- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NƠI BẮT ĐẦU MÙA THU

08 Tháng Mười 20219:45 CH(Xem: 43747)

 

noi bat dau mua thu - hong linh

 

 

NƠI BẮT ĐẦU MÙA THU

Hồng Lĩnh

 

 

Tháng Mười của lễ hội bắt đầu, người người tấp nập trong các cửa hàng, mặc kệ những cơn gió mang theo hơi lạnh giá của cơn mưa dầm của mùa thu, hay cái nắng vàng óng ả của những chiếc lá vàng đang bay trong gió lộng.  Lòng đường đầy xác lá làm tôi nhớ đến cảnh người phu quét lá ở quê nhà, chiếc xe bằng gổ và cây chổi dài họ cứ quét và lá cứ rơi và gió cứ thổi tung và quay tròn rồi rơi xuống đường.  Ngày cứ trôi qua và đêm đổ xuống trên những ngọn đèn vàng của những con đường đầy bóng cây và chiếc xe gổ cùng như người quét lá mang lại trong tôi một hình ảnh thân quen của thành phố Sài Gòn, nơi tôi đã sinh ra, lớn lên và ra đi để đến một miền đất khác.

Tháng Mười mang theo khá nhiều kỷ niệm, của thời trẻ cho đến ngày già, Những ngày cuối thu mang theo chút tiếc nhớ của ngày xưa, dịu dàng hơn như một hớp rượu nho ướp vào mùa thu trước, cơn say dịu dàng như những âm giai trầm bổng trong một trường khúc concerto duy nhất của Jean Sibelius

Sibelius, môt tác phẩm vĩ cầm mà một người bạn ở rất xa đã gởi cho tôi  theo dạng file MP3, trong phần solo, Violin Concerto in D Minor, Op 47.  Tác giả Jean Sibelius Phần Lan này đã viết tác phẩm này có giai điệu "Mông mênh và buồn bả" này vào năm 1904.

 

 Nhưng tùy theo tâm trạng của người nghe, chúng ta sẽ tìm thấy trong ấy nụ cười và nước mắt của những thành công và thất bại.  Đối với những người đã trở về trong hoang tàn và vở nát hy vọng họ sẽ tìm lại được những khoảnh khắc tươi sáng hơn so với những gì thực sự là một cảnh hậu cảnh tối tăm.

 

**

 

Bản sô lô vĩ cầm thật hay, nhưng không có một dàn nhạc biểu diễn nào cả, giống như bản nhạc được dạo từ trong phòng riêng, người kéo đã kéo đàn như một người nghệ sỹ đã vượt qua những cung bậc cao vút để đạt được những nốt khó thực hiện và thể hiện khả năng thiên phú của mình? Phần thứ ba quả là một tuyệt phẩm trong những tuyệt phẩm ('Allegro ma non tanto').  Cho dù tôi không hề xử dụng violon, nhưng tôi có thể được biết vì những khó khăn từ kỹ thuật điêu luyện của người kéo đàn vĩ cầm.  Và tôi có thể nói bài Sibelius được coi là một trong những concerto vĩ đại nhất từng được viết cho vĩ cầm. Âm thanh trong ấy đã được miêu tả như một bản hùng ca, có thể làm người ta nghĩ đến chiến trường và những anh hùng đã ngã xuống nếu họ là chiến sĩ. Còn đối với kẻ đã trải qua cuộc đời có rất nhiều sóng gió như tôi, thì tôi thật sự xúc động khi nghe những âm thanh của sự cuồng nộ trong đáy sâu của vực thẳm có phải là trong cái chết vẫn còn nỗi đau tồn tại, hay trong tai tôi vẫn nghe tiếng kèn hạ huyệt tiển đưa người ngả xuống.

Violin Concerto in D Minor, Op 47 phần độc tấu tôi đã được nghe hơn mười mấy năm rồi, trước khi bạn tôi tham gia NATO.  Và khi trở về anh ấy đã không còn như xưa, một trạng thái tâm thần của sự kinh hoàng và khủng hoảng của chiến tranh hậu chấn PTSD đã mang một con người hoạt bát yêu đời, vui vẻ và tài hoa trở thành một người câm lặng và chìm trong vô thức.  Đánh mất đi ý thức và sự liên kết với xả hội, tàn phế trong mắt mọi người và mọi thứ đã hủy hoại trong anh.  Một hố đen vô hình đã giử anh ấy lại và anh không còn nhận thức về thời gian cũng như giử lại được ký ức của mình.

Nghe lại một bản nhạc cũ, nhớ một người bạn xưa và cảm thấy ngậm ngùi.  Có ai đã nói là đời người là một chuyến xe, chúng ta cứ phải từ giả những người trên chuyến xe ấy khi họ đã đến nơi và phải xuống xe.“ Từ nay mãi mãi không thấy nhau” một câu hát của bài Mùa thu chết.  Có lẽ, vì chỉ còn vài ngày chúng ta sẽ tiễn nó ra đi để nhường chỗ cho một mùa đông trắng đầy tuyết trên những cây thông, người người sẽ chúc nhau và hy vọng một mùa mới hạnh phúc, vui vẻ và may mắn.

Mọi thứ sẽ đi qua và chỉ có chúng ta ở lại và chờ đợi nữa…

 

***

 

Tôi nhận được một gói bưu kiện gởi nhanh trong đêm, món quà từ do cô thư ký mang vào.  Mở ra thấy một chiếc hộp gổ khá đẹp, mở ra bên trong có những chiếc lá vàng của đầu mùa thu. Ký ức lại đưa tôi về lại ngày cũ cùng anh.

Mùa thu thứ hai của chúng tôi lại về, súng sính trong bộ áo màu nâu nhạt và đôi ủng anh mua cho tôi trong lúc đi thăm New York Trong chuyến đi chơi xuyên từ tây sang đông Bắc Hoa Kỳ, trước khi tôi còn vài ngày để trở lại trường ghi danh và chuẩn bị một năm học mới.  Anh đưa tôi đến một ngôi chùa trên núi, cheo leo và cô đơn nhưng rất đẹp vì giửa những cảnh hùng vỉ của núi non thì ngôi chùa đơn độc và nhỏ bé thu mình đứng sau một cây phong cũng đã nhiều tuổi. Không hiểu sao khi nhìn cảnh giữa buổi chiều hiu quạnh, tiếng chuông chùa của vị sư già trên núi đã mang âm thanh vang vang.  Tôi bổng thấy mọi đều của nhũng ngày qua, hôm nay đều giống như giấc mộng.

Anh hướng dẩn tôi những bước đi theo lối thiền quán, kinh hành là nhấc chân lên và đặt chân xuông thật nhẹ khi đi biết mình đang đi nhưng không mang  theo một điều gì nữa, tự tại và thong dong.  Nhìn vẻ mặt thư thái và sâu lắng của anh, tôi ngạc nhiên vì với một người được hưởng một nền học vấn cao cấp tai Hoa Kỳ sao anh lại có trạng thái an tịnh của một người tu hành và thấu hiểu về Phật Pháp.  Tôi cũng muốn được giống như anh vậy.  Sau khi chúng tôi đã có một khoảng thời gian kinh hành, anh đưa tôi vào chùa gặp vị sư già, ông ngồi xếp bằng và chúng tôi cũng cung kính ngồi để nghe ông nói về sự bình an thật sự.  Tôi lúc ấy không hiểu nhiều về ý niệm của sự bình an, vì tôi luôn bất an trong nỗi niềm đau khổ của mình.  N ngồi im lặng để nghe, với dáng điệu có nhiều trầm tư.  Tôi sống bên anh gần hai năm, tôi biết anh rất trầm lặng, anh là người tốt nhưng lại có ấn tượng không hay với những con người chung quanh, anh rất nhạy cảm, và từ chối người khác nếu anh không cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc. Tôi thì khác, tôi dễ hòa đồng, tính tôi lại vui vẻ và hồn nhiên.  Khi đến lớp, tôi thân thiện với tất cả mọi người và không nề hà nếu phải làm việc gì cho ai nếu họ cần giúp trong khả năng của tôi.
Sau đó chúng tôi ra về và anh nhặt một chiếc lá phong khá lớn và nói với tôi

-Cây phong này ở trên núi cao, chịu gió lạnh và thường rụng lá ở đầu mùa thu, anh rất thich cảnh chùa ở đây, vì trong sự cô tịch của nó người ta mới nhận được từ tâm của chính mình.  Những huyên náo của đời sống bên ngoài sẽ không còn thể vướng bận những người đã dứt bỏ được để đạt được giải thoát.

-Anh đã nghĩ đến điều đó sao? Tôi băn khoăn hỏi

-Khi chưa biết em, anh thường đến đây.  Anh nói và nhìn mãi cây phong đang rơi những chiếc lá chưa vàng xuống thung lủng sâu dưới chân núi.

-Anh đã nghĩ đến cuộc sống vô vị của kiếp người, và tự hỏi là khi chúng ta trở lại chúng ta sẽ là ai? Và sẽ làm gỉ?

Tôi ngơ ngác nhìn anh, anh quả là có quá nhiều điều mà tôi chưa bao giờ biết hết về anh; tri thức, kiến thức và bây giờ là tâm thức nữa.

-Khi anh có những rối rắm và bất an, anh thường tìm đến đây. Anh cười nhẹ khi nói với tôi

-Chưa hết thu mà cây này không còn lá nữa anh ạ.  Tôi nhặt một chiếc lá vàng và cầm trên tay.

-Có lẽ gió lạnh hơn khi ở trên núi cao, và em có nghe tiếng chuông chùa không? Anh hỏi

-Có em có nghe, tiếng chuông chùa buồn quá anh ạ.  Tôi thẩn thờ đáp.

-Nếu em mang tâm sự thì tiếng chuông chùa sẽ làm cho em thấy sự u uẩn của lòng mình, nếu em muốn buông bò thì tiếng chuông sẽ giúp cho em giải thoát khỏi những trói buộc của thế gian. Còn như em lạc lối thì em sẽ nghe lời nhắc nhở để tìm về con đường của mình.  Anh nhẹ nhàng nói.

-Anh nghĩ vậy sao? Tôi nhìn anh và hỏi.

-Anh không chỉ nghĩ mà anh đã có cảm nhận được trong cuộc sống của mỗi người là những sự lập lại trong vô thức đến nhận thức.  Anh khi thoạt đầu nhìn nhưng vị sư bỏ cả đời để tu hành rồi chết trong sự đơn giản đến mức kham khổ. Anh thấy tội nghiệp họ. Nhưng thật ra là không phải thế, vì chính họ mới thật sự thấy tội nghiệp chúng ta, Chúng ta luôn quay cuồng trong cuộc sống, và đi tìm chính mình, cũng như hạnh phúc cho mình từ sự quyết định của người khác.  Có lẽ trong mắt mọi người, anh là một kẻ đơn độc và đơn điệu.  Anh sống như một bổn phận cần thực hiện những thứ, mà anh tự cho là trách nhiệm và bổn phận của một kẻ đã được dạy dổ và rèn luyện trong bộ máy của xả hội. Đóng góp và thụ hưởng anh đã làm tốt trong khả năng của mình và được nhiều người công nhận, và anh được tưởng thưởng đó là chổ đứng và vật chất sở hữu của mình. Nhưng lâu rồi, anh không còn sự hăm hở nữa vì anh hoài nghi với chính mình.  Tri thức của anh hôm nay sẽ không tồn tại ở tương lai.  Vì mọi việc đều không có tinh ổn định và vĩnh cửu.  Anh chỉ là một bước nối tiếp của những thế hệ về sau, mọi cái sẽ bị đào thải theo thời gian, vậy thì tại sao anh cứ khăng khăng bảo vệ những thứ, mà anh cứ hảnh tiến cho là vĩnh viễn.  Anh trầm ngâm nói.

-Anh đang thất vọng và buồn ư? Tôi nhìn anh lo lắng.

-Không, anh đang rất thoải mái và bình an, anh chấp nhận sự đào thải và hủy diệt.  Anh nhìn tôi với một nụ cười khó hiểu.

-Em thich ngôi chùa này, cây phong , anh và tiếng chuông và vị sư già.  Tôi nói nhẹ nhàng.

Anh nhìn tôi như ý hỏi tại sao.  Tôi hiểu ý anh nên nói tiếp

-Ngôi chùa này giống như một nơi chúng ta tìm đến để nhận ra được chính mình, em muốn có một ngôi chùa nhỏ cheo leo trên đỉnh núi trong lòng em, nó cho em thấy được có một nơi tìm về để được thấy sự an tịnh cho dù cô đơn. Cây phong làm em nhớ và nghĩ đến anh, anh cũng giống như nó, cao ngạo và cô độc.  Lá sẽ rơi ở mỗi năm để tiển mùa thu đến rồi đi theo trời và đất, Hình như rất sớm, nó đã không còn lá để rơi.  Có phải nó đã cảm nhận được sự vô thường của vạn vật chung quanh nên không còn muốn giử đều gì cho riêng nó.  Tiếng chuông chùa thức tỉnh em về những trăn trở của cuộc sống hiện tại, có những lúc em rất buồn vì thấy mình lạc lõng, trong cuộc đời mà em có cảm nhận, như rất quen và thuộc về em.  Nhưng có khi em thấy không phải, không có cái gì thuộc về em, hay em thuộc về nó.  Chỉ là điểm nối tiếp và sau đó phải từ giả, và khi đó là sự chấm dứt để trở lại với một hình hài khác và mọi thứ lại giống như bắt đầu lại bằng tên gọi, định mạng và số phận theo nghiệp quả.  Vị sư này có thể cho em thấy ông ấy chỉ tồn tại bằng thói quen nhưng có khi em thấy ông ấy mang tiếng chuông gởi đi bằng cả huệ giác của ông ấy. Tiếng chuông vừa dài cho sự tỉnh thức, vừa đủ sâu đủ loang tỏa ra dưới chân núi, để những người dân sống gần đó có thể nghe mà giủ bỏ những bi, ai, sầu, khổ.

N kinh ngạc nhìn tôi, anh thấy tôi như xuất thần trước những ý nghĩ về nơi tôn nghiêm mà anh nghĩ là chỉ có anh mới nhìn thấy, anh cầm tay tôi và nói với giọng trìu mến.

-Chỉ có những người có tâm hồn cao quý và chân thật mới nhận được những điều mà em vừa nói.  Anh rất ấn tượng về cảm nhận của em.

Tôi đã nhặt những chiếc lá còn lại dưới góc cây phong và ép vào cuốn sách của mình, Khi lên xe tôi nắn nót viết tên tôi và tên anh, ngày tháng chúng tôi viếng chùa cô đơn đó là kỷ niệm của chúng tôi ở mỗi ngày bên nhau.

Hộp lá phong của anh gởi, mà chỉ có tôi biết, thông điệp của anh đi kèm, tôi ray rứt và da diết nhớ anh và nghĩ về anh.  Tôi muốn về lại ngôi chùa, để gặp anh trong ao ước, để được cùng anh, đi dạo trên những con đường mòn quanh co trên núi. Nghe tiếng chuông chùa cùa ngày xưa,và ngắm ngôi chùa nhỏ cô đơn trên đỉnh núi.

Tôi thuê một người phụ nữ Việt Nam khá lanh lợi, biết lái xe và nói tiếng Anh cũng được, coi và lo dùm hai bà cụ là mẹ của tôi và bà cố của TN. Trong thời gian tôi vắng nhà.  Gọi cho chỗ làm với lý do nghĩ phép thường niên.  Lấy vé và bay vào sáng sớm mai đến chiều chuyến bay mới đến nơi. Phải chịu thôi, vì thành phố của tôi ở là một thành phố nhỏ cho nên sân bay chỉ có vỏn vẹn chín cái cổng vào máy bay.  Ngồi trên phi cơ, nghĩ đến khi gặp anh và chỉ được nhìn anh trong thương nhớ tôi cũng cảm thấy lòng mình thật rộn ràng và háo hức. 

Đón một chiếc taxi, nói tên của ngôi chùa người tài xế hoang mang, vì chưa bao giờ nghe tên của một ngôi chùa nào như thế.  Tên ngọn núi thì tôi lại không nhớ, nhưng tôi lại không muốn gọi anh, tôi muốn anh ngạc nhiên khi chờ tôi.  Hình như tôi vẫn có cách nào đó làm cho anh cứ phải trông chờ tôi mãi…để anh sẽ  yêu quý tôi theo lối nghĩ khá hạn hẹp và đàn bà của tôi. Tôi cuối cùng đã nhớ đến một điểm mốc của công viên trên triền núi và người  tài xế taxi cũng mừng không kém gì tôi, khi biết được chính xác điểm đến của mình.  Chuyến đi hơn bốn mươi lăm phút.  Cũng con đường dẫn lên núi, hai hàng cây trải những chiếc rể dài trên từng phiến đá tròn vì gió và nước xâm thực, bao mòn của thời gian tạo cho khung cảnh thiên nhiên đẹp một cách ẩn hiện, giửa trời và đất. Cảnh vật chan hòa giửa trời và đất,  trong thời tiết của đầu mùa thu, nhưng trời vẫn chưa đủ lạnh, cho nên lá vẫn còn xanh tươi, đắm mình trong những làn gió mát mẻ. 

Chiếc ba lô sau lưng, như thời còn đi học, một bộ quần áo dã ngoại dành cho người leo núi, đôi giầy cao cổ cột dây ôm cổ chân, và cho tôi những bước vửng chải. Tôi bỏ lại nét kiêu kỳ và cao ngạo của mình, và trở về thời chúng tôi yêu nhau, đơn sơ và gắn bó.

Anh nhìn thấy tôi trên con đường ngoằn nghèo ôm theo triền núi, anh cắt đoạn đường quanh co bằng những bước nhảy qua từng bậc đá cao.  Tôi đứng lại và nhìn anh, người đàn ông của tôi, mãi mãi như nổi đam mê và khao khát để được gần anh. Chúng tôi đã chạm mặt nhau, và nụ cười mừng mừng tủi tủi của những ngày thương nhớ.

Anh mang cho tôi chiếc ba lô trên vai, cầm tay tôi và chúng tôi hướng lên con đường trên chùa, anh hình như gầy đi một chút, nếp nhăn nhiều hơn lần gặp trước, trầm tư hơn.  Anh vừa bước qua tuổi sáu mươi. Sinh nhật của anh trôi qua lặng lẽ với lời chúc trong tấm thiệp gửi trễ ngày một cách ân hận.  Anh cám ơn tôi đã không quên anh, Không em sẽ chắng bao giờ quên cho dù trí nhớ của em càng ngày càng tệ vì những đêm không ngủ, lo lắng cho con trai phải bị dồn quân cho chiến tranh Iraq, sức khỏe của bà cụ cố càng lúc càng yếu.  Mẹ tôi cũng đã già và mệt mỏi. Công việc của tôi đã bắt đầu bước đến một giai đoạn khá căng thắng.  Nhiếu chương trình đã phải đóng của để tập trung cho việc giáo dục chính. Kinh tế của nước Mỹ đã bước qua giai đoạn khủng hoảng sau ngày Chín tháng Mười Một.  Tôi đôi lúc đã nghĩ đến sự buông bỏ tất cả để đến với anh, quên mọi thứ trên vai tôi một cách hèn nhát.

Tiếng chuông chùa vang lên trong buổi chiều dần nhạt nắng, tôi khép mắt lại và ngừng bước.  Anh cũng đứng lại và hướng về tiếng chuông đang đổ từ nhịp đầu, người đánh những tiếng chuông không phải là vị sư già của mười mấy năm trước, tôi có thể nhận ra vì tiếng chuông chưa đủ dài cho sự trao gởi, chưa đủ sâu để vang lên trong tâm thức sự trở về của tâm thân trôi giạt từ bốn hướng.  Tôi hỏi anh.

-Sư phụ đã thế nào rồi hả anh?

-Thầy đã qua đời ở hai năm trước.  Anh trầm ngâm trả lời tôi.

Vị sư đánh chuông chắc còn trẻ …Tôi nói

-Phải, ông ấy còn rất trẻ.  Anh nhìn tôi thoáng một vẻ cảm thông.

Anh nắm chặt tay tôi và bóp nhẹ, sự tương lân tri kỷ chỉ có tôi và anh có thể cảm nhận được cho dù không nói ra hay chỉ nói ra một nữa, vẫn có thể hiểu rỏ nhau như là một. Chính vì thế chúng tôi khó lòng có thể tìm được ai thay chổ, hay hiểu rỏ chúng tôi hơn tôi và anh.

Khi chúng tôi bước lên trên sân trước của ngôi chùa, anh ghé vào trong hậu liêu mang ra cho chúng tôi một ấm trà ủ trong hộp gổ có lót vải dồn bông vải. Ttách trà rót trong chén sứ trắng hiện ra một  màu xanh của trà, trong vắt và thơm, có ít khói tỏa ra và tôi nhìn anh rồi nhớ đến một câu truyện thiền “Có một người khách tới hỏi Thiền Sư Nan-In về thiền.  Nhưng đáng lẽ đến

để nghe thì ông khách cứ thao thao bất tuyệt, nói hoài nói mãi.

Lát sau, Sư Nan-In mời khách dùng trà. Sư rót trà vào chén của khách; chén đầy rồi mà Sư cứ tiếp tục rót mãi, rót mãi.. Trà đổ đầy ra bàn, chảy tràn xuống đất mà Sư cứ rót hoài. Sau cùng ông khách không giữ được kiên nhẫn nữa, nói lớn:

"Kià, Thiền Sư, chén trà đầy lắm rồi, không rót được thêm nữa đâu!"

Thiền Sư ngưng rót trà:

"Cũng vậy, này cư sĩ, cư sĩ cũng giống như cái chén trà đó, đầy ắp những tư kiến. Tôi còn biết hiến dâng gì về thiền nếu cư sĩ không cho tôi một cái chén rộng hơn”

Tôi chợt mĩm cười khi nhớ đên câu chuyện ấy, anh ngừng tay và nhìn tôi dọ hỏi

-Em không biết là mình đã có một cái chén không để chứa đựng được chân lý sâu sắc của thiền và Phật giáo chưa!

N nhìn tôi gật gù, anh không nói nhưng đôi mắt anh, đã cho tôi về cảm nhận sâu sắc từ chúng tôi, hai người yêu đã dần trở thành tri kỷ, vì chúng tôi có thể hiểu, và cảm nhận về nhau. Ở một mặt nào đó tôi đã trưởng thành, và trở thành một người đàn bà luống tuổi.  Không còn hời hợt trong suy nghĩ hay hành động nông nổi, và ở một góc độ nào đó, vị trí của người tình qua một thời gian dài của chúng tôi đã giử, và chia xẻ cùng nhau quá nhiều kỷ niệm thương yêu của nhau.

Chén trà nóng nâng niu trong hai bàn tay lạnh giá, cho tôi một cảm giác ấm áp của buổi chiều đầu thu trên ngọn núi cao, sương đã phủ trên những ngọn thông cao vút xen lẫn những cây cỗ thụ rậm tàn xòe ra như những tán dù, màu xanh đã pha lẩn với màu xám của hoàng hôn phủ trên cảnh vật yên tỉnh, nhưng có vài tiếng động, như một loại chim đập cánh cố gắng bay từ thung lủng dưới chân núi đề lên trên cao, có lẽ chúng đang tìm đường về tổ. Tôi nhìn anh, khi anh cũng cùng nhìn về nơi phát tiếng động, một tiếng kêu như xé tan sự yên tỉnh khi một đôi cánh đập vào nhau để bay vút kên cao, theo đó là một tiếng kêu nhỏ thảng thốt và đau đớn của một sinh vật yếu đuối hơn đang đau đớn và chết dần trong sức mạnh chiếm hửu của kẻ khác.

Chúng tôi nhìn nhau,và có thể anh cũng cùng chung cảm nhận về định luật của của cuộc đời.  Chúng tôi bước vào chùa, gởi lại bình trà và từ tạ vị sư trẻ, thay thế cho nhà sư già đã viên tịch.  Anh và tôi cùng bước trên con đường đến chổ đậu xe của anh.

Con đường từ chùa vào thành phố ở buổi tôi, có chút sương ẩm giăng trên kiếng xe, hơi mờ của con lộ trải dài có hai hàng cây vắng vẻ.  Tôi ngồi tựa vào anh và nhận lại mùi hương của quá khứ từ anh, trà và gạo mùi hoa sứ trắng thoang thoảng trong chiếc áo anh mặc,  anh cũng quàng tay qua ôm tôi, Trên xe bản giao hưởng số Bốn Mươi của Mozart hùng tráng dạt dào, của niềm vui hạnh ngộ vang lên và tôi nhìn anh chăm chú lái xe với nụ cười nhẹ trên môi, và khuôn mặt của anh đang chìm vào ánh sáng cuối cùng của hoàng hôn và mọi điều đang lắng đọng sau trong bóng tối đang phủ xuống.

Một bản nhạc kỷ niệm của chúng tôi lại vang lên, kịp cho ánh sáng cuối cùng bừng lên như ánh chiều của sự sống mạnh liệt như một níu kéo và hoài vọng, bản Serenade của Franz Shurbert đưa cả hai chúng tôi vào thời gian của ngày xưa, tôi yêu bản nhạc dạ khúc này vì mỗi lên nghe đến nó, anh luôn luôn hiện diện trong trí nhớ của tôi với dáng vẻ tha thiết và dịu dàng.

Anh đưa tôi đến một cái quán khá vắng, trên đồi, nhưng thức ăn lại rất ngon, hầu như chỉ có bàn ăn của tôi và một ông bà lão.  Những bàn ghế rất ít, trãi đều trong một không gian trống hình bầu dục, có khung của sổ lớn ôm cong theo tường bằng kính, trong vắt thoáng và rộng để chúng tôi có thể nhìn suốt khoãng trống của hồ nước, liễu và cây lá lao xao trong màn sương mờ hiu hắt. Đèn mờ chỉ đủ cho người ta vừa ăn vừa nhìn nhau hay nhớ đến quá khứ.  Tôi cố gắng không nhìn ông bà cụ ngồi phía bên trái, của tôi, họ cứ cầm tay nhau trong xúc động và tôi thấy bà cụ thình thoảng cứ chùi nước mắt.  Một cuộc tương phùng đã quá trể cho thời gian và  tuổi tác của họ, cho tình yêu nghìn trùng giống như của chúng tôi sao? Nhìn qua anh cũng nét đăm chiêu và trầm lặng, anh ít nói và chỉ nhìn tôi.  Tôi cũng không muốn nói gì ở buổi tối không khí bổng dưng nặng nề, vì hình ảnh sẽ không còn xa của chúng tôi là cặp đôi luống tuổi kia sao? Họ có lẽ cũng hơn anh mười mấy tuổi và hơn tôi ba mươi tuổi, nhưng mà họ vẫn khổ vì tình?  Ai mà gần đất xa trời mà vẫn có thể rơi nước mắt vì tình yêu thế kia? Nhìn anh và tôi có cảm nhận có một nỗi xa vắng đang tỏa dần và bao bọc chung tôi trong nỗi buồn thê thiết.

Chúng tôi vừa ăn xong món tráng miệng, anh đẩy chiếc dĩa qua một bên và nói với tôi.

-Anh sẽ ra đi em ạ.

-Sao? Tại sao hả anh? Tôi thảng thốt hỏi anh.

-Anh sẽ rời khỏi Hoa Kỷ, đến Pháp trong một thời gian gần đây. Anh trầm ngâm đáp.

-Anh …đi thật sao? Tôi ngở ngàng hỏi anh.

-Phải anh không còn muốn sống ở Mỹ nữa, anh thấy xa lạ, và không muốn ở đây nữa. Anh cúi đầu nói.

-Chúng ta sẽ khó gặp nhau, vì anh ở xa quá. Tôi nghẹn ngào.

-Anh vẫn chờ em, nếu em muốn. Anh ngẩng lên và nhìn tôi bằng ánh mắt thật buồn.

-Hiện tại em vẫn còn có quá nhiều điều để làm, em vẫn chưa thực hiện xong. Tôi cắn môi nói với anh.

-Anh hiểu. Anh cầm tay tôi bóp nhẹ.

Không khí càng buồn thảm hơn, khi tôi nghe tiếng nấc nhỏ của bà cụ ngồi kế bên hình như bà ấy đang khóc, ông cụ cũng đang cầm tay bà an ủi.  Tôi thấy tim mình nhói đau một cách kỳ lạ, tôi có cảm giác như chúng tôi cũng đang chia tay nhau hay cùng một tâm sự giống như hai ông bà cụ ở bàn bên.

Khi anh đưa tôi ra xe, chúng tôi im lặng trong không khí buồn bả đến đáng sợ, tôi nghĩ đến những ngày sau này có lẽ sẽ rất khó gặp nhau, tôi ở miền trung Mỹ, một nơi nối tiếp giửa Nam và Bắc, đông và Tây bay đến anh cũng phải mất hơn nữa ngày, bây giờ ở một nơi xa xôi của nước Pháp. Tôi không hỏi anh thành phố nào, và cũng không muốn nói về một nơi chốn xa lạ đó mà tôi chưa hề đặt chân đến và có lẽ chắng biết bao giờ.  Tôi thẩn thờ khi nghĩ anh đã dần xa tôi rồi.

Chúng tôi ngừng tại một khách sạn trên núi, anh luôn luôn thích núi, có lẽ ngôi nhà mới của anh cũng sẽ ở trên núi, sự cô độc, kiêu hảnh và cao ngạo của anh.  Tôi thở dài khi nghĩ đến mình đã dần mất đi cái vỏ cứng rắn của mình khi lao đến anh như một con thiêu thân khao khát được đốt cháy và thiêu hủy chính tôi. Những ngày tháng còn lại sẽ càng cô đơn hơn khi không có cảm giác gần gủi anh nữa, không còn chung một mảnh đất, rồi cách ngan nhau bởi một đại dương và những quốc gia.  Tôi thấy mắt mình cay xé và thâm đậm nổi buồn ly biệt.

Cũng anh, và tình yêu của anh, cũng kỹ niệm của quá khứ và hiện tại bàng bạc chung quanh, chúng tôi thấy nỗi đau như quất vào trái tim mình những vết dao của ly biệt, anh ôm tôi và thở dài, nước mắt tôi rơi ra trên vùng ngực trần anh gầy đi nhiều, tôi chạm vào những đốt xương to của anh mà ngày xưa đã từng có những bắp thịt rắn chắc.

-Anh gầy quá N ạ. Tôi lo lắng nói.

-Anh biết, không sao đâu em.  Anh ôm tôi bằng vòng tay của người đã từng bảo vệ và chăm sóc tôi với sức mạnh và bản lảnh của một thần tượng, mà tôi đã từng xem anh ngang với một vị thần, nhưng bây giờ khi anh ôm tôi trong tay, tôi cảm thấy như có một gì đó đã thay đổi từ anh.

-Hãy nói cho em biết tại sao anh quyết định ra đi? Tôi ve vuốt anh và hỏi

-Anh muốn nghĩ ngơi, và muốn quên đi những ngày tháng không vui vẻ của quá khứ, sức khỏe của anh cũng không cho phép anh làm như anh muốn…anh nói với giọng nhẹ nhàng nhưng khắc khoải.

-Anh không khỏe ư? Anh bị bệnh à? Hãy nói cho em biết.  tôi lo lắng hỏi anh.

-Anh chỉ muốn thật sự nghĩ ngơi, em cũng biết rồi Nice là nơi anh muốn sống phần đời còn lại của mình Anh nói với giọng khá buồn.

-Anh còn trẻ, sao lại nghĩ đến chuyện về hưu? Và nghĩ ngơi.  N anh ngày xưa…tôi luyến tiếc nói.

-Anh ngày xưa luôn là hay, là giỏi, anh vỉ đại, và là thần tượng của em có phải không? Thời ấy đã qua rồi, anh bây giờ đã nhìn lại những gì mình làm một cách đam mê và nhiệt tình đó. Những cái đó chỉ là quá khứ em ạ, con người không chỉ nhìn vào quá khứ mà phải biết và nhận được hiện tại và tương lai nữa, anh bây giờ là một người già, em chưa hiểu được cảm nhận của anh, cho đến khi nào, em cảm thấy mình già, có lẽ cũng hơn mười mấy năm nữa thì em mới có hoặc em có lẽ sẽ không thấym vì em đang mê mãi bước trên nấc thang và em chưa có điểm dừng.  Em và anh khác nhau ở chổ anh đã thấy trước và biết trước những điều đang đến cho mình, còn em thì với sự hăm hở của một người đang tìm cho mìnhm những thứ mà em tin là phía trước đang có thì có lý do gì mà em dừng lại!.  Anh dịu dàng nói với tôi.

-Anh đã tìm được những điều anh muốn chưa? Tôi cay đắng hỏi.

-Cứ nghĩ là đã nhưng không phải vậy. Anh thở dài nói.

-Anh thất vọng ư? N Tôi kêu lên.

-Không hẳn vậy, anh chỉ thấy mình trong sự tỉnh thức, và anh không muốn phí thời gian của mình và của mọi người nữa.  Anh nói.

Anh muốn nói về những đóng góp và công trình của anh? Sự nghiệp của anh? Tôi hỏi anh với sự sợ hải bàng hoàng bóp nghẹt trái tim của tôi.

-Anh không muốn làm cho em lo lắng, anh chỉ muốn nói là đã đến thời gian, anh muốn thật sự nghĩ ngơi.  Em ạ. Anh nói.

-Anh có thể làm ít đi và nghĩ ngơi cũng được mà, đừng rời khỏi Hoa Kỳ vì em sẽ rất khó để gặp anh. Tôi bắt đầu nức nở.

-Angel, anh đã từng nghĩ những điều em đã nói, nhưng công việc không bao giờ cho phép chúng ta nghĩ ngơi, thời gian mà anh làm việc tích cực nhất là lúc trước khi chúng ta yêu nhau và thời kỳ trăng mật của mình.  Sau đó anh chỉ còn làm việc trong sự miễn cưởng, và anh đã rơi vào trạng thái chán nản khi xa em.  Anh là một kẻ mác bệnh tự kỷ, chỉ thích những gì quen thuộc của hắn, em là người đàn bà mà anh muốn sống, yêu và gần gủi không ai khác.  Đó là điều không bình thường của một gả đàn ông, vì đàn ông không bao giờ chịu dừng lại, cho dù với người đàn bà mà họ yêu tha thiết.  Cái thói quen chinh phục, chiếm đoạt và sở hửu từ cội nguồn tổ tiên để lại trong tiềm thức và vô thức, anh biết nhưng anh không làm khác hơn.  Anh cũng không muốn làm cho thế giới đi theo anh, vì những luận điểm sai và cứ khăng khăng bảo vệ nó, vì tự ái và kiêu hảnh, hơn là giá trị của lòng tự trọng khi giết chết sự thật và chân lý vì sự ích kỷ của mình.  Anh từ giả chổ đứng ở vị trí cao nhất, để đi vào bóng tối của quên lãng, và anh chỉ mong một điều là sự bình an. Anh nói với vẻ khá xúc động.

-Còn em thì sao? Tôi ôm anh và lay như một nài nỉ van cầu.

-Em vẫn là người anh yêu, nhưng anh đã không còn hy vọng một cuộc sống chung với em nữa, anh cũng không muốn em phải đau khổ, vì anh mà phải từ bỏ nhiều thứ mà em phải rất khó khăn khi đạt được.  Trong tình yêu, anh không bao giờ muốn người khác phải hy sinh cho mình, mặc dù anh luôn muốn làm điều đó cho em.  Anh vuốt tóc tôi và nói.

Chúng tôi nằm bên nhau, ôm nhau bằng vòng tay tha thiết nhất, và trong lòng đã bắt đầu nếm mùi vị của chia tay. Tôi bắt đầu khóc cho những tiếc nuối rả rời của mình.

Tôi chia tay anh, sau khi chúng tôi có được vài ngày bên nhau, qua nhanh như những cái chớp mắt, thời gian cũng trôi nhanh như mười mấy năm chúng tôi đã không còn sống chung với nhau, anh có lẽ cũng đã muốn chấm dứt sự chờ đợi, và tôi cũng không có lý do nào để giử được anh.  Lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau mà không trở về ngôi nhà cũ của anh, ở trên núi, ở gần trường đại học và ở biển.  Tôi bắt đầu tập một thói quen là quên đi những vị trí của kỷ niệm là nơi mà chúng tôi đã chia xẻ buồn vui, khổ đau và hạnh phúc.

Hồng Lĩnh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 57310)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 138375)
Tin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn. Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này.
23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 157957)
Ngủ đi nhé à ơi, cái sâu làm tổ, cái bọ đi chùa, chuồn chuồn thì bơi (Tặng Kiên và sự điên rồ của đêm)
31 Tháng Mười 200712:00 SA(Xem: 108113)
... lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ là một thứ câu chuyện thêm thắt vào [anecdotes] chính sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa, Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lý do riêng để không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Diệm, từ chính trị, tôn giáo, tới ý thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa tràn ngập những lời “cung văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực... Bài viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13195)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19602)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18589)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1509)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1672)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2182)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2291)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1377)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2127)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1883)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1940)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1259)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2288)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2514)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2307)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 140)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 720)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 936)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1009)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6340)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1373)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13852)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10597)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9787)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9908)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10712)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3401)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11070)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi