- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,520

NĂM BÀI LỤC BÁT HUỲNH LIỄU NGẠN

11 Tháng Sáu 202112:47 SA(Xem: 1212)

HuynhLieuNgan
Nhà thơ Huỳnh Liễu Ngạn - (1989)

thơ

Năm Bài Lục Bát

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

ANH RA PHỐ THỊ CHỜ SƯƠNG

 

anh ra phố thị chờ sương

phía em ngập nắng sầu vương bởi vì

lỡ sông lỡ suối lỡ thì

lỡ tay em hái sầu bi lót giường

 

chờ đêm rất thắm rất thương

rất vừa nhung nhớ con đường ấy thôi

mây trôi lạnh xuống má rồi

cho em xõa tóc vai trời ngủ say

 

biết trăng đã dậy đã ngây

đã xanh đã nhợt đã gầy tâm tư

có khi rất lạ rất nư

bỏ mây vào áo cho nhừ mùi hương

 

em về chốn cũ thân thương

đưa tay cố giấu mùi hương dâu tằm

trời ghen trời đổ mưa dầm

anh che anh đậy trăm năm cũ càng

 

chỉ là ước mộng đa mang

tuyết đông thành đá vàng thôi có gì.

 

18/5/2021

 

ĐỨNG BÊN ĐÀ NẴNG

 

tôi vô đà nẵng một chiều

lạc chân lỡ chuyến ga chiều cuối năm

trời thì mưa đổ lâm râm

nép bên góc phố lạnh căm cả người

 

dòng đời cứ thế mù trôi

nghe mưa giọt xuống quanh tôi nỗi buồn

tôi vô đà nẵng chiều buông

gió như lạnh lắm trên đường tôi đi

 

lang thang tôi nhớ chuyện gì

mà quên cả bóng xuân thì bên hiên

chiều rơi sương khói nỗi niềm

cho tôi đợi chuyển tàu đêm ga nào

 

mái che nặng hạt mưa rào

đứng bên đà nẵng tôi chào tôi đi.

 

1/2/2021

 

MÀU HOA NĂM ẤY

 

mở tay xin níu lại đời

gọi tên người với đôi lời xa xăm

biết còn ai để hỏi thăm

thì trăng đã ngả qua rằm giữa sông

 

nữa mai bỏ cuộc muôn trùng

mây kia núi nọ ngập ngừng gì không

em chừ lạnh thấu sương đông

vòm cây lá mỏi tan bồng bay qua

 

một hôm mưa thuận gió hòa

để anh tìm mãi màu hoa cuối dòng

màu hoa năm ấy tơ hong

cho anh mở ngõ đi vòng qua tim

 

một đời sao vẫn cố tìm

vòm cây rẻ lối lặng im ngóng chờ

sao trời không thả đường tơ

cho đêm cuốn lại giấc mơ vào lòng

 

sao lòng cứ hẹn mù không

cho anh vẫn tưởng đêm đông còn dài.

 

18/4/2021

 

BÓNG ĐỜI

 

bóng đời đổ nắng xiên khoai

tôi ra đầu ruộng tìm hoài bóng tôi

buổi chiều vừa xế lưng đồi

mắt em mây trắng gọi ơi kiếm tìm

 

từng ngày máu chảy về tim

tôi theo ngọn gió đứng im lặng chờ

vàng cây xuống nẻo hững hờ

cho tôi nhặt lại bài thơ giữa trời

 

rung rung một vạt sương hời

hồn tôi phơi nắng rã rời mỗi khi

chia tay dạo đó tôi đi

mưa trên vai áo thầm thì lại rơi

 

tôi đi ước hẹn cuộc đời

bèo mương nước lũ cuốn trôi thuở nào

tìm gì giữa chốn lao xao

màu quê nhuộm tím hồ áo thiệt rồi.

 

4/4/2021

 

TRĂNG Ở BIỂN THUẬN AN

 

trăng còn ở biển thuận an

mà lâu quá lại dở dang đường về

trăng còn lủng lẳng dưới quê

mà như hoang vắng sầu tê nỗi lòng

 

làm sao chải lại dòng sông

cho tóc em mượt soi chung một bờ

con đường cát trắng nên thơ

còn in dấu vết giấc mơ qua rồi

 

trăng còn dưới biển chơi vơi

mà em thì đã mù khơi hướng nào

sóng chiều vỗ mãi âm hao

ngàn lau hút gió xôn xao đợi chờ

 

anh về trả hết mộng mơ

ngàn con sóng vỗ đôi bờ trông theo

đại dương chiều nặng mái chèo

ngàn con sóng cuộn cheo leo biển trời

 

sao em đuổi gió ra khơi

để hoa muồng tím lả lơi xa bờ

lâu đài trên cát anh mơ

dấu chân nước xóa ngẩn ngơ kiếm tìm

 

ngồi buồn vẽ lại con tim

chiều dâng sóng cuộn biết tìm được không

đời sau kiếp trước tấm lòng

em đi anh ở muôn trùng gọi tên

 

trăng còn ở biển chưa lên

rạng đông mời gọi nhớ quên một đời

anh xa thế kỷ trước rồi

trăng còn ở biển vẫn cười đó thôi.

 

19/1/2021

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1038)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1124)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1812)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5840)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5821)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13169)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30052)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81159)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20227)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 194)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối