- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vi Thuỳ Linh Và Một Kiểu Tư Duy Về Lời

13 Tháng Tư 200912:00 SA(Xem: 123960)

Năm 1995, Vi Thuỳ Linh đăng in bài thơ đầu tay của mình trên báo Tiền phong. Năm 1999, nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ Khát của chị; Nguyễn Trọng Tạo khi viết lời tựa cho tập thơ đó, đã xác quyết mạnh mẽ rằng: Vi Thùy Linh đi vào thơ hiện đại bằng “con ngựa chữ nghĩa dậy thì”. Năm 2000 nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành tập Linh. Trong lúc tỏ ý tán thưởng tập thơ ấy, Nguyễn Huy Thiệp đã cao hứng cho rằng: so với các nhà thơ nữ trên văn đàn, Linh không chỉ “đáng kể nhất”, mà còn “nguy hiểm nhất”. Khoảng 5 năm sau, Vi Thuỳ Linh công bố tập thơ Đồng Tử, tập này được nhà thơ Vũ Mão ưu ái viết lời giới thiệu. Năm 2008, tập thơ song ngữ đầu tiên của chị ra đời. Đợi đến khi ViLi in love hiện diện trước công chúng, Vi Thuỳ Linh bất ngờ tuyên bố, chị sẽ tạm dừng thơ, để chuyển sang viết tuỳ bút và văn xuôi...

 Vi Thuỳ Linh thích sống một cuộc đời “động”, một cuộc đời nhiều thử thách và nhiều bí mật. Chị nhìn thấy ý nghĩa cuộc đời này chỉ được tạo sinh trong những cuộc đi dài, không thể ngừng nghỉ, cho nên chị đã dấn thân, thậm chí cả liều lĩnh để được khám phá, và được chinh phục những đỉnh cao, mà nếu chỉ có nhiệt huyết thôi thì không thể nào với tới được: “Viết văn không thể học mà thành được. Tôi không tin người ta có thể học và viết được thơ”. Thuỳ Linh nhấn mạnh rằng: viết thơ làm văn phải có “cảm xúc và tư chất”, vì nhờ chúng mà mỗi người có cái giọng riêng. Công thức sáng tạo đó của Linh, không mới mẻ gì cả. Song chắc chắn, nó đã biểu hiện một kiểu tư duy thơ, một cách làm cho thơ tồn tại, theo nghĩa mà ở đó một sự thuần lí tính không đưa đến sự thành công đáng kể nào.

Thuỳ Linh sinh năm 1980, nhưng đã có nhiều dấu hiệu khác biệt so với cái vùng tư duy và xúc cảm ở tuổi đó nhiều lắm. Chị sinh ra vào buổi những thi điệu đã quá già, mà những người đến với thơ ca bằng một tấm lòng trẻ chưa thật nhiều. Vì thế, chị đã từ chối không vin dựa vào truyền thống; không sống, không viết “theo kiểu bầy đàn”. Nhưng chị cũng không thể làm thay đổi cái bản thể đích thực của mình, để trở thành một người rụt rè trước những cái đã thành “phong tục”. Thuỳ Linh “dám mới”, thậm chí sốt sắng cải tạo tinh thần của thi ca. Và đến giờ, chị đã trở thành một người “mất nết”.

Vi Thuỳ Linh thường nói về sự “sinh nở” của thơ ca, của con người. Nỗi ám ảnh về sự “sinh nở”, về sự tồn tại, về bản chất giới tính…đã vây riết Thuỳ Linh, bao bọc Thuỳ Linh. Thuỳ Linh đưa cuộc sống và tâm hồn mình vào trang viết. Chị không viết cái gì khác mình. Chị đã “sống được bằng ngòi bút”.

Thuỳ Linh rất sợ sự thất bại, chị càng nói một cách tự tin và mạnh mẽ bao nhiêu, thì nỗi lo âu cố hữu trong lòng chị càng lộ rõ bấy nhiêu. Thuỳ Linh rất thích sự “cô đơn”, cho nên thường vẽ ra trên khung giấy của mình hình ảnh một nhà thơ độc mã trên con đường sáng tạo; thế nhưng chị cũng thường xuyên tụng ca sự hoà hợp của tâm hồn, của thể xác- theo cách mà nỗi cô đơn sẽ trở thành thù địch của nó. Vi Thuỳ Linh muốn chinh phục độc giả bằng tài năng, bản lĩnh của mình: tôi muốn viết “sao cho cả những chị bán miến, anh xích lô cũng đọc được và thích thơ mình”[1]. Song lại giao ước trước với mọi người rằng: thơ của Linh không thuộc về công chúng; không phải “ai muốn sử dụng thì sử dụng”, muốn “hát thơ” của tôi thì phải tôn trọng luật bản quyền.

Chỗ này Vi Thuỳ Linh bảo “nghề viết giúp tôi sống ổn...tôi tự lực để tạo dựng tên tuổi trong thơ và thơ ca cũng giúp tôi tự lực trong cuộc sống”; còn chỗ kia chị lại nói: “tôi không bao giờ nghĩ đến việc mình làm tiền với thơ. Chỉ nghĩ đến điều đó thôi, tôi đã cảm thấy phản bội với mình, với thơ,...mục đích của tôi không phải biến thành ngôi sao, không phải để nổi tiếng, không phải để làm tiền”.

Thuỳ Linh đã đặt tình yêu và tình dục đẹp lên trên tất cả, nhưng vẫn không quên phê phán những người không từ bỏ được tham, sân, si và không diệt được dục. Thuỳ Linh thích mình trở thành thủ lĩnh, thành người mở đường: “tôi hay dấn thân vào những cái chưa ai làm, hoặc không ai làm được”, “tôi biết tất cả những người đi đầu bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi...”, tôi đã “đương đầu chịu nạn…cho những người viết trẻ”. Nhưng chị vẫn thường trích dẫn ý tưởng của người khác theo kiểu: bất kì ai muốn biểu hiện sự gặp gỡ, sự đồng điệu nằm ngoài không - thời gian hoặc muốn an toàn thì không còn cách nào tốt hơn thế. Thuỳ Linh tự nhủ mình phải tận hiến, tận lực cho sự sáng tạo và cho tình yêu chẳng khác gì một kẻ cuồng tín. Nhưng lại rất tỉnh táo, thậm chí lạnh lùng trước những kẻ mà chị cho rằng hắn “chẳng đáng một xu thời gian”. Thuỳ Linh than phiền vì mình đã “đánh mất tuổi thơ”, đã đánh mất cảm giác thèm muốn ngay khi còn rất nhỏ. Nhưng lại nói nhiều về những ham muốn rất bản năng của con người. Thuỳ Linh tự nhận mình “biết sống khiêm nhường”, nhưng thường thuận miệng tạo cho phát ngôn của mình một ấn tượng nào đấy, chị tâm sự: “tôi ghét những câu trung dung, ba phải, thiếu cá tính”. Thuỳ Linh tôn vinh sex, tôn vinh tình dục, nhưng lại tự nhận mình đã sùng mộ lối sống hướng thượng và thánh thiện. Chị đã sống, đã đi và đã viết thật mạnh mẽ, thật táo bạo. Nhưng lúc nào cũng cảm thấy mình vẫn còn yếu đuối và đang “trông cậy vào sự chở che của đấng siêu nhiên”. Thuỳ Linh cảm thấy mình “hiện đại, mãnh liệt…một cách khác biệt”, nhưng lại nói nhỏ với mọi người rằng: “tôi sống theo nguyên tắc đạo đức truyền thống” đấy các bạn ạ. Thùy Linh quả quyết: “tôi sống và viết vì đời sống giá trị thực sự, chứ không vì đời sống dư luận”. Nhưng thực tế thì chị vẫn phản ứng khá mạnh mẽ trước các hiện tượng dư luận mà chị coi thường. Thuỳ Linh cảm thấy cuộc sống hiện tại của mình “thiếu bình yên và che chở”: “tôi tự lực làm tất cả, kể cả việc an ủi và chở che cho mình bằng tấm thân gầy mảnh và tâm hồn nhạy cảm”. Song chị vẫn bảo mọi người rằng : “bạn tôi...luôn che chở và bảo vệ tôi”. Một mặt Thuỳ Linh chối từ dan díu với văn chương truyền thống, mặt khác lại thừa nhận: có nhiều nhà văn, nhà thơ lớn mà chị từng đọc và ngưỡng mộ đã ảnh hưởng đến mình. Trước kia chị bảo “trong nghệ thuật, tôi không có thần tượng...khi viết tôi không bị ảnh hưởng của ai...tôi tâm niệm mình phải làm cái gì đó khác lạ...phải viết khác với người khác...hoặc người khác muốn cũng không viết được”. Về sau chị nói: “tôi chịu ảnh hưởng của những người đàn ông...tôi bị ảnh hưởng của niềm tin Á Đông về kết thúc có hậu”. Vi Thuỳ Linh đã cảm thấy mình được trấn an khi nhà cách mạng Ấn Độ bảo rằng - thơ cần cho con người, thơ cần thiết cho nhân dân. Nhưng đến lúc chị bày sàng giữa chợ một món thơ tân kì kiểu Thuỳ Linh, và làm marketting một cách chuyên nghiệp về nó, thì không ít người vẫn cứ kiên nhẫn tuyệt thực. Tư duy của Thuỳ Linh khá phức tạp. Chị có một tư duy đa phức. Không nên đòi hỏi và không thể đòi hỏi ở chị, mỗi lúc tư duy phải tuyệt đối chính xác. Chị không thuộc về một trật tự nào cả. Chị có thể tự đối thoại với chính mình, và được phép tự mâu thuẫn để cái vỏ của thơ ca nơi chị căng cựa nứt ra. Chúng ta hiếm khi bắt gặp trong lời của Vi Thuỳ Linh sự thống nhất, hoà hợp của các đối cực. Đa phần các đối cực được đặt cạnh nhau và quan hệ với nhau theo cách mà chúng được phép đi đến tột cùng giới hạn của nó. Đối với Vi Thuỳ Linh mọi cảm xúc, nghĩ suy đều phải đạt đến điểm cực đại của mình. Lời của Linh vẫn hay bị hơ quá lửa. Chẳng phải chúng ta thường chạm mặt với sự cháy nóng hoặc sự cực đoan đến khó chịu của chị đó ư?.

Mọi lời của Vi Thuỳ Linh đều tập trung vào đề tài tình yêu và sự vĩnh cửu. Tình yêu làm nên sự vĩnh cửu, sự vĩnh cửu chỉ có được nhờ tình yêu. Ngoài tình yêu, Thuỳ Linh không còn một cái tôi nào khác, cũng không biết đến một chân lí nào hơn. Thuỳ Linh luôn nghĩ rằng trên đời này chỉ có tình yêu sinh ra chân lí, chỉ có tình yêu mới làm rạn nứt được những lề lối đã cũ mòn, vµ chỉ có tình yêu mới đem lại giá trị đích thực cho con người cá thể. Cá tính của Thuỳ Linh, năng lượng tinh thần của Thuỳ Linh đều dồn tụ vào lĩnh vực tình yêu, triển khai thành tình yêu và quy tụ về tình yêu. Tình yêu vừa trở thành cảm hứng, vừa trở thành động lực sáng tạo của Thuỳ Linh. Thuỳ Linh quan niệm: nhà thơ có thể tìm thấy mình trong tình yêu; và có thể biến đổi mình, biến đổi thơ bằng tình dục. Linh bảo: tôi tôn vinh sự hoà quyện thể xác trong tình yêu, tôi ngưỡng mộ vẻ đẹp thân thể, và luôn khai thác, ngợi ca vẻ đẹp ấy. Linh nhấn mạnh rằng, sex đánh dấu sự tồn tại của tôi, của con người, sex làm cho sự sống của tôi thăng hoa, sex đánh dấu cái mùi đặc trưng của tôi trong nghệ thuật. “Người ta mê nhau vì mùi”. Linh đến với thơ ca, và đã thành công trước hết ở việc tạo ra cái mùi đó. Thơ của Vi Thuỳ Linh đậm đặc mùi của tình yêu, của tình dục. Thơ của Linh chỉ có mùi của Linh, cảm giác của Linh. Mùi của Linh được bộc lộ bằng thơ, bằng lời, bằng tất cả các động từ và tính từ quyến rũ. Mùi của Linh được hình thành từ và trong quan niệm mới về sự thật, về đạo đức, về giá trị, về ý nghĩa…Mùi của Linh sinh ra từ nỗi đam mê được sáng tạo.

Trong Tuỳ viên thi thoại, Viên Mai có viết rằng: làm thơ cũng giống với nấu rượu. Thơ và rượu đều có mùi. Người thạo uống rượu nếm đủ mùi sẽ nói, rượu này từ Nam Kinh tới, rượu này do Tô Châu đưa lại. Người sành thơ nếm đủ thơ, sẽ nói thơ này của Vi Thuỳ Linh, thơ kia của Trần Dần, Lê Đạt. Nhưng: do đâu mà rượu ở mỗi nơi có vị riêng? Viên Mai nói: cái ngon giống nhau mà vị khác nhau vì mỗi nơi có cách nấu khác nhau. Sáng tạo thơ ca cũng vậy, mỗi người một cách làm. Thơ của Linh được làm ra từ công thức do Linh tự chế, nên đã thực sự có một mùi riêng, một vị riêng- không thể hoà lẫn với các trang viết khác. Chẳng phải ngẫu nhiên, Vi Thuỳ Linh từng tỏ ý bất bình trước chuyện: một số cô gái trẻ ra sách, khi trả lời phỏng vấn đều nói rằng họ đã vượt qua Linh. “Đỗ Hoàng Diệu chẳng hạn. Cô ấy tuyên bố, bằng chuyện viết về tình dục, Đỗ Hoàng Diệu đã đưa tôi vào quá khứ”. Có lẽ đọc những câu thơ viết về tình dục của Linh, và một số văn thi sĩ khác, chúng ta nên tính tới cả ba mặt: sinh học- tâm lí và tâm linh. Nietzche nói: “Trong một tình yêu đích thực, chính tâm hồn bao bọc lấy thân thể”.

 Xét trên phương diện chất liệu, Vi Thuỳ Linh không đem đến cho chúng ta một cái mới nào. Trước khi có Linh và thơ Linh, tình yêu và tình dục đã có một chỗ đứng nhất định trong đời sống trần tục, đời sống tâm linh và cả ở văn chương. Đối với trường hợp Vi Thuỳ Linh, tôi nghĩ, nên bàn tới một tinh thần cải tạo thi ca đan xen trong những nhận xét về vấn đề cá tính, tư tưởng của chị. Song tất cả những điều đó chỉ thực sự đầy đủ ý nghĩa, khi được liên hệ với những rào cản của văn hoá, của xã hội đã tồn tại từ trước hoặc đang hình thành, bao gồm cả những định kiến và nỗi dè dặt của mỗi chúng ta. Không nên tin nhiều vào câu chữ, vào “những tít lạ, những chữ lạ”. Vì trên thực tế, ngôn ngữ không chỉ thể hiện tư tưởng mà còn xuyên tạc tư tưởng. Điều đó, cũng tương tự với điều mà chúng ta có thể nói được rằng: trước Vi Thuỳ Linh người ta dùng nhiều tính từ để nói về tinh yêu, tình dục, nhưng đến Vi Thuỳ Linh, các động từ đã thay nó để làm nhiệm vụ đó, và sự thực thì chúng đã làm được một cách vẻ vang. Vi Thuỳ Linh ao ước: nếu bây giờ được quay trở lại, vẫn còn mang cái đầu bây giờ, thì tôi sẽ mới ngay từ năm 1995 chứ không phải đợi mãi đến 1999[2]. Vi Thuỳ Linh đã xây dựng một không gian thơ của mình, đã nói về thơ của mình một cách một cách hồ hởi và đầy tin tưởng; chị hình dung mỗi hành động sáng tạo của mình đều giống với một cuộc sinh nở rất nhọc nhằn, nhưng đầy ý nghĩa. Thuỳ Linh đã bị chữ ám, đã bị thơ ám đến nỗi chẳng còn biết mình tạo ra thơ hay thơ đã sinh ra mình nữa. Thơ bao bọc ảo tưởng cùng lòng ham muốn vô bờ bến của chị. Thơ nhấn chìm chị vào cảm giác của một tình yêu trần thế. Thơ đánh thức ở chị cái ham muốn được thăng hoa từ bản năng tính dục ở con người. Thơ đem lại cho Vi Thuỳ Linh một không gian đủ lãng mạn và đủ hưng phấn để chị bộc lộ những mặt mạnh và mặt yếu thuộc về phái tính. Thơ trở thành một phương tiện giải toả xúc cảm tình dục vốn đã hoà trộn một cách tự nhiên và hấp dẫn trong tình yêu lứa đôi ở chị. Thuỳ Linh không để cho mình yên trong những suy nghĩ về thơ, và trong cách làm thơ. Linh nói về thơ một cách đầy suy tư so với những người viết trẻ cùng thời. Tôi luôn thấy một Vi Thuỳ Linh kiêu hãnh không có giới hạn, một Vi Thuỳ Linh muốn trở thành đàn ông để “làm được nhiều hơn những gì mình muốn”, một Vi Thuỳ Linh muốn làm một người đàn bà thật khác biệt, nhưng cũng đầy ham muốn đời thường. Chị bảo: tôi muốn “được làm một người đàn bà bình thường”. Nhưng lại thêm: “tôi có vẻ đẹp riêng biệt, nữ tính cũng riêng biệt”, “nếu ở đảo hoang chắc chắn tôi sẽ sống dữ dội hơn”.

 Thuỳ Linh nói nhiều về thời gian: thời gian yêu, thời gian sống, thời gian viết...Muốn chiếm giữ nhiều thời gian để sáng tạo và tận hưởng. Muốn sống trong thời gian, xuyên qua thời gian bằng cách “trôi qua nhiều cuộc đời”. Thời gian của Thuỳ Linh luôn giàu mơ ước, dự định, khao khát. Thời gian ấy gắn liền với sự sáng tạo, với những mặc định về thiên chức, về sứ mệnh của giới tính. Thời gian được tạo thành bởi những việc làm hối hả, bề bộn. Thời gian được hình dung từ niềm ham sống và cách sống quyết liệt, cuống quýt của nhà thơ. Thời gian vận động và ngưng lại trong kí ức. Thời gian được cảm nhận từ phương diện ý nghĩa của nó đối với mỗi cá thể người. Thuỳ Linh đã có nhiều cố gắng giá trị hoá từng khoảnh khắc thời gian, vì chị “quý thời gian”. 

Sự sáng tạo của Thuỳ Linh luôn diễn ra trong ồn ào, với biết bao hệ luỵ ngoài ý muốn. Nhiều khi chị cảm thấy mình bị tổn thương, bị ngáng trở bởi những lời đàm tiếu của dư luận. Song về cơ bản, Vi Thuỳ Linh luôn mạnh mẽ. Chị sống bằng một kiểu tư duy mở, viết bằng một lối nghĩ suy nhiều ham muốn, nhiều đỏi hỏi. Chị thực sự có năng lực làm mới và luôn nghĩ mình sinh ra để làm mới thi ca. Không nên ngạc nhiên khi thấy Vi Thuỳ Linh tức giận vì ai đó chê thơ cô rất dở. Nhưng cũng nên dành một góc để nhớ- bài học sau đây. Một phóng viên của tờ báo nọ đã đưa ra một tình huống giả định thế này: nếu ai đó chê thơ của chị rất dở, chị sẽ đối đáp thế nào? Vì Thùy Linh hồn nhiên bảo: anh đã đọc thơ tôi chưa, thử đọc những câu thơ dở của tôi và phân tích cho tôi xem nó dở thế nào; nếu anh không làm được điều đó thì đích thị anh đã a dua nói xấu tôi rồi. Thuỳ Linh kết lời bằng một giọng có vẻ kiên quyết: “gặp những hạng người không biết gì nhưng a dua nói theo…tôi rất khinh thường”. Vi Thuỳ Linh rất thích sự độc lập trong ý tưởng và nhận định. Nhưng chị đã có phần cực đoan trong quan hệ với độc giả ở trường hợp đó. Đành rằng, thái độ dứt khoát và thẳng thắn của chị thật đáng quý. Song, có lẽ, sẽ hợp hơn nếu chị thừa nhận, ngoài cái tôi của chị ra, thì cái tôi của người khác cũng có giá trị. Tôi thấy, ở những trường hợp mà sự chủ quan và tự tin thái quá kiểu đó xảy ra, Vi Thuỳ Linh thường quên nói to lên rằng- tôi cũng rất cần sự thông hiểu và sẻ chia của độc giả, nhưng tôi rất ghét sự hồ đồ; đối với tôi ngoài những cái hữu lí và lôgíc ra thì không còn gì có thể chứng tỏ được một nhận định nào đó đã thật công bằng và khách quan đối với thơ của tôi cả.

Thuỳ Linh tự tin nói về cái tôi độc sáng của mình. Ý thức về cái tôi ở Thuỳ Linh gắn liền với ý thức về hưởng thụ, về quyền sở hữu. Chị bảo: tôi không bao giờ ăn cắp thơ của ai và cũng sẽ ngăn chặn để không ai ăn cắp ý tưởng sáng tạo của tôi bằng cách đăng kí bản quyền. Vi Thuỳ Linh rất chuyên nghiệp trong việc chống lại sự lãng quên. Chị cũng biết cách giữ cho cái riêng, cái độc đáo của mình không để ai có thể mô phỏng, tranh đoạt được.

Vi Thuỳ Linh có xu hướng đối lập mình với người khác bằng cách tự tách mình ra khỏi phong trào, ra khỏi cái xu thế chung của đám đông. Chị sẵn sàng nghi ngờ lời nói của người khác, nhưng chớ có ai nghi ngờ cái giọng nói sang sảng của chị: “Tôi nghi ngờ những ai khoe có tới cả nghìn bài thơ, tôi viết cũng nhiều lắm, nhưng còn lại khoảng 200 bài khiến tôi hài lòng. Càng ngày tôi càng cảm thấy viết khó hơn vì tôi khắt khe với mình hơn”. Thuỳ Linh thường nói về lao động sáng tạo một cách có lí luận. Lí luận của Linh thật gần gũi và phổ biến đối với những người mới bước vào nghề. Vì vậy, giả sử sau khi sàng lọc quặng thơ, Linh tạm hài lòng với hai trăm bài thơ đã sáng tạo, thì chúng ta cần nhìn phóng khoáng hơn nữa, để nhận thấy rằng, trên thực tế có đến hai trăm lẻ một bài thơ của Linh đọc được.

Với Vi Thuỳ Linh, nhà thơ cũng cần nói nhiều về sự sáng tạo của mình, về vị trí của mình trong nền văn học cả nước, và nếu có dịp cũng nên thổ lộ cho độc giả biết mình đã nhọc nhằn, vất vả ra sao để có được thành tựu lớn lao chừng ấy: “tôi làm việc quá tải và bạc đãi cơ thể mình”, tôi đã “tiêu xài những năm tháng thanh xuân của mình cho việc viết”, “tôi thuộc về thơ nhưng không chỉ dành riêng cho thơ”, “muốn làm thơ tôi phải cắt giấc ngủ của mình”... và phải“ trả bằng máu, nước mắt và sự sống”. Khẩu âm của Vi Thuỳ Linh rất hoạt, vì chị đã hiểu rằng những tiếng nói ngoài thơ có thể làm cho sáng tác của mình thơ hơn nữa.

Vi Thuỳ Linh có một cách riêng để buộc mọi người nhớ đến thơ, đến tình yêu và sự sống của chị. Chẳng hạn, khi được hỏi về một chặng thơ mới, Vi Thuỳ Linh đã giới thiệu rất hấp dẫn thế này: “ tôi đã im lặng thật lâu để sốc lại tinh thần, để thoát xác khỏi “Đồng tử”. Bởi chính tôi tự khắt khe với chính mình, tôi không muốn nối dài “Đồng tử”…tôi, một Vi Thuỳ Linh mới mẻ và bất ngờ. Mỗi lần đến tôi sẽ mang theo một niềm bí mật”. Vi Thuỳ Linh quan niệm: sống trong“thời buổi bùng nổ của Internet, của truyền hình cáp, của telephone... thì không thể im lặng”, chị chủ trương"phải biến văn học thành một nhu cầu,... khuyếch trương thương hiệu của nhà thơ để công chúng số đông chú ý đến văn học", vì : "mỗi người chỉ cần tò mò một chút, quan tâm một chút, sẽ tạo thành hiệu ứng dây chuyền".

Vi Thuỳ Linh đi trên con đường mới, và chị cũng đã tìm được những cách thức mới để tác phẩm của mình có thêm cơ hội tiếp xúc với độc giả. Chắc chắn chị phải sống cùng nhịp với cuộc sống hiện đại, thì mới nhận thấy, giờ đây, muốn làm cho tác phẩm của mình được sống, được đọc, được đầu tư - người làm thơ luôn phải chủ động tạo ra những khế ước ngoài thơ. Khế ước này luôn hiện ra thành lời, tồn tại bằng lời, và thường có sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin đại chúng. Với Linh “tất cả mọi thứ phải làm văn bản, hợp đồng…”, phải có người thứ ba làm chứng. Sự “thành thật” của một cá nhân không thể chỉ thổ lộ ở một không gian hẹp. Nó phải loang lan rộng rãi, vì công chúng có quyền được biết đến nó và đang chờ đợi nó. Trong tư duy của Linh, những sự thực đích thực của thế giới, của tâm hồn luôn được đưa lên bệ phóng.

Thuỳ Linh biết cách “tự toả sáng để trở nên lộng lẫy”. Chị nói về thơ của mình, nói về tính cách của bản thân không ít hơn những lời phê bình về tác phẩm của chị. Làm thơ đối với chị trở thành nhu cầu, thành định mệnh, thành sự sống, thành minh triết theo kiểu của thơ, thành một cách đi tìm chính mình ở những nơi thơ nhất. Làm thơ, đối với Thuỳ Linh cũng quan trọng không kém việc con người hằng ngày phải ăn uống, phải hít thở, phải yêu thương.. để sống: “tôi không thể không viết và không yêu”. Thuỳ Linh chủ trương khám phá tất cả những cảm xúc bí ẩn và bay bổng của con người bằng tưởng tượng, bằng sự thể nghiệm nhập vai. Đọc thơ Linh phải đẩy Linh ra xa để mà đối thoại, mà tranh cãi về sự khác thường.

Vi Thuỳ Linh thuộc kiểu người sinh ra để làm “những chuyện lớn” một cách lãng mạn, đôi khi khá viển vông. Không phải ngẫu nhiên mà chị cho rằng mình có khả năng thay máu cho thơ - bằng cách đưa vào thơ lời thẳng thắn, mạnh bạo về sex, về tình dục đẹp. Thuỳ Linh chống lại “sự cam chịu và giả dối” bằng cách công khai những cảm giác, những cảm xúc libido có ở mỗi con người. Linh nói: tôi không chỉ “miêu tả và phục hiện cuộc sống trên trang viết mà còn muốn tạo dựng, phơi mở một thế giới khác trong chính thế giới hiện thực này”. Với chị, không có gì có thể cấm đoán, có thể kiểm duyệt, có thể làm biến dạng cảm xúc libido của con người, kể cả những tín đồ của một kiểu thơ “thanh sạch” nào đấy; không một sức mạnh nào có thể ngăn cản được sự vận động của thơ; không có một cái nhìn khắt khe nào có thể chế ngự được lòng ham muốn của chị. Chẳng phải qua thơ và trong thơ, Vi Thuỳ Linh đạt được những khoái cảm đẹp đẽ nhất, tiêu biểu nhất về libido, về những xúc cảm đang bị nhiều người hắt hủi, xua đuổi ư? Ở một phương diện nào đó, chị đã biến thơ ca thành một dạng khảo cứu cảm xúc và bản năng để tổ chức ra bản thân mình. Chị nói “ tình dục đẹp thăng hoa sự sống, những câu thơ hay nhất của tôi thường khởi phát trong sự tôn vinh và thăng hoa ấy”, hay “sex cho con người tìm kiếm và tìm thấy, trong cảm xúc nhiều biến đổi của họ”. Xét cho cùng, đối với người này thì libido chỉ tồn tại dưới dạng vô thức, tiềm thức, còn đối với Linh xung năng libido đã được chuyển hoá một cách tự nhiên thành tự ý thức trước khi tái xuất hiện dưới hình thức thơ. Hay đối với ai đó libido chỉ được thể hiện dưới dạng một ám chỉ, còn đối với Linh, nó không được phép giấu giếm, nó phải xuất hiện một cách đường hoàng, đầy tự tin ở nơi mà nó phải có mặt. Lời của Linh gói đựng cả một “ý thức chuyên chế” hoá thơ ca đương đại. Chị muốn kiểm soát tất cả, nên nuôi tham vọng “vẽ bản đồ tình yêu cho đủ hết mọi người”. Chị đặc biệt có hứng khởi trước nhận định- cho rằng Vi Thuỳ Linh đã “giải phóng phụ nữ trong thi ca”. Tôi thấy, Vi Thuỳ Linh muốn trấn áp dư luận để xây dựng một vị trí vững chắc của mình ở thơ, bằng những tuyên ngôn có sức nổ lớn; chị muốn phục sinh tâm hồn và làm cho trái đất “non tơ trở lại”. Mọi nhà thơ có quyền nói to những khao khát của mình lên. Không ai ngăn cấm được họ điều đó. Linh cố gắng vận động để tu duy cũ tiêu trầm đi. Chị thực sự mang trong mình một kiểu tư duy thơ hiện đại.

 Giống với nhiều tác giả trẻ khác, sau giai đoạn viết một cách bồng bột và đầy bản năng - Vi Thuỳ Linh cũng cảm thấy mình viết rất khó vào: “hồi đầu tôi viết bằng bản năng, bây giờ khi cảm xúc đến thì tôi kìm nó lại, nung nấu nó trong đầu, sau đó triển khai nó trong một cấu trúc mà tôi chọn...tôi viết chậm hơn trước đây, khó nhọc hơn trước đây”, “càng ngày tôi càng cảm thấy viết khó hơn vì tôi khắt khe với chính mình hơn”. Phải chăng Vi Thuỳ Linh đang nói về cái quy luật khắc nghiệt của sự viết? Thật ra, Vi Thuỳ Linh đang quảng cáo thơ mình, đang nói về quá trình xây dựng thương hiệu của chị. Ở đây, hoàn toàn không đơn giản chỉ có chuyện Vi Thuỳ Linh thấm thía sự nhọc nhằn của nghề chữ, càng không phải đến lúc này cảm hứng của chị đã loãng, vốn sống đã cạn hoặc đã nổi tiếng rồi thì phải thận trọng hơn. Vi Thuỳ Linh biết cách làm duyên, làm dáng cho cách nói, câu nói của mình. Chị biết tiếp thị- biết PR. Hễ có dịp chị lại tự bình thơ của mình, mở cánh cửa thơ của mình để rút ngắn khoảng cách với người đọc. Chị đã bình thơ từ ý thức của một người thủ xướng, đã mở những ngăn thơ một cách chủ động. Đằng sau những ô cửa thơ sang trọng của chị, ta thấy có một thế giới “rõ ràng một cách bí ẩn”. Đằng sau “những ma trận chữ” của chị vừa có một con đường rộng mở, vừa có một cái ngõ để- nếu- thích- thì ta rẽ vào.

Bất kì nhà thơ nào cũng phải tạo ra lời. Lời của nhà thơ, chẳng những phải in đậm dấu ấn riêng về cách tổ chức lời, mà còn phải đầy ắp tư tưởng. Nhưng để làm được điều đó, nhà thơ phải quan tâm đến kĩ thuật tạo ra lời. Kĩ thuật tạo ra lời, bao giờ cũng nói lên được tính chất chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp của người thợ lời. Bất kì ở đâu và lúc nào, Vi Thuỳ Linh cũng cố gắng để tạo dựng được cho lời một tính cách, một thái độ, một âm hưởng... Lời trở thành sự hiện hữu duy nhất của của Linh, trở thành sự thật duy nhất về Linh. Không có một “Vi Thuỳ Linh nhà thơ” ở ngoài lời. Lời đồng nhất với sự thực, với giá trị, với cá tính, với vẻ đẹp, với những gì riêng biệt và độc đáo. Lời của Linh thuộc loại lời trần tình. Linh lấy tính cách, lấy tình cảm của mình làm thơ; lấy “lời thực” và sự bạo liệt làm vẻ hiện đại; lấy “cảm giác thèm khát” không được thoả nguyện làm thi cách.

Lời thơ gắn với sự tồn tại của từng tác giả. Không có lời nào lại không có chủ thể. Bản thể của lời, giá trị của lời không phải cái gì khác ngoài ý thức của chủ thể tạo ra lời đó. Lời thể hiện chức năng của chủ thể. Mỗi lời mang một giá trị. Tôi thiên về cách đọc tư duy của chủ thể xuyên qua các lời, không đối lập lời thơ với các lời văn nghệ thuật khác, vì tôi xem các sự kiện phát ngôn của nhà thơ luôn luôn vận động, và nó có thể tồn tại ở dạng văn bản này hoặc văn bản kia, thậm chí chuyển hoá từ cái này sang cái khác. Khởi thuỷ từ Lời. Mọi lời nói đều có khả năng khai mở (ở mức độ nào đó) tư duy của chủ thể sáng tạo. Nếu trước thế kỉ XX, từ Platon, Aristotle đến Hegel, đặc trưng của các loại thể văn học chỉ được xét trong phạm vi khép kín của lời nói nghệ thuật, thì đến thế kỉ XX, người ta nghiên cứu thể của tác phẩm văn học trong cùng một dãy với các thể loại lời nói. Chính Bakhtin, người đầu tiên nêu lên tư tưởng này, đã khẳng định rằng, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động của con người, thì cũng có bấy nhiêu thể loại lời nói. Tôi quan niệm: mỗi kiểu lời nói ứng với một kiểu phát ngôn; mỗi kiểu phát ngôn thể hiện một cách tư duy của chủ thể; muốn biết tư duy của chủ thể ra sao, thì không còn cách nào khác ngoài việc cần phải khảo sát các kiểu phát ngôn của anh ta.

 Thuỳ Linh có một kiểu tư duy riêng về lời. Chị biết cách và thường làm cho lời của mình toát lộ một vẻ lạ. Ở đâu Vi Thuỳ Linh cũng “lắm lời”, “nhiều lời”. Ta tưởng chị đang dùng những mặt mạnh của giới để cưỡng bức độc giả chấp nhận những tìm tòi nào đó về câu chữ. Nếu coi sự nhiều lời của thơ, của chị gợi ra một trữ lượng cảm xúc dồi dào, một sự tư duy không ngừng nghỉ, thì sự nhiều lời của các bài trả lời phỏng vấn lại gây cho độc giả ấn tượng sâu đậm về một nhà thơ đang ở “độ tuổi cuồng nhiệt nhất của đời người”[3]. Cũng có trường hợp cho thấy, Linh nói nhanh, nói nhiều, chỉ vì “sợ không nói hết ý”, hoặc sợ chưa nói rõ được bản chất của sự việc. Tư duy của Linh ưa diễn dịch và loại trừ. Linh diễn dịch bằng cách tiến dần đến sự loại trừ; loại trừ một cách cực đoan, một cách quyết liệt. Bằng chứng thể hiện ở chỗ, Linh thường đối lập mình với đám đông, với “cái có trước”, thậm chí cả “cái đồng thời” để làm nổi bật những nét riêng, nét độc đáo vốn có ở mình. Đối với Linh, mọi phát ngôn đều chỉ thuộc về một trong hai đối cực: hoặc thế này, hoặc thế kia. Thùy Linh luôn dứt khoát trong lời nói, quyết đoán trong hành động. Chị không thích những cái mơ hồ và thường không hay trả lời lấp lửng, kiểu chẳng có cũng chẳng không, chẳng đúng cũng chẳng sai, hay vừa thế này lại vừa thế khác…Ở tư duy của Linh, chưa có chỗ đứng xứng đáng cho “nguyên lí bất định” của vật lí lượng tử.

Khi tạo lời, Linh chọn lọc từ ngữ, nhưng không gọt lời của mình cho vừa khuôn lời nào cả. Linh thật với lời, với cảm xúc mình. Ngay cả khi nó gai góc xù xì chị vẫn xốc nó lên giữa ngày mở sáng. Lời của Linh có một âm sắc riêng, một giọng riêng. Linh biết cách giữ lời của mình, không để người khác mượn giọng. Đọc Linh, nghe Linh phải chú ý quan hệ giữa chủ thể với lời. Linh sinh ra cuộc sống của lời, đem lại tính chất tự nhiên và tự do nhất cho nó. Linh cấp cho lời nội lực mạnh mẽ của mình và khiến nó không phải nguỵ trang dưới bất kì hình thức nào để tồn tại. Lời của Linh chỉ diễn dịch Linh. Rômen Rôlăng hoàn toàn có lí khi cho rằng: “chỉ có ai sáng tạo, người đó mới sống”.

Trong một số cuộc thoại, Thuỳ Linh thường khiêu khích độc giả bằng nhiều lời quyết liệt. Tính chất quyết liệt trong lời thoại của chị luôn bảo với chúng ta- không nên mất công tìm hàm ngôn làm gì. Song trên thực tế sinh động của lời thì chúng ta vẫn nên tỉnh táo trước cách chọn chữ, dùng chữ, tạo chữ của chị. Tư duy của Thuỳ Linh, nhìn chung không thật mềm để có thể nới rộng những giới hạn của sự sáng tạo. Vi Thuỳ Linh chỉ sáng tạo trong cái giới hạn mà chị đã vạch sẵn cho mình. Thơ của Linh, lời của Linh giống với một con dao hai lưỡi. Tôi nhớ, Vi Thuỳ Linh từng ví sự lao động của mình với một người thợ lò. Cả Linh và người thợ lò ấy đều phải cật lực mới đúc thành công những nguyên liệu của mình thành “con dao chữ”. 

 Vi Thuỳ Linh quan niệm lời thơ cốt ở sự chân thật: “dù không còn ai làm thơ tôi vẫn làm thơ… mãnh liệt và thành thật; tôi nhấn mạnh sự thành thật, vì… xung quanh, người ta “diễn quá nhiều”. Chỗ nào Vi Thuỳ Linh cũng nói đến “sự chân thật” của lời, và “sự mãnh liệt” của cảm xúc. Xem ra, ý thức về thể loại của Vi Thuỳ Linh chỉ quẫy đạp được trong cái vùng ấy. Chừng nào nhà thơ có ý thức mới về thể loại thì chừng đó thơ sẽ được đổi mới từ trong cốt tuỷ. Chừng nào quan niệm của nhà thơ hãy còn cũ, thì chừng ấy dù có nỗ lực sáng tạo bao nhiêu đi nữa, thơ cũng chỉ mới trong cái giới hạn có trước và đã cũ rồi của nó mà thôi. Nhiều người nghĩ rằng, đánh giá nhà thơ chỉ nên nhằm vào sáng tác của họ. Điều đó chẳng sai chút nào. Song cách làm đó, có phần cực đoan, nếu không muốn nói- đã thiếu đi một cái nhìn biện chứng. Con người khác con vật ở chỗ, nó “tạo nên một sản phẩm theo cái mô hình trong óc”[4] nó. Vậy nên, đối với người nghiên cứu, cả ba phương diện sau đây không thể xem nhẹ phương diện nào: thứ nhất- “mô hình quan niệm” của nghệ sĩ; thứ hai- sản phẩm được tạo ra từ cái “mô hình quan niệm” của anh ta; thứ ba - quan hệ giữa cái “mô hình quan niệm” và cái “mô hình thực tại” do anh ta tạo ra.

 Nương theo cách nhìn vừa nêu trên, chúng ta sẽ thấy hiện tượng sau đây: nếu nghệ sĩ viết về đề tài cũ bằng một tư duy cũ, trang văn chắc chắn sẽ chứa đầy âm khí. Nhưng viết về đề tài cũ bằng một tư duy mới, hiển nhiên trang văn vẫn sống động khác thường. Còn nếu viết về đề tài mới, mà tư duy cũ thì cũng chẳng có gì đáng bàn nữa. Vi Thuỳ Linh viết về đề tài chưa cũ, hơn nữa lại bằng một kiểu tư duy có nhiều điểm mới mẻ, điều đó phải được thừa nhận. Nhưng trước khi chúng ta công nhận, Vi Thuỳ Linh đã lật ngửa thơ của mình ra để dán lên đó cái nhãn mác “hàng mới” từ phương xa về. Ta thì quen dùng “hàng cũ”, “hàng tồn kho”, nên e dè trước một vài kiểu lạ. Có lẽ vì thế, chị vẫn làm mình làm mẩy mỗi khi chúng ta đi qua. Kể cũng lạ, mà cũng thật bình thường.

14/02/2009

Trần Thiện Khanh 

 

[1] Bài viết này khảo sát quan điểm sáng tác cùng tư duy của chị về thơ, về lời. Các đoạn trích lời của chị đều được chúng tôi để trong dấu ngoặc kép: “...”

[2] Năm 1999, nhà xuất bản Hội Nhà văn in tập thơ Khát của chị.

[3] Chữ dùng của nhà văn Torgny Lindgren

[4] Chữ dùng của Phan Ngọc

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 120020)
N hạc sĩ Nguyễn Đức Quang, một trong những người sáng lập Phong Trào Du Ca Việt Nam hồi thập niên 1960, vừa qua đời lúc 4 giờ sáng ngày 27 tháng 3 nhật tại California, Hoa Kỳ, thọ 68 tuổi.
26 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 104634)
M ỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên ngọn cây trong Thành nội.
26 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 121602)
G he chòng chành giữa dòng nước, tôi sợ hãi ngồi bám chặt mạn thuyền, mắt láo liên nhìn trời đêm sáng lờ mờ ánh trăng mười chín. Chúng tôi ngồi dồn đống trong khoang thuyền. Hai tên đàn ông to người chèo ghe gõ nhẹ trên mui báo hiệu đã đến nơi tạm an toàn, chúng tôi có thể cử động đôi chút. Người chèo mũi vén tấm lá che mui nhìn vào.
26 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 108603)
C húng tôi tới thị xã Cẩm Phả vào hồi mười giờ sáng. Một cơn mưa bất thường ập xuống, làm như trời cũng cảm được lòng người, nhỏ những giọt nước mắt của trời để làm chất xúc tác cho những giọt nước mắt của người có dịp tuôn trào.
25 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 98943)
Ở mức độ cao hơn một tiểu thuyết khiêu dâm, Florence Dugas dẫn người đọc tiến dần đến chỗ thưà nhận nỗi đau và sự chối từ hiện hưũ, mà nguyên nhân bắt nguồn từ một tuổi thơ bất hạnh. Viết thẳng tay bằng một văn phong sống sượng - nhưng không trơ trẽn - Florence Dugas, với tự truyện Thống Muội , đã bóc trần mọi tình huống, gây xót xa, băn khoăn, trăn trở nơi người đọc. Là giáo sư kịch nghệ của hàn lâm viện kịch nghệ tại Pháp, cô cho xuất bản Thống Muội năm 1996, lúc 28 tuổi.
25 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 103853)
C uộc phỏng vấn Cổ Ngư, Thận Nhiên, và Đỗ Lê Anh Đào với những tiêu đề: "Trở về cùng nhịp thở đất nước; Thơ, con đường ngắn nhất ; Việt Nam, không chỉ là một cuộc chiến" đã được Hợp Lưu thực hiện...
25 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 105884)
"Tôi mang đất nước tôi trong tim như một chàng trai mang chiếc bào thai đôi. Đó là sự nối kết dị thường. Nối kết với quê hương tôi và vì vậy bào thai đôi này phải được che đậy, bóp nghẹt, công nhận và cũng đồng thời bị từ chối. Thế là ta mang nó như mang một đứa trẻ đã chết. Sự nối kết dị thường buộc tôi phải có mối quan hệ với một đất nước khác.
24 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 112599)
N gay sau khi tỉnh dậy, Aisawa đã đi tìm bố mẹ và những người thân của mình. Mỗi ngày cậu bé đều để lại lời nhắn trên giấy: “Con sẽ đến vào 11h ngày mai, xin hãy đợi con. Con sẽ đến vào ngày mai”. Những dòng chữ nhắn nhủ của cậu bé này đã khiến cho bất kỳ ai dù là cứng rắn nhất cũng phải rơi lệ.
23 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 108130)
B ắt chước nhà văn Song Thao, tôi dùng vỏn vẹn chỉ một chữ, làm tựa đề cho cuộc trao đồi này. Nhà văn Song Thao cư ngụ cùng thành phố với tôi, mặc dầu chẳng “cách hai đoạn đường dài”, mặc dù không “cách nhau một dậu mồng tơi”… nhưng gạt bỏ vấn đề địa hình nhiêu khê nọ, chúng tôi luôn gần kề trong gang tấc, bởi giản dị, chúng tôi cùng táy máy “vọc chữ” dưới ngôi nhà chung: Văn chương. Lần chuyện trò này, hình thành do hai điều: Thứ nhất, những người bạn phương xa của tôi vẫn thường dọ hỏi: Song Thao là ai? Thứ hai, cách đây mấy hôm, nhà văn chung “phường khóm” với tôi đã vừa in xong cuốn Phiếm số 9. Để câu chuyện đi gần với tinh thần “vui thôi mà” của cố thi sĩ Bùi Giáng, tôi tránh hỏi tới những vấn đề nặng nề, nghiêm trọng của tình hình đất nước. Hy vọng những người từng tủm tỉm cười khi đọc Phiếm, sẽ hay biết đôi điều về tác giả, vốn kín tiếng nhưng rất sung (hiểu ở nghĩa viết mạnh). Hồ Đình Nghiêm
22 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 148456)
H ình như tôi bắt đầu yêu anh. Rất mơ hồ, nhẹ nhàng. Thật lạ lùng khi tôi không muốn ngăn chặn sự phát triển của tình cảm âm thầm đó, mà như còn muốn vun đắp cho nồng nàn thêm. Tưởng vô tâm mà lại như cố tình. Tưởng đùa vui mà hóa ra lại đau đớn. Mà, đau đớn thật. Và vô duyên nữa. Cuộc đời đang bình thản êm đềm bên Matt tự nhiên bị xáo trộn, bị đảo tung mọi trật tự.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3849)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1639)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2318)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2422)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1463)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1959)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2002)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1374)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2629)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2382)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 248)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1010)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1124)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32156)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38864)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1487)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10024)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10830)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3460)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10362)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi