng là tựa đề bài kinh... 

Nhân vật chính trong bài kinh đó là Bồ Tát Quán Thế Âm một thứ trùm ES, [Emergency service] hay ambulance thời nay. 

Ai cần cứu trợ khẩn cấp là ngài tới ngay, có mặt ngay, chẳng cần phải gọi ba số 000 hay 911, bất kể nạn nhân là Phật tử có quy y hay không quy y. Điều này giải thích tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm thường được gọi là Bồ tát đại bi ngàn tay ngàn mắt [thiên thủ thiên nhãn]. 

Đẳng cấp trong đạo của Quán Thế Âm là Bồ Tát, sau Phật. Bồ Tát là chữ viết gọn hai chữ Bồ đề và Tát Đỏa. Bồ đề dịch chữ Bodhi là kẻ đã giác ngộ, có trí huệ và Tát đỏa dịch chữ sattva là chúng sanh hữu tình. 

Tóm lại, Bồ Tát là một kẻ đã giác ngộ, đã thoát ra ngoài vòng sanh tử, nhưng đã quyết định ở lại thế gian để sẵn sàng giúp những người khác cùng đạt đến sự giác ngộ như mình. 

Đó là lý tưởng từ bi cao cả nhất của PG Tây Tạng, của những ai có tâm nguyện Bồ Tát hay bồ tát hạnh, của tất cả những ai nghĩ và muốn sống theo PG. 

Theo kinh điển thì Bồ Tát Quán Thế Âm là thị giả hay cận thần của Phật A-Di-Đà chúa tể Tây phương Cực Lạc Thế Giới. 

A-Di-Đà là vị Phật đã nguyện bao giờ vũ trụ còn một chúng sinh chưa giác ngộ, nghĩa là còn vướng mắc trong vòng luân hồi sinh tử thì sẽ không nghỉ ngơi. Nơi Ngài nghỉ ngơi cũng là cùng đích tu chứng của Tịnh Độ, của Thiền,, ,của tất cả Phật tử. Thế giới cực lạc! 

Nhìn theo quan điểm đó thì sẽ hiểu tại sao có ĐLLM 14 và sẽ có ĐLLM 15! 

Và hiểu được nguyên lai của ĐLLM 14 thì có lẽ sẽ hiểu được cái khó của Đức ĐLLM hôm nay trong việc tranh đấu cho nền độc lập và tự chủ của Tây Tạng. 

Thật vậy, cũng như VN, tự ngàn xưa, Tây Tạng vốn là một châu huyện của TH như VN thuộc châu Ung, châu Khiêm của TH vậy. Khi nào nội bộ TH ở Bắc kinh loạn thì địa phương độc lập tự trị. 

Theo The Hutchinson- Encyclopedia [ p.821-822] thì Tây Tạng là một quốc gia độc lập từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 18 thì bị TH thôn tính. Sau cách mạng Tân Hợi, năm 1912 thì Tây Tạng thu hồi được độc lập. 

Năm 1951, Mao Trạch Đông cướp được chính quyền TH thì thôn tính luôn Tây Tạng, triệt hạ quyền lực bản xứ khiến ĐLLM và giới tăng già phải hoàn tục nếu không lưu vong. Giới tăng già vốn chiếm 25% dân số bị tống xuất khỏi các tự viện. 

Từ 1951-1959 Tây Tạng thuộc quyền quân quản như là một lãnh thổ tự trị có chính quyền riêng, quốc hội riêng. ĐLLM được trở về nhưng chỉ với tư cách quốc trưởng tượng trưng như Bảo Đại của VN sau 1949 mà thôi, quyền hành quốc gi đều thuộc vể ban quân quản. 

Năm 1959, ĐLLM lãnh đạo cuộc nổi dậy toàn quốc bị quân đội thẳng tay trấn áp và ĐLLM phải cùng với 9.000 người Tây Tạng chạy trốn qua Ấn Độ thành lập chính quyền lưu vong ở tỉnh biên giới Ấn-Hoa Dharamsala. 

Tây Tạng phải trải qua những ngày sắt máu cãi tạo xã hội chủ nghĩa. Hết đợt sắt máu ấy thì lại đến cơn bão dữ Cách Mạng Văn Hóa...Lạt–Ma giáo gần như bị mấy ông bà Vệ Binh Đỏ chà láng. 

Mãi đến năm 1979, phe Đặng Tiểu Bình nắm được thực quyền trung ương đã thực hiện một chính sách sửa sai thực tiễn để cho dân Tây Tạng được tự quyết nhiều hơn, Lạt Ma giáo được cởi trói, quyền lực tâm linh của giai tầng lạt-ma được phục hồi... 

Nhưng viễn ảnh một Tây Tạng độc lập tự quyết tách rời TH thì vẫn xa vời trong hoàn cảnh TH luôn luôn cảm thấy hăm dọa một bên là Nga, một bên là Mỹ, chưa kể Ấn Độ. 

Ký ức những va chạm biên giới với Nga năm 1960, với Ấn Độ vì năm 1962, chưa kể với Mỹ ở Hàn Quốc năm 1950-53, VN 1960-75... vẫn khó phai mờ trong trí óc các nhà chiến lược TH. 

Bigpond đang có một quảng cáo rất ăn khách phát xuất từ nỗi ám ảnh về họa phương Bắc đã hình thành một quái thai lớn nhất nhân loại là Vạn Lý Trường Thành. 

Ám ảnh đó có thể nói đã ăn vào gene, vào DNA của TH rồi cho nên cũng chẳng lạ gì khi thấy tại sao TH cứ dựt lên như bị vò vẽ chích mỗi lần nghe nói đến Tây Tạng độc lập tự trị ! 

Trong chiến tranh cũng như phòng thủ, chiếm được điểm cao là chiếm thượng phong. Diện tích đất đai của Tây Tạng rộng xấp xỉ bốn lần VN dân số chỉ khoảng 1/20 VN nhưng Tây Tạng lại là cao điểm của thế giới. Thế giới có 106 đỉnh núi cao 7.315 mét thì Hy Mã Lạp Sơn chiếm hết 96 đỉnh! Chưa kể là 10 đỉnh núi cao nhất thế giới thì Hy Mã Lạp Sơn chiến hết 9! [The Guiness Book of Most and Least, tr. 17]. 

Điều này giải thích tại sao TH đã chọn Tây Tạng làm nơi đồn trú lực lượng tổng trừ bị từ 50ngàn đến 100.ngàn quân và thiết lập căn cứ hỏa tiễn nguyên tử lớn nhất ở Nagchuka của Tây Tạng. Chưa kể là Lob Nor của Tân Cương gần đó là kho nguyên tử và khinh khí của THtrong chiến lược MAD, trâu chết thì bò cũng đdứt đuôi! 

Nhìn theo quan điểm đó thì thấy cuộc vận động của ĐDLLM hiện nay thật muôn vàn khó khăn. 

Khó khăn hơn nữa là sau cuộc tổng khởi nghĩa thất bại năm 1959, Ban Thiền Lạt Ma lại không đào thoát được và đang ở trong vòng kiềm tỏa của TH và không hề lên tiếng đòi Tây Tạng tự trị ! 

Và theo truyền thuyết thì vai vế của Ban Thiền Lạt Ma lại cao hơn ĐLLM vì Ban Thiền Lạt Ma là hóa thân của Phật A-Di-Đà mà Bồ Tát Quán Âm là thị giả trong khi đương kim ĐLLM được coi là hóa thân của Quán Âm Bồ Tát. Nói thế khác, về phương diện chính trị, Ban Thiền Lạt Ma dù sao cũng ngang cơ với ĐDLLMnếu không muốn nói là trên cơ! Cho nên,ngày về của ĐLLM thật còn xa... 

Nhưng Bụt nhà không thiêng, có lẽ thế giới cũng nhờ sự kiện tréo cẳng ngỗng này mà được hưởng công đức của Phật giáo Tây Tạng? 

ĐLLM đã mất chức giáo chủ và quốc trưởng Tây Tạng nhưng bù lại ngài đang trở thành hiện thân của từ bi trí huệ là hy vọng cho nhân loại trong thời kỳ tôn giáo đang trở thành gươm đao bom mìn để cho con người trút bao nhiêu bất mãn hận thù lên đầu lên cổ đồng bào đồng loại. 

Tiếng cười an nhiên thống khoái của ĐLLM là hiện thân của một con tim rỗng tuếch không cầu lụy, không toan tính, không hận thù, mánh mung. Nghe ông cười, người ta có cảm tưởng như nghe ông nhắc nhở:Ê! Trăm phần trăm, đâu còn có đó, đừng nóng! 

PG Tây Tạng hay Lạt Ma giáo nổi tiếng không những với hạnh nguyện bao la của Phật A-Di-Đà và Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng PG Tây Tạng còn nỏi tiếng về bùa chú và mạn-đà-la vốn là những hoành đồ thu tóm cả thế giới thiêng liêng hay luân hồi mà kinh kệ thường mô tả. 

Nhưng đặc trưng của PG Tây Tạng có lẽ chính la cái nhìn của tôn giáo này về vấn đề quan hệ nam nữ hay tính dục. 

Nếu có duyên xem những phim như Samsara hay Xuân, Hạ,Thu, Đông...Xuân thì có lẽ người ta sẽ ghi nhận những đặc trưng này. 

Trong Sexual Secrets[ tr.153], Nik Douglas và Penny Singer còn sao lại một bức tranh của Tây Tạng ghi lại sự cố nhập thân của Phật với các không hành nữ hay không hành mẫu [Dakini] ngay sau khi Phật giác ngộ. 

Xuất xứ của bản vẽ là bộ kinh Guhyasamaja Tantra mà Chân Nguyên Nguyễn Tường Bách trong sđd tr.57 đã ghi là ...cũng được gọi là Tam Nghiệp bí mật kinh; tantra đầu tiên của PG, được biên soạn giữa thế kỷ 3 và 7, được xếp vào Vô Thượng du-già tan-tra. 

Các Tân tăng của Nhật hình như cũng đi theo một đường của các lạt ma Tây Tạng nên rất thoải mái về chuyện nam nữ và không phải bối rối dấu diếm gì. Đại sư Suzuki không hề dấu diếm là mình có bà xã kềm kẹp. Đó là ấn tượng người đọc khi đọc tác phẩm nổi tiếng The Tibetain Book of Living and Dying của Sogyal Rinpoche. 

Trong phần phụ lục Các Sư Phụ của tôi[ My teachers, tr.367 và tt.] Rinpoche kể ra bốn vị là 1-Jamyang Khyentse Chokyi Lodro [1896-1959], 2-Dudjom Rinpoche [1904-1987], 3- Dilgo Khyentse Rinpoche [ 1910-1991] và 4- Khandro Tsering Chodron mà Sogyl Rinpoche còn nói rõ là: was the spiritual wife of Jamyang Khyentse Chokyi Lodro and is regarded as the foremost women master in Tibetan Buddhism. 

Như vậy là chuyện nam nữ vợ con đối với các lạt-ma Tây Tạng là chuyện tự nhiên? và đó có phải là đặc biệt cho một phái hay cho cả hai phái mũ vàng và mũ đỏ? 

Bởi không biết chi tiết này nên năm 1980 hay 81 gì đó, khi có cơ duyên diện kiến đương kim ĐLLM khi ngài đến Sydney và ngụ tại khách sạn Hilton, Bất Hoặc tôi đã không có dịp xin ngài khai ngộ cho. 

Dù sao thì mỗi lần vào tửu đường kiêm thiền đường nhìn thấy bản in bức đà-la-ni ngài đã cho mà Bất Hoặc tôi còn tưng tiu với dãi khăn lụa như của trấn bảo, Bất Hoặc tôi vẫn không thầm cầu mong cho hạnh nguyện của ngài viên thành dù biết là khó. 

Nhưng khó hay dễ thì hạnh nguyện đó cũng được các Phật tử PG Tây Tạng tái xác nhận mỗi khi họ bắt đầu công phu hay niệm thần chú Lục Đại Tự Minh OM MA NI BAT MI HỒNG. 

Hạnh nguyện cao cả đó có thể nói ra như thế này: Quy y Phật, Pháp, Tăng/Đến khi con chứng thành/Quả vị vô thượng giác/Nguyện cho các công đức/Do con tạo tác nên/Như bố thí trì giới/Khiến con được thành Phật/Để cứu độ chúng sinh. 

Đó là những lời nguyện mà PT Tây Tạng lẩm nhẩm mỗi khi bắt đầu niệm Lục đại tự minh chú hay bắt đầu cử thiền định quán tưởng mà chủ đề thường là hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm hay cõi Tây Phương Cực Lạc hấp dẫn diệu vợi đã được lạt-ma Tangtong Gyalbo ghi lại và được Sư Viên Lý chuyển Việt trong quyển Pháp Tu Quán Âm [tr.80] 

Có đọc sách này thì mới hiểu tại sao có những người mê chết mê sống cái gọi là Tu Pháp Hoa và những lúc ngồi thiền do sư phụ truyền bí kíp cho mà không biết mình đang thực hành cái gọi là... cuồng thiền đầy vị ngã chẳng có chi là từ bi vô ngã cả! 

Kẹt thiệt hí? 

BẠT - SƠ LƯỢC VỀ MẬT TÔNG TÂY TẠNG

Vajra 

Trong các quốc gia có Phật Tử tu theo Phật Giáo Đại Thừa thì Tây Tạng chỉ tu theo Mật Tông mà thôi. Ở Tây Tạng có 4 tông phái Mật Tông chính đó là 1)Nyingmapa, 2)Sakyapa, 3)Kagyupa, 4)Gelupa. 

Mỗi một tông phái thì đều có phương pháp tu hành khác nhau theo các Kinh Mật Tông khác nhau nhưng tất cả các tông phái đều cùng thực hành 4 bậc Mật Tông đó là: 1)Lễ Bái Mật Tông, 2)Nghi Lễ Mật Tông, 3)Thiền Quán Mật Tông, 4)Tối Thượng Mật Tông. 

Mật Tông thì tiếng Phạn gọi là Tantra. Đạo Bà La Môn (Hinduism) cũng có Tantra nhưng mà cái Tantra này không phải là Tantra của trong Kinh Mật Tông dạy. 

Đây là sơ lược về 4 tông phái Mật Tông tại Tây Tạng: 

1)Nyingmapa: 

Tông phái Nyingmapa được khai sáng do Ngài Padmasambhava, là vị đem Phật Giáo Mật Tông từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng vào đầu thế kỷ thứ 7 sau TL. Ngài Padmasambhava đem theo tất cả Kinh Mật Tông bằng tiếng Phạn qua Tây Tạng vì vậy mà hiện nay chỉ có ở Tây Tạng là có đủ tất cả các Kinh Mật Tông. Ngài Padmasambhava đã dịch rất nhiều Kinh Mật Tông từ tiếng Phạn ra tiếng Tây Tạng. Ngài Padmasambhava đã truyền lại giáo lý Mật Tông cho 25 người đệ tử và sự truyền thừa đó vẫn tiếp tục cho đến bây giờ. 

Theo truyền thyết thì Ngài Padmasambhava đã hàng phục vị Thần Chủ xứ Tây Tạng cùng nhiều quỷ thần khác để cho họ quy y theo Phật Pháp và trở thành các vị Hộ Pháp tại các tu viện. 

2)Kagyupa 

Do Marpa Chokyi Lodoe Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 10 sau TL. Ngài Marpa là đệ tử của Ngài Naropa. Ngài Naropa là vị đã truyền dạy về 6 pháp Thiền Quán về Mật Tông và Đại Thủ Ấn cho ngài Marpa và Ngài Marpa đã truyền lại cho đệ tử là Ngài Milarepa và Ngài Milarepa đã truyền lại cho hai vị đệ tử là các Ngài Gampopa, Rechungpa và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay. 

3)Kadampa 

Do Ngài Atisa khai sáng vào giữa thế kỷ thứ 9 sau TL. Ngài Atisa đã cho dịch ra rất nhiều kinh Mật Tông từ tiếng Phạn sang tiếng Tây Tạng. Ngài Atisa đã truyền giáo lý Mật Tông cho các vị đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay. 

4)Sakya 

Do Ngài Khon Konchok Gyelpo Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 11 sau TL. Ngài Khon Konchok Gyelpo đã truyền lại giáo lý và các pháp tu cho các đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay. 

5)Gelupa 

Do Ngài Je Tsongkhapa khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 15 sau TL. và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay. 

Trong các tông phái kể trên thì chỉ có tông phái Gelupa là các vị xuất gia còn các tông phái Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa thì đa số là các vị cư sĩ vì vậy mà rất nhiều người không hiểu biết nói là các sư Tây Tạng có vợ là một sự sai lầm rất lớn. 

Giáo lý Mật Tông có hai phần Hiển Giáo và Mật Giáo. 

Hiển Giáo: Là tất cả cá giáo lý Tiểu Thừa, Đại Thừa và tất cả các Kinh, Luật, Luận của Tiểu Thừa và Đại Thừa. 

Mật Giáo: Là tất cả các giáo lý trong các kinh Mật Tông thí dụ như là phương pháp Thiền Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, phương pháp Chuyển Hoá Thân Thành Thân Bổn Tôn, phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, phương pháp Tự Thọ Quán Đảnh, phuơng pháp Truyền Pháp Quán Đảnh, phuơng pháp Chuyển Di Thần Thức, phương pháp Cung Thỉnh Chư Bổn Tôn, phương pháp Câu Triệu và Hàng Phục Thiên Long Quỷ Thần v.v rất là nhiều các pháp hành trì của Mật Tông khác. 

Rất nhiều kinh Mật Tông chỉ có trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng chứ không có trong Đại Tạng Kinh Hán là bởi vì các vì phiên dịch kinh Phật từ Phạn sang Hán khi xưa không có tu hành theo Mật Tông. Ngay cả khi Ngài Huyền Trang thỉnh Kinh Phật từ Ấn Độ về thì cũng chỉ đem về một số lượng rất là ít ỏi so với hàng ngàn bộ Kinh Mật Tông hiện có bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Phạn ở tại các tu viện Tây Tạng. 

Nền tảng của triết lý Mật Tông là triết lý của Duy Thức, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Bồ Đề Tâm. Triết lý Mật Tông đặt nền tảng trên các Kinh của Đại Thừa và Mật Tông và các bộ Luận như là Trung Luận, Du Già Sư Địa Luận, Nhân Minh Luận,Nhập Trung Luận,Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Biện Trung Biên Luận, Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận v.v. 

Triết lý và phương pháp hành trì của Mật Tông căn bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo. Tuy nhiên Mật Tông đặt nặng về Gia Trì Lực của Chư Phật Bổn Tôn nên hay có nhiều sự thần thông biến hoá. 

Ba yếu tố chính trong sự tu hành của Mật Tông Tây Tạng là Từ Bi, Trí Tuệ, Phương Tiện Thiện Xảo. 

Mật tông có bốn bậc khác nhau từ cao xuống thấp là: 

Tối Thượng Mật Tông 
Thiền Quán Mật Tông 
Nghi Thức Mật Tông 
Lễ Bái Mật Tông 

Tối Thượng Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của ba bậc thấp hơn và thành tựu đầy đủ các pháp quán tưởng chuyển hoá thân thành vị Phật Bổn Tôn được thành tựu Tam Mật tức là Thân Mật, Ngữ Mật, Ý Mật. 

Thiền Quán Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của hai bậc thấp hơn. Hành giả phải biết rõ pháp tu quán tưởng chuyển hoá thân thành Đức Phật Bổn Tôn. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này 

Nghi Thức Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của bậc thấp hơn. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này 

Lễ Bái Mật Tông: Là hành giả phải tu hành đầy đủ các pháp lạy sám hối, trì tụng. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này 

Trong mỗi bậc Mật Tông lại có hai phần là Nội Mật và Ngoại Mật. 

Ở tại Việt Nam khi nói đến Mật Tông là nói đến hai loại Mật Tông đầu đó là Lễ Bái Mật Tông và Nghi Thức Mật Tông. 

Các Kinh về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông thì chỉ có ở trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng mà thôi. 

Chư Tăng và Phật Tử Việt Nam sở dĩ không có tin việc tu hành theo Mật Tông trong một đời mà có thể thành Phật là bởi vì không có ai biết về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông. 

Không phải là hễ ai tu theo Mật Tông thì cũng thành Phật trong một đời cả mà chỉ có các vị tu theo pháp Tối Thượng Mật Tông lúc được thành tựu viên mãn thì mới có thể chứng quả Phật trong hiện đời. 

Pháp Tối Thượng Mật Tông rất là thâm sâu vì vậy một người muốn tu hành pháp Tối Thượng Mật Tông thì phải có căn bản vững chắc về Mật Tông của các bậc dưới rồi và hành giả trước hết phải nhận được Pháp Quán Đảnh của một vị Kim Cang Pháp Sư đã thành tựu về Pháp Tối Thượng Mật Tông truyền dạy. Hành giả cũng phải có sự chứng nhập thâm sâu về Tánh Không và Bồ Đề Tâm thì mới có thể tu hành Pháp Tối Thượng Mật Tông 

Lòng Từ Bi Là Nền Tảng Của Hòa Bình Thế Giới Việt Báo Chủ Nhật, 4/20/2008, 12:02:00 AM

(Nguyên tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí Chơn --Trích từ tập sách “A Human Approach to World Peace”)

Theo khoa tâm lý học Phật Giáo, phần lớn những khổ đau của chúng ta đều phát xuất từ lòng dục vọng, và sự tham đắm của chúng ta vào mọi vật mà chúng ta lầm tưởng rằng chúng là những vật thể chắc thực bền lâu.

Sự theo đuổi các đối tượng dục vọng và lòng tham đắm của chúng ta khiến chúng ta dùng đến sự xâm lăng và tranh chấp như những phương pháp mà chúng ta thường nghĩ rằng chúng sẽ mang lại kết quả. Những ý tưởng này dễ dàng biến thành hành động nhằm nuôi dưỡng chiến tranh được chúng ta xem như là phương pháp hiển nhiên. Tâm con người đã có những ý niệm ấy từ thưở xa xưa, nhưng hành động tranh chấp này đã trở nên có tác dụng hơn trong hoàn cảnh sống hiện đại.

Làm thế nào để chúng ta có thể kiểm soát và chế ngự được những ý tưởng độc hại tham sân si này? Vì những ác tính đó là nguồn gốc đã gây ra mọi cuộc khủng hoảng khó khăn trên thế giới.

Là một tu sĩ được hấp thụ qua truyền thống của nền Phật Giáo Đại Thừa, tôi nghĩ tình thương và lòng từ bi là căn bản đạo đức cho nền hòa bình thế giới.

Trước tiên, tôi xin định nghĩa thế nào là lòng từ bi? Khi bạn phát tâm giúp đỡ một người nghèo khổ vì bạn thương hại kẻ đó đang gặp cảnh khốn cùng, như vậy lòng từ bi của bạn được xây dựng trên sự xót thương hồn nhiên, không suy tính. 

Trái lại, tình yêu thương vợ chồng, con cái hay người quen thân của bạn thường xuất phát từ lòng tham đắm. Khi sự đắm say của bạn thay đổi, lòng tốt của bạn cũng thay đổi theo, và nó có thể biến mất luôn. Đây không phải là tình thương chân thật.

Tình thương chân thật không xây dựng trên lòng tham đắm, mà trên sự xót thương. Trong trường hợp này, lòng từ bi của bạn được xem như một nhu cầu đáp ứng lại sự khổ đau và tình thương ấy cần được duy trì bao lâu con người còn tiếp tục đau khổ. Đó là lòng từ bi mà chúng ta nên tu tập nơi mỗi chúng ta và chúng ta cần phát triển nó từ mức độ hẹp hòi cho đến rộng rãi bao la.

Lòng từ bi bao la, hồn nhiên và không phân biệt đối với mọi chúng sanh rõ ràng không phải là thứ tình yêu thông thường, phát xuất từ vô minh, lòng ái dục và tham đắm mà con người thường có đối với bạn bè hay gia đình của họ. Loại tình thương chúng ta nên duy trì và phát triển là thứ tình thương rộng lớn hơn mà chúng ta có thể thực hiện ngay cả đối với kẻ thù đã làm hại chúng ta.

Lý do chúng ta nên có lòng từ bi vì mọi người chúng ta ai cũng muốn sống hạnh phúc và không thích khổ đau. Thực vậy, mọi người sinh ra với những ước muốn giống nhau nên ai cũng có quyền bình đẳng để thành đạt các điều mong ước đó.

Nếu tôi so sánh tôi với vô số những người khác, tôi thấy họ quan trọng hơn tôi nhiều, vì tôi chỉ có một trong khi những người khác thì số đông. Lại nữa, giáo lý Phật Giáo Tây Tạng dạy chúng ta nên xem mọi chúng sanh như những thân mẫu của chúng ta và nên bày tỏ lòng biết ơn, yêu thương họ.

Vì theo lời Phật dạy chúng ta sinh ra và luân hồi trong nhiều đời nhiều kiếp, cho nên ai cũng có thể là cha mẹ của chúng ta trong đời này hay đời khác. Do đó, tất cả mọi người ở thế gian này đều có liên hệ gia đình với nhau.

Bất cứ ai dù có tin đaọ giáo hay không, họ vẫn tán dương tình thương và lòng từ bi. Ngay khi chúng ta vừa mới lọt lòng, chúng ta đã được sự chăm sóc của cha mẹ chúng ta, và sau này trong cuộc sống, khi chúng ta gặp đau khổ vì bệnh hoạn hay già yếu, chúng ta cũng cấn đến tình thương và giúp đở của những người khác.

Nếu từ lúc sinh ra cho đến giờ phút lìa đời trong cuộc sống, chúng ta đã phải nương nhờ đến lòng tốt của mọi người, thì tại sao trong đời sống chúng ta lại không bày tỏ lòng thương yêu của mình đối với những kẻ khác.

Sụ phát triển lòng thương yêu (tình cảm thân thiện đối với mọi người) không liên quan gì đến lòng sùng đạo mà chúng ta thường áp dụng trong sự thực hành tôn giáo. Nó không những chỉ dành riêng cho kẻ có tín ngưỡng mà cho mọi người không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay đoàn thể chính trị.

Tình thương cần thiết cho bất cứ ai, nam lẫn nữ tự nhận thấy mình trên hết, là một phân tử trong đại gia đình của nhân loại, cũng như đối với những người nhìn thấy sự việc từ nhận thức bao quát và xa rộng hơn. Đó là thứ tình cảm đạo đức mà thay vì không lưu tâm, chúng ta nên phát triển và thực hành nó, đặc biệt đối với tuổi thanh xuân, khi chúng ta nhận thức được rằng kiếp sống con người là vô thường, không bền chắc.

Khi chúng ta tìm hiểu vấn đề một cách bao quát hơn, chúng ta nhận thấy mọi người đều muốn có hạnh phúc và không thích khổ đau cũng như ý thức rằng trong tương quan với vô số người khác, cá nhân chúng ta không có gì quan trọng; và khi ấy, chúng ta có thể nghĩ rằng mang tài sản của chúng ta ra chia xẻ, giúp đỡ cho người khác là điều đáng làm.

Nếu luyện tập cho mình có được nhận thức như vậy, giá trị chân chính của lòng từ bi- ý nghĩa đích thực của tình thương và sự kính trọng kẻ khác- sẽ trở nên là điều mà chúng ta có thể thực hiện được.

Hạnh phúc cá nhân không còn là ý thức nỗ lực tìm cầu của chính bản thân mà nó trở nên thành quả tự nhiên và tuyệt luân của mọi sự phát triển về tình thương và hành động cứu giúp cho những kẻ khác.

Lòng từ bi chân chính còn mang lại kết quả khác của sự phát triển tinh thần cũng như rất hữu ích cho đời sống hằng ngày vì nó giúp cho tâm mình được sáng suốt và thanh tịnh.

Cuộc đời chúng ta luôn luôn biến đổi và gặp nhiều khó khăn. Những khó khăn đó sẽ được giải quyết thành công khi tâm chúng ta bình tĩnh và sáng suốt. Nếu chúng ta không kiểm soát được tâm mình vì lòng oán giận, ích kỷ, ganh ghét và sân hận; chúng ta sẽ không còn lý trí để xét đoán.

Vào những giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới. 

Huỳnh Bất Hoặc

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 202612:23 SA(Xem: 2782)
Từ những chuyến đi Ấn Độ năm 2010 và 2016, đặc biệt là chuyến đến Varanasi – thành phố bên dòng Ganga linh thiêng – Nguyễn Chí Trung mang về không chỉ những hình ảnh của một miền đất, mà còn những ám ảnh về sự sống, cái chết, niềm tin, tình yêu và thời gian. “Tam Ca Sông Hằng – Ganga Trilogy” được viết tại Đức từ cuối tháng 3 đến tháng 12 năm 2016.
23 Tháng Chín 202611:16 CH(Xem: 2323)
Tôi đến với phê bình văn học bằng một tình yêu khá đặc biệt. Tôi mê nhận định tác phẩm, thích lần tìm những tầng nghĩa ẩn sau một câu thơ, một hình ảnh, một chi tiết văn chương: thích đi từ cái đẹp của câu chữ để chạm đến những điều sâu xa hơn trong tâm hồn người viết.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
22 Tháng Chín 202610:40 CH(Xem: 3245)
Gã ngược miền ký ức Tìm về tuổi đôi mươi Tim rộn ràng náo nức Gọi đò ơi... ơi... ời..
22 Tháng Chín 202610:27 CH(Xem: 3233)
Sâu dưới biển là căn phòng tối anh đen em đen. Anh không có quyền sinh nghĩa cho em.
22 Tháng Chín 202610:17 CH(Xem: 2160)
Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…
22 Tháng Chín 202610:08 CH(Xem: 2787)
Có một dòng sông đã hơn một lần chôn vùi giấc mộng xâm lăng của một đế chế phương Bắc hung hãn. Vâng, bạn biết không, không chỉ một, không chỉ hai, mà đến ba lần. Những đội quân hùng mạnh nhất châu Á. Các chiến binh dũng mãnh của các triều đại Nam Hán, Tống, Nguyên đã từng vùi xác nơi này bởi dòng nước, bởi bùn lầy, và trí tuệ con người. Dòng sông ấy mang tên Bạch Đằng Giang.
22 Tháng Chín 20269:55 CH(Xem: 2229)
Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim HLTS, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử - Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh VN suốt một thế kỷ qua!
17 Tháng Chín 202611:54 CH(Xem: 2728)
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông.
17 Tháng Chín 202611:22 CH(Xem: 2964)
LGT: “Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26 tháng 8 năm 2026, bài viết này điểm lại những gì khoa học đã làm rõ và những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ về chuỗi tai biến khởi đầu từ sườn bắc Langtang Lirung. Đây không phải tường thuật cứu nạn, mà là một tổng thuật khoa học–môi sinh với ba nhận định chính.Thứ nhất, đây không phải một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ / GLOF điển hình, mà là chuỗi liên hoàn: sườn đá–băng sụp đổ → thác lở đá–băng → dòng bùn đá → lũ đậm đặc trầm tích.Thứ hai, khí hậu nóng lên, băng hà thoái lui và permafrost suy thoái tạo bối cảnh bất ổn lâu dài; nhưng những nghiên cứu mới cũng chỉ tới yếu tố cấu trúc địa chất và sự suy yếu của khối đá. Nguyên nhân trực tiếp của vụ sụp đổ vẫn chưa được xác định dứt khoát. Thứ ba, điều con người còn có thể chủ động là cảnh báo sớm và hợp tác xuyên biên giới, bởi nước lũ không cần sổ thông hành. . Từ tín hiệu địa chấn lúc 08:37 giờ Nepal đến “ký ức địa hình” / landscape memory của trận GLOF năm 2025, bài viết của BS Ngô Thế Vinh...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3826)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19657)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1628)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1780)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2296)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2408)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1454)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2209)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1948)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1368)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2404)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2616)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 802)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 997)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6404)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15895)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38860)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1477)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10684)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9880)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10008)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10810)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3452)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10353)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi