- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TÂM BỆNH NGUYỄN DU

26 Tháng Bảy 20219:22 CH(Xem: 39805)
tam benh nguyen du

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

TÂM BỆNH NGUYỄN DU

Truyện lịch sử

 

Đó là vào những ngày mùa thu Canh Thìn, năm Minh Mạng thứ nhất (1820),  "dịch phát ở Hà Tiên rồi lan ra toàn quốc" (Đại Nam Thực lục). Khi vua bảo các quan: "Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ ở một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay", triều thần Phạm Đăng Hưng đã tâu rằng: "Thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang", nghĩa là triều đình đã có nhiều người biết dịch bệnh truyền qua các thuyền buôn đến từ Ấn Độ, và dịch tràn lan do khí độc (lệ khí) phát tán. “Thực lục” còn viết: "Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp", cho ta biết đây là một trận dịch tả.

Truyền thống chữa bệnh dịch tả bằng thảo qủa xanh - tức bạch đậu khấu có từ xa xưa, và Nguyễn Du cũng được truyền dạy từ các bậc lương y tổ phụ của mình. Mấy lần tới xứ Lạng, ông đều dành thời gian thu thập loại cây vốn sinh trưởng chủ yếu ở những nơi mát lạnh này…

Nhưng Nguyễn nhận thấy: chỉ một cây/ phương thuốc chuyên trị các bệnh về phổi đó không đủ để trị/ dẹp dịch bệnh. Ông lần giở các tập sách cũ “Nam dược thần hiệu”, “Hồng nghĩa giác tư y thư”, “Thập tam phương gia giảm” của cụ Tuệ Tĩnh ra nghiền ngẫm. Đã lâu lắm, giờ đây ông mới có dịp đọc lại những trang sách mà ông thấm nhuần cái tinh thần vượt qua mọi y lý trên đời của vị thiền sư - thánh y: “Thương nhân dân chết chóc/ Chọn hiền triết phương thang”, “Cây hoang dại có thể thành vườn hạnh được vậy!”.

Giấc mộng văn chương bỗng trở thành điều gì xa lắc xa lơ, thậm chí không có thực nữa đối với ông! Ông bắt đầu ghi chép một số vị thuốc Nam được miêu tả trong “Nam dược thần hiệu”: loại cỏ hoang, loại dây leo, loại cỏ mọc dưới ao, loài mễ cốc, loài quả, loài cây, loài côn trùng, v.v - hầu hết là những thứ trong vườn của nhà nghèo nào cũng có, thâu đêm suy ngẫm về tác dụng từng loại cùng sự kết hợp giữa chúng và với bạch đậu khấu. Ông cùng người nhà lặn lội tới các ao vườn thu hái một số cây cỏ. Và ông phác thảo ra các cách chữa trị từ chủ trương “Nam dược trị Nam nhân” đã bị lãng quên từ lâu đó - để trước mắt trao đổi, bàn bạc với Thái y Viện, rồi sau tấu trình lên vua.

Nhưng Nguyễn đã ngây thơ như bất kỳ một kẻ có tâm hồn thi sĩ đích thực nào: ông không thể hình dung nổi, nếu như không trực tiếp trải qua cái đận nhục nhã, khi tất cả các vị “mũ cao áo dài” thâm niên trong Thái y Viện đều gần như bưng mũi cười không che dấu trước những đề xuất của một người theo họ chỉ giỏi từ chương chứ biết quái gì chuyện trị bệnh cứu người mà dám can dự! Hoang đường! Cây cỏ vườn nhà, cỏ hoang ngoài bãi, thực nhảm nhí, vô bổ! Hỗn hào, xấc xược quá đáng với những người có sứ mệnh bảo vệ sức khỏe và tính mệnh  Hoàng gia! Ánh mắt chế riễu và những lời lẽ lịch sự che dấu sự  miệt thị của họ ném vào nhiệt huyết của Nguyễn những gáo nước bẩn! Nguyễn cay đắng lặng người, quay ngoắt đi nhằm kiềm chế cơn thịnh nộ hiếm có nơi ông đang chuẩn bị bùng ra thành những lời mạt sát không xứng đáng với tư cách của một sĩ phu hàng quan chức cao cấp, hơn thế, một thi nhân…

Đó cũng là lúc nhà vua đang chú tâm vào cuộc cầu đảo lớn tại đàn Nam Giao Kinh thành Phú Xuân, cùng với ba đền xã tắc ở ngoại ô lập đàn tế lễ. Sử quan đã chép lại không sai sót một lời của vua: “Có dịch lệ là vì trẫm thiếu đức; trên can phạm hòa khí của trời, bốn phương có dịch đều là lỗi của trẫm”.

Song sử quan đã không ghi lại một dòng nào - để bảo vệ uy tín cho vua và triều đình - cái chuyện không ít tham quan đã bắt tay thông đồng với nhau tìm cách ăn chặn bớt, hoặc bắt dân phải bỏ tiền ra mua giá cắt cổ thứ mà triều đình chẩn cấp diệt dịch, và chuyện một quan thượng thư đã áp dụng quyền “tiền trảm hậu tấu”, qua mặt vua đưa ra lệnh “quây rào khoanh vùng dịch” một cách nghiệt ngã nhằm tâng công với vua, được các cấp dưới đắc lực thực hiện đã gây bao nỗi thống khổ cho dân lành…

Ký ức dân gian còn lưu giữ ấn tượng sâu đậm về một thời cả Kinh đô Huế và các vùng phụ cận chìm trong màu trắng tang thương: những vệt/ hàng/ mảng vôi bột nham nhở trắng xóa, những tấm áo/ giải khăn tang trắng rợn ngợp, những làn khói thiêu người chết/ khói đốt trừ tà trắng mù mịt chìm nhân ảnh. Những tiếng rên la thảm thiết, những tiếng khóc than ai oán, đau đớn, bất mãn, tuyệt vọng vang lên khắp thôn cùng phố vắng, nơi không còn một tiếng mèo kêu, tiếng gà gáy, tiếng lợn éc, tiếng chó sủa nào nữa…

Nguyễn rời Thái y Viện đi lang thang như bóng vật vờ giữa cái không gian của tầng đầu Địa phủ đó. Nhưng ông không còn cái cảm giác như mọi ngày vừa qua, cái cảm giác khiến trái tim đa cảm của ông phải thắt lại đến độ nhức nhối không chịu nổi. Ông đang bừng bừng với ý nghĩ: cần bắt tay vào trực tiếp chữa trị cho dân, ưu tiên những gia đình có cảnh ngộ khó khăn nhất, những người đang nguy cấp nhất, bằng phương pháp ông mới mầy mò ra mà ông tin là đắc dụng. Rồi vua sẽ biết đến và cho nhân rộng bài thuốc của ông.

Thời trẻ, Nguyễn đã từng đội mũ vàng nhà sư đi khắp vùng Giang Bắc - Giang Nam đất Trung Hoa, với cái túi vải không tiền bạc* song lại có bọc lá khô thuốc Nam, bộ kim châm cứu và cuốn Kinh Kim Cang cặp kè bên mình để tự kiếm sống và thỏa chí tang bồng. Nỗi u uất suốt thời trẻ trai: “Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên” (Hùng tâm và kế sinh nhai đều mờ mịt) được giải tỏa không ngờ, khi ông được đem chút tài lẻ của người sinh trong cái nôi “Nho - Y - Lý - Số” ra thi thố với đời; ít nhất mình không phải là kẻ ôm bồ sách vô nghĩa, khi cứu chữa được bệnh cho không ít người trong quãng đời lang bạt tựa cỏ bồng trốc rễ…

Nguyễn chững bước lại trước một hàng rào tre tua tủa gai, lá tre đã úa. Ông cau mày nghĩ ngợi, vẻ khó hiểu. Xung quanh, có liên tiếp mấy cái rào tre khủng như vậy quây quanh những ngôi nhà tường chình mái rạ. Thấy Nguyễn đang tìm cách lách rào để vào một ngôi nhà, một tên lính cấm vệ chạy tới chĩa giáo nhọn sát người ông:

- Nơi nguy hiểm! Tránh ra ngay!

Một tên lính khác vội chạy tới, hét tên lính nọ:

- Mày láo! Đây là quan Tham tri Bộ Lễ!

Cả hai tên lính vội quỳ xuống lạy Nguyễn :

- Xin quan lớn tha tội. Chúng con có mắt như mù…

Nguyễn hỏi:

- Các rào tre này là thế nào vậy?

- Bẩm quan, do đại nhân Lê Huân ra lệnh buộc cách ly một số nhà có dịch cho thật nghiêm, mấy hôm trước quan sức dân bên Hương Trà phải nộp các rào tre đúng kiểu cách thế này… Bên Hương Thủy cũng đã tới ngày phải nộp đủ theo quy định ạ…

Nguyễn ngẩn người ra.

- Sao ta không biết nhỉ? - Như nói hớ, Nguyễn tiếp ngay - Đã mấy ngày rồi…?

Một người đàn bà trẻ ôm con nhỏ, tóc tai xõa sượi chạy vụt ra, đặt con xuống chiếc chõng tre mục và chắp tay vái Nguyễn lia lịa:

- Thưa đại quan, ngài cứu giúp chúng con với… Ba hôm nay cả nhà con bị nhốt thế này, trong nhà chẳng còn hạt gạo, củ khoai nào nữa, vậy mà không được bước ra chợ… Con bé nhà con nó khóc gằn hai hôm nay vì hết sữa, đại quan ơi… - Chị ta òa khóc nức nở.

Nguyễn giật mình, ông chợt thấy hoảng sợ như đó là tội lỗi do chính ông gây ra. Rồi ông cố ghìm cơn giận dữ khó tả chực trào ra, để bình tĩnh nói với hai tên lính:

- Các ngươi cũng có vợ con, gia đình chứ? Các ngươi có biết tình cảnh khốn quẫn của gia đình này không? Hả?

Chữ “Hả” ông nói như quát, khiến hai tên lính tái xám mặt mày, run rẩy quỳ xuống van lạy:

- Bẩm đại quan, chúng con chỉ làm theo chức phận thôi ạ… Mong đại quan đèn giời soi xét…

Người đàn bà trẻ gạt nước mắt:

- Đại quan ơi, nghe nói dân được phát chẩn thuốc để chữa bệnh, sao nhà con và các nhà quanh đây không được ạ? Người làm rào bên Hương Trà dù sao cũng còn được chiếu cố mua thuốc, giá có đắt đỏ, nhưng hy vọng cứu được mạng người thân…

Nguyễn sửng sốt :

- Mua?… Cô nói thật đấy chứ? Cô có biết: vu khống triều đình sẽ mắc tội gì không?

Người đàn bà trẻ chợt khóc tu tu lên :

- Ối giời, con có ăn gan Cóc tía cũng không dám đơn sai nửa lời… Con có bịa đặt chút gì, bố con chồng con đang ốm trong kia sẽ bị quan ôn bắt đi ngay thôi… Hu… Hu…

Nguyễn mủi lòng đến ứa lệ. Trước nay, ông vẫn thấy đau lòng như đứt ruột trước tiếng khóc và nước mắt đàn bà. Còn đây lại là một thảm cảnh của đàn bà do ông gián tiếp gây ra, trên cương vị gần như là tượng đất trong cái chính thể mà ông vừa có dịp thêm một lần nhận ra nguyên nhân sự suy đồi mục nát của nó… Nhưng ông vẫn đang là người giữ trọng trách Quốc gia. Ông biết rõ nội vụ hành chính: việc thống kê tử vong khá là sát sao, kịp thời, việc chẩn cấp ủy lạo trong trận dịch này là có thật và cũng rất khẩn trương. Vua còn tuyên bố trước triều thần: sau dịch sẽ cho quân dân nghỉ ngơi, miễn thuế cho dân. “Lời nói đọi máu”, bậc Cửu trùng chắc không nói chơi…

Nghĩ tới đó, cũng là lúc chẳng hiểu bằng cách nào Nguyễn đã vứt bỏ rào tre gai giống một con quái vật để vào ngôi nhà sực lên mùi hôi thối nồng nặc, tới bên giường bệnh của người đàn ông tóc điểm bạc, môi khô cong đang rên rỉ. Ông cầm tay người ấy lên xem mạch. Cánh tay trần bao phủ bởi những nhọt đen rỉ máu và mủ. Trên áo, nham nhở dịch mủ và máu do các hạch sưng to hóa mủ đã tự vỡ. Biết xem mạch lúc này là vô nghĩa, Nguyễn vẫn xem rồi lẩm bẩm: “Mạch loạn và xác quá!”. Ông quay sang hỏi cô con gái:

 - Ông nhà kêu đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, và hay mê sảng, có đúng không?

Người đàn bà trẻ lặng lẽ gật đầu, vẻ âu lo hoảng hốt.

Nguyễn thốt lên:

-  Nhiễm độc nặng quá rồi!

Ông chú ý tới góc nhà bên kia, một người đàn ông còn trẻ, gầy gò, đang ngồi dựa cột thở dốc, mặt nhăn lại vì đau đớn. Ông bước nhanh tới, chủ động cầm tay anh ta xem mạch.

- Chớm bệnh rồi! Các hạch đang bắt đầu sưng to… -  Ông nói với hai tên lính đang khúm núm đứng bên - Trời ơi, các ngươi đã làm gì, biết không? Đã xây cái mồ chôn sống cả gia đình này mấy hôm rồi! Lập tức tháo bỏ ngay các rào chắn xung quanh đây, rõ chưa?

Hai tên lính nhìn nhau vẻ sợ hãi, lúng búng muốn nói gì, Nguyễn quát lớn:

- Làm theo lệnh ta đi! Còn nước còn tát! Tính mệnh của những người bị cách ly  đang ngàn cân treo sợi tóc đó!

Thấy hai tên lính rúm người lại vì lo lắng, hoảng sợ tột độ, Nguyễn chợt dịu lại.

- Thôi được, ta sẽ đi cùng các ngươi! Tội vạ đâu, ta chịu!

Nguyễn vội mở bọc, lấy ra mấy thang thuốc đã sao chế, dặn cô con gái cách đun sắc cho người bệnh để bôi và uống, rồi ông vội đi, hai tên lính cum cúp theo sau…

Nguyễn đã cho dỡ bỏ tất cả các rào tre quanh Kinh đô, bất cần biết hậu quả đối với mình ra sao, để rồi các rào tre lại tiếp tục xuất hiện, ngày một nhiều thêm, như trêu ngươi ông! Nhiều ngày đêm Nguyễn quên ăn quên ngủ đi tới các nhà có dịch cố cứu chữa bệnh bằng phương thuốc riêng của mình, mắt sâu hoắm lại, râu thành rễ tre cằn không thèm chải vuốt. Người nhà ông chỉ gắng khuyên can đôi lần, rồi nhìn nhau lắc đầu thở dài.

Nguyễn còn tới vài nhà quan lại, nhà quý tộc đang có người mắc dịch chờ chết… Một vị quan đồng liêu với ông có con trai độc đinh, sau khi các quan Thái y khoanh tay cúi đầu trước người bệnh như hối lỗi thay cho Trời, đã cho mời pháp y tới giáng thần gọi hồn trừ đuổi ma dịch. Khi Nguyễn bước vào, vị y quan từng nhạo báng ông chỉ khẽ ngước mắt nhìn, rồi cụp xuống ngay, như lương tâm nghề nghiệp tự thấy xấu hổ trước sự đầu hàng số mệnh của kẻ mang danh Thái y… Một pháp sư mặc áo cà sa đỏ rực, đầu đội vành mây, tay trái cầm vỏ ốc lớn, tay phải cầm vòng thép đính những mảnh đồng lá mỏng kêu leng keng, vừa nhảy nhót vừa lẩm nhẩm đọc thần chú. Một người mặc quần áo đen, chắc là phụ tá của pháp sư đang đốt bùa rồi huơ huơ lên thành các vòng tròn, tu bình rượu rồi miệng phun rượu thành tia vào người bệnh. Pháp sư vào trong, cởi bỏ cà sa, khoác vào phục trang Ông Hoàng Mười bước ra nhún nhảy một lúc, rồi ngồi quỳ xuống một lượt tro đã được rải sẵn. Khi vừa được trợ tá dùng khăn vải đen phủ kín mặt, pháp sư liền vung vẩy hai tay, hét to một tiếng rồi miệng ngân nga du dương một bài hát chiêu hồn mà nếu trong buổi lên đồng sẽ khiến người ta lâng lâng, còn trong cảnh ngộ này lại chỉ làm người ta thấy rờn rợn, chen giữa niềm hy vọng mong manh chập chờn: hồn sẽ báo cho Quỷ sư biết điều gì cần thiết đây cho sinh mệnh đang hấp hối?… Hình như, Nguyễn đã gặp cảnh này ở đâu đó từ rất lâu, thời “Bắc hành” lần đầu khi ông lang thang vùng Việt Đông, trong một làng người dân tộc thiểu số…

“Mớ vu thuật tạp nham, vớ vẩn, nhảm nhí, cả giáng thần gọi hồn lẫn lên đồng bắt quỷ trừ ma này, giờ đã đi vào niềm tin tuyệt vọng của cả bậc trí giả, bậc công thần Quốc gia kia, đất nước này còn trông mong gì ở họ được nữa?… Còn những cuộc cầu đảo đang diễn ra nhất nhất rập khuôn phương Bắc của vua, liệu có cứu thêm được mạng người nào thoát khỏi ôn dịch?…” Nguyễn lẩm bẩm, như phụ họa cho những lời cầu cúng bí hiểm nọ, cho tới lúc ông chợt thấy chúng giống lời nguyền rủa cho sự tăm tối của người đời, ông mới thôi lẩm bẩm.

Nguyễn lặng lẽ rời khỏi khu dinh thự ám khí quỷ ma chết chóc đó, mau chóng trở về nhà. Chẳng nói chẳng rằng, ông nằm dài trên phản. Người nhà và người hầu nào tới hỏi han, ông đều im lặng phẩy tay. Nỗi ngao ngán cùng cực xâm chiếm cõi lòng ông. Đã có vài triệu chứng lây dịch: người hâm hấp sốt, những cơn ho khan, mình mẩy đau nhức… Thực ra, ông dễ dàng đánh bay chúng ngay, bằng phương thuốc dân gian mà ông thí nghiệm thành công đầu tiên cho hai anh lính hầu và cô nấu bếp: cộng với niềm quý trọng tin tưởng của họ, ông đã cứu họ thoát tử thần; đồng thời truyền cho họ phương thuốc mới để tiếp tục cứu hàng xóm, cứu gia đình họ.

Đúng, ông có thể ngạo nghễ vượt qua Thần Chết. Nhưng ông còn có gì để bấu víu đây? Trận dịch nào rồi cũng sẽ chấm dứt, song sự đồi bại, tham lam, tàn bạo, ngu tối đang ngự trị trên mảnh đất này bao giờ mới chấm dứt? Làm thế nào để chấm dứt chúng? Ông cay đắng hiểu ra: dù các vua chúa có nhiều “sậu lệnh” (lời hứa không thể thực hiện được), vẫn có ít nhiều tâm thành của bậc Chí tôn đối với Dân, song chúng sẽ bị lũ “quỷ vương” tìm cách xâu xé, bóp méo, đè bẹp thê thảm vì quyền lợi ích kỷ đã được liên kết thật vững chãi của chúng, để lại một giang sơn hoang tàn, lở loét... 

Bài thơ “Bát muộn” (Xua nỗi buồn) viết năm xưa bỗng âm thầm trở lại, ứng vào thời thế đang diễn ra như cuộc trừng trị khốc liệt của Diêm Vương càng vò nát lòng ông: Cát bụi che mờ thềm ngọc mười năm nay. Thành phủ xây dựng trăm năm trước, một nửa thành gò hoang. Các loài chim nhỏ bé đều bay lên cao hết. Sau các cuộc huyết chiến, cõi càn khôn trở nên nhơ nhớp. Quê nhà trong cơn binh lửa hẳn đã tiêu điều. Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt… (Thập tải trần ai ám ngọc trừ, Bách niên thành phủ bán hoang khư. Yêu ma trùng điểu cao phi tận, Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư. Tang tử binh tiền thiên lý lệ, Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư). Nghĩ tới quê nhà, bao giờ Nguyễn cũng xót xa ứa lệ; hôm nay, quê nhà còn khía thêm vào tấc lòng rớm máu của ông cái thân phận người anh Nguyễn Nễ, người tuy được Gia Long tin dùng song đã bị bầy tôi cố cựu của ông vua này nghi ngờ, đố kỵ, rồi bị bức tử một cách uất hận tại Nghi Xuân…

Trong tia chớp vụt hiện nhắc nhở sự vô thường của cõi đời từ câu kệ “Như lộ diệc như điện” (Như giọt sương, như ánh chớp) ở kinh Kim Cang mà Nguyễn từng đọc nghìn lượt thời trẻ lang bạt, ông như nhìn thấy rõ hơn hình bóng thương tâm của người đàn bà trẻ chắp tay mếu máo van xin ông hôm trước… Qua bao cuộc binh lửa dịch giã, những dân đen con đỏ của Thập loại chúng sinh, những đồng bào từng được ta thương khóc trong “Văn Chiêu Hồn”, sẽ sống sao đây trên mảnh đất cạn kiệt tình thương? Bao nhiêu nước mắt cảm thương ta đổ ra cho những số phận bất hạnh liệu có trở thành trò giải trí cho những kẻ trọc phú bắt ngâm thơ ta trong bữa tiệc ê hề để tiêu cơm tiêu mỡ, trở thành đề tài khảo cứu cho những kẻ lòng dạ dửng dưng với người nghèo khổ để leo lên bậc công danh bằng chữ nghĩa văn chương?…

Người nhà mang cơm cháo đến, ông phẩy tay. Cô hầu mang thuốc tới, ông phẩy tay. Ông không muốn nói gì nữa. Không phải như Sử triều Nguyễn sau đó chép rằng: “Khi làm quan, ông thường bị quan trên quở trách, nên lấy làm uất ức, bực chí”. Với những gì ông đã thấy, đã hiểu suốt một đời vất vưởng cô độc; nhất là những ngày đại dịch này chợt nhận ra hết bản chất ma quỷ trong phần lớn những kẻ tự xưng là Cha Mẹ của Dân, những kẻ thường ghen ghét soi mói ông, thì ông thấy rõ rằng: uất ức, phẫn chí chỉ làm trò cười cho họ. Tốt nhất là im lặng, vô ngôn. Bởi vô ích rồi! Vô phương cứu chữa rồi, dù có Thần Phật xuất hiện.

“Đại Nam chính biên liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Đến khi bệnh kịch, ông không chịu uống thuốc, sai người nhà sờ chân tay, họ nói với ông đã lạnh cả, Du bảo rằng “Được” rồi mất, không trối lại một lời”.

Nếu có lời trăng trối, chắc Nguyễn chỉ nói với “đồng tâm nhân” của ông - oan hồn Khuất Nguyên vật vờ trên khói sóng Tương giang đã hai nghìn năm…

Hà Nội, 21/7/ 2021

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

* “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Mạn hứng, Nhị thủ - Thanh Hiên thi tập).

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Mười Một 20253:42 CH(Xem: 14776)
có một người không nói, mà hoa cười / không bước đi, mà gió cũng theo về / không hẹn trước, mà chiều như đã đợi / một bóng hình đằm thắm giữa cơn mê.
03 Tháng Mười Một 20253:32 CH(Xem: 12407)
Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa
03 Tháng Mười Một 20253:19 CH(Xem: 16410)
Ướt chùng lòng anh / Thềm mưa bụi / Con tàu lầm lũi vùng quên lãng / Đi vào đi vào sương, hoa muồng vàng mù tối / Đắng khói hai hàng cây nuôi dưỡng tình đầu /
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11110)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20252:23 SA(Xem: 15088)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ mới qua đời tại Mỹ, hưởng Thọ 102 tuổi (theo lịch Âm là 103 tuổi). Ông là hàng nhà văn tiền bối cuối cùng trong thế hệ Chiến tranh Việt Nam vừa ra đi. Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo và cho rằng dạy học là nghề, viết văn là nghiệp. Như thế trong nhãn quan Phật giáo thì phải chăng văn chương là duyên và tác phẩm là “nợ” như khái niệm “duyên nợ trần ai” giữa đời thường.
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10340)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
21 Tháng Mười 202512:14 SA(Xem: 11746)
Gặp gỡ trò chuyện với hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn, nghe kể một vài kỷ niệm về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (Vợ vua Duy Tân, con gái của quan thượng thư Bộ Lễ Mai Khắc Đôn
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 12994)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.
13 Tháng Mười 202511:02 CH(Xem: 18353)
Có những cơn mưa không chỉ rơi xuống mặt đất, / mà còn rơi vào bên trong con người. / Mưa Cuối Cùng là một cơn mưa như thế — / cuối cùng của Thời Gian, / và cũng là khởi đầu cho một cuộc rửa tội của Linh Hồn. / Trong tiếng mưa, Thi Sĩ nghe được tiếng dội của nhân loại: / những bước chân thất lạc, những linh hồn không còn chốn trở về, / và câu hỏi âm thầm về ý nghĩa của cuộc hiện sinh. /
13 Tháng Mười 202510:35 CH(Xem: 12562)
Duyên ngộ giữa tôi và Thụy Khuê lạ lùng như một sự ngẫu nhiên được an bài sẵn, chỉ đợi ngày tháng chín muồi là lóe lên như sao băng. Sự hiểu biết của Thụy Khuê, với tôi bắt đầu từ năm 2 đại học, hồi đó tôi khá mù mờ về văn học Việt, ngoài hai cái tên nổi tiếng đến mức quen thuộc là Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh thì tôi không đọc ai, đúng hơn là mấy ông thầy, mấy đứa đàn anh khóa trên chỉ nói về hai người đó với sự ngưỡng mộ tới cuồng tín. Tôi kén văn học Việt bởi sự khó chịu ăn vào máu thuở học sinh, suốt ngày phải đọc mớ văn học cách mạng mà vẫn phải cố khen, tán láo để lấy điểm cho bài thi, đợt thi vào khoa viết văn, tôi lại phải ca tụng Chí Phèo của Nam Cao dù tôi đọc truyện đó tới phát ngán, nói thẳng, đọc xong tuyển tập Nam Cao, tôi thấy tay nghề viết của ông chỉ ở mức trung bình khá, văn thô, trần trụi, tả thực nhưng ngôn ngữ chưa sắc, thiếu biến hóa, tầm nhìn vẫn mơ màng, thành ra hồi đi học tôi chỉ đọc phần văn học nước ngoài, cứ dính mắt vào văn học Việt là buồn ngủ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13261)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1592)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1744)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2255)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2388)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1427)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2194)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1923)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1973)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1339)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2382)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2573)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2336)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 227)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 779)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 981)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1060)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6388)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15865)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38846)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1446)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6882)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10651)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9851)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9971)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10766)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11109)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10339)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi