- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THẮNG hay BẠI ? ngày 30 tháng 4 năm 1975

Thursday, April 15, 202112:16 AM(View: 35901)

 

Pham Trong Luat-Thang hay Bai

Phạm Trọng Luật 

THẮNG hay BẠI ?

ngày 30 tháng 4 năm 1975

 

Nếu chúng ta cũng ngậm miệng, thì ai sẽ nói thay?

Arthur Schopenhauer

 

«Chiến tranh là sự tiếp nối chính trị bằng những phương tiện khác». Câu văn trứ danh này của Clausewitz, có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe qua. Nó xác lập sự phụ thuộc của quân sự vào chính trị. Từ khi có những tập hợp người gọi là thành quốc hay quốc gia, người ta không làm chiến tranh đơn thuần nhằm chém giết lẫn nhau, mà để giành lấy quyền định đoạt số phận của một cộng đồng. Và kẻ tham chiến có thể thua hàng trăm trận đánh, miễn là thắng trận cuối cùng, nếu sau đó nó mang lại quyền quyết định về việc tổ chức chính quyền trên một lãnh thổ. Nói cách khác, nếu tột đỉnh của quân sự là chính trị, thì bên tham chiến nào đạt được mục tiêu chính trị - đối tượng của cuộc tranh chiến -, bên ấy chính là kẻ chiến thắng.

Lịch sử đầy những địa danh mang tên loại chiến thắng quân sự ấy. Nhưng lịch sử cũng không thiếu những thí dụ đầu voi đuôi chuột, khi sự chiếm hữu chính quyền chỉ đẻ ra nổi một trật tự công cộng đặt trên những giá trị hoàn toàn trái ngược với lý tưởng được viện dẫn để biện minh cho chiến tranh. Nghĩa là khi chiến thắng quân sự không được tiếp nối bằng thứ thành tựu chính trị phù hợp với lời hứa hẹn, mà đôi khi bằng một thất bại sâu đậm hơn bội phần. Ở đây, để không ai sớm chạnh lòng, ta có thể nhìn vào cổ sử phương Tây xa xôi để tìm hiểu trường hợp có lẽ là nghịch lý nhất của nhân loại.

Thừa hưởng một quá khứ tương tranh triền miên, các thành quốc cổ Hy Lạp thường chỉ tập hợp nổi khá muộn màng trong một thứ liên minh phòng ngự, trước tham vọng thôn tính của ngoại bang. Liên minh cuối cùng gọi là «Liên Minh Achée» [Ligue Achéenne], hình thành vào năm 181 trước Tây lịch, đặt thủ đô tại Corinthe, nhằm chống lại đế quốc La Mã. Ba mươi lăm năm sau, Viện Nguyên Lão [Sénat] Roma gửi một đoàn quân và một đội chiến thuyền dưới sự thống lĩnh của Mummius và Metellus đổ vào Bucopétra thuộc thành quốc Corinthe. Quân liên minh ra cự địch bị tiêu diệt trong trận Leucopetra (năm 146 trước Tây lịch): Mummius ra lệnh san bằng Corinthe, chỉ chừa lại thành trên (acropole) và một số đền thờ. Vô số kho tàng văn hoá bị thiêu hủy hay chở về Roma. Hy Lạp từ đây trở thành tỉnh Achaiie của La Mã, cho đến khi đế quốc này cũng suy tàn rồi tiêu vong (khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch).

Ở đây, đâu là phán quyết của lịch sử? Leucopetra không phải chỉ là một trận thắng mà là một chiến thắng, bởi vì sau đó quyền quyết định số phận người dân Hy Lạp không còn nằm ở Corinthe hay một mảnh đất Hy Lạp nào khác, mà trong tay Viện Nguyên Lão Roma. Nó cho phép ta kết luận với Clausewitz: có chiến thắng quân sự khi sự kết thúc chiến tranh dẫn đến một thay đổi chính trị, cụ thể về quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc. Nhưng đây chỉ mới là nửa đầu của câu chuyện thắng bại giữa Hy Lạp và La Mã – cái nửa sự thực của cường lực vật chất.

Đây là nửa sau – cái nửa của sức mạnh tinh thần. Mummius ở lại làm Thái Thú (Proconsul) trên vùng đất ông đã chinh phục. Nhưng người La Mã, dù ở thuộc địa hay chính quốc, dần dần bị thu hút bởi văn minh Hy Lạp. Đến «thế kỷ của Auguste» (Caius Julius Caesar Octavianus Augustus, trị vì từ năm thứ 27 trước, đến năm thứ 14 sau Tây lịch) bao sản phẩm văn hoá và nếp sống Hy Lạp đã hiển hiện nhan nhãn trong đời sống hàng ngày của đế quốc La Mã, đến nỗi thi hào đương thời Horace (Quintus Horatius Flaccus, sinh năm thứ 65, mất năm thứ 8 trước Tây lịch), mà ngay bản thân cũng là đệ tử của nhà hiền triết Hy Lạp Epicure (Epikouros), khi suy ngẫm về quan hệ giữa đôi bên, đã để lại lời than bất hủ: rốt cuộc, «Hy Lạp bại trận đã chiến thắng kẻ thắng trận hung tợn!» (Pháp ngữ: «La Grèce vaincue vainquit son farouche vainqueur!»). Hiện thực này cho phép ta thắc mắc: thế nào là một chiến thắng chính trị? Phải chăng, ở đây, thắng lợi quân sự chỉ chuyển hoá thành chiến thắng đích thực khi sự thay đổi quyền quyết định tổ chức quốc gia hay thành quốc là tiền đề cho việc phổ biến những giá trị văn hoá của kẻ thắng trận?

Tất nhiên, Hy Lạp là một ngoại lệ hãn hữu. Không phải kẻ thất trận nào cũng cao hơn bên chiến thắng về mặt văn hoá. Nhưng cũng hiển nhiên, không phải giá trị văn hoá nào của kẻ thắng trận cũng đáng được phổ biến. Làm sao có thể La Mã hoá Hy Lạp, khi trong lãnh vực thể dục và tiêu khiển chẳng hạn, phe thắng chỉ đẻ ra nổi trò giác đấu mọi rợ, so với những cuộc thi điền kinh của bên thua? Colisée hoành tráng xưa, nay chỉ còn đứng đấy như một tàn dư hầu nhắc nhở du khách về cái thú tính luôn luôn còn tiềm năng bật dậy từ thâm sâu con người, trong khi ngọn đuốc thiêng từ Olympie, cứ bốn năm một lần lại chạy vòng quanh trái đất để vinh danh một lý tưởng cao quý của cả nhân loại… Tất nhiên, quan hệ Hy - La chỉ là một trường hợp giới hạn - một thứ mẫu lý tưởng -, nhưng đấy lại chính là thứ điển mẫu để từ đó đánh giá lại mọi tiếng gáy chiến thắng.

Nói cách khác, chiến thắng hay chiến bại, nói cho cùng, là một vấn đề chính trị - văn hoá. Và bởi vì không ai hy sinh xương máu giành chánh quyền để chẳng làm gì cả, hãy chỉ cho chúng tôi xem cái nền tảng giá trị mới trên đó anh muốn xây dựng trật tự quốc gia của anh, cùng những thành tựu đã thu hoạch được, chúng tôi sẽ nói, rốt cuộc, anh là người chiến thắng hay kẻ chiến bại.

 

Thử nhìn lại ngày 30 tháng 4 năm 1975 của lịch sử Việt Nam. Đây là một chiến thắng quân sự không thể chối cãi, bởi vì nó mở ra một trật tự chính trị mới. Kẻ thắng trận từ đây có thể vất bỏ mặt nạ. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Đảng Lao Động hiện nguyên hình là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nghĩa là từ đây, hệ thống giá trị được sử dụng làm đích nhắm để kiến thiết quốc gia không thể là gì khác hơn ngoài cái lý tưởng «phân phối theo nhu cầu, và đòi hỏi theo khả năng» trong tương lai cộng sản xa xôi, và cái phương châm «mình vì mọi người, mọi người vì mình» biểu thị «nếp sống văn minh» của thời quá độ được giả định mỗi ngày đang thành hình cụ thể trong hiện thực. Cái lý tưởng và nếp sống ấy tất nhiên không chỉ liên hệ đến người Cộng Sản, mà tất yếu phải quy định tương lai của cả nước, bởi vì đối với đảng cầm quyền, chỉ có loại thể chế này mới có khả năng mang lại và bảo đảm «độc lập, tự do, hạnh phúc» cho đất nước và nhân dân.

Ngày nay, chúng ta đang ở đâu trên bảng giá trị trên của hai cuộc cách mạng, «cách mạng xã hội chủ nghĩa» và «cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân»? Trả lời không nhân nhượng câu hỏi đó là dám nhìn thẳng vào cái ngày mai không mấy sáng sủa đang chờ đợi Việt Nam.

Tôi không viết bài này để so sánh Việt Nam với Hy Lạp: «bốn nghìn năm văn hiến» của ta chỉ là một hòn đất tí hon so với chiếc nôi văn hoá vĩ đại kia của nhân loại. Tôi cũng không viết bài này để hàm chỉ rằng Việt Nam Cộng Hoà cao hơn Dân Chủ Cộng Hoà về mặt văn hoá; tất nhiên, tôi không quên chuyện đốt sách ở Saigon và những phát biểu trịch thượng về văn hoá miền Nam trước 1975 - chỉ xin nhường lại sự phán xét cho mai sau. Cuối cùng, tôi cũng không viết bài này để kể tội Đảng Cộng Sản Việt Nam: tôi tự biết không đủ thẩm quyền bằng những người đã hy sinh tuổi trẻ và xương máu cho nó. Tôi chỉ cố gắng viết bài này, với tất cả sự thành khẩn khả hữu, để nói với mọi người, trong cũng như ngoài nước, trong cũng như ngoài Đảng, đôi ba điều tôi tin là thật:

1) Thất bại của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong tư thế đảng cầm quyền, dù muốn hay không, đương nhiên sẽ là thất bại chung của cả nước; 2) Chúng ta đang trên đường mất nước (như vẫn thường được cảm nhận ở miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 trước đây), không chỉ theo nghĩa là mất đi một nhà nước (phong kiến, độc tài hay toàn trị), mà là mất hẳn quê hương tổ quốc, lịch sử văn hoá, sông núi đất đai,… bởi vì chúng ta đã hội đủ mọi điều kiện để trở thành một tỉnh của Trung Hoa: lãnh đạo đồng loã, trí thức nhu nhược, dân trí thấp kém. 3) Chỉ một sự thức tỉnh và vùng dậy của cả nước, trong tinh thần hoà giải và cộng tác trong ngoài, trong truyền thống kháng chiến toàn diện, mới có hy vọng giúp ta thoát hiểm.

Đừng bao giờ quên: Mông Cổ, kẻ từng mang quân sang chinh phục Âu châu, nay chỉ còn là một tỉnh của Trung Hoa. Đừng bao giờ quên: Tây Tạng đã bị Trung Cộng thôn tính trong sự bó tay bất động của quốc tế. Đừng bao giờ quên: nếu lại rơi vào cảnh Bắc thuộc lần nữa, với sự chênh lệch một trời một vực về mọi mặt (quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá) như hiện nay, chúng ta khó lòng tránh nổi cái họa bị kẻ thù truyền kiếp Hán hoá vĩnh viễn.

 

Nhìn lại, tiếng gáy «đại thắng lợi» của ngày 30 tháng 4 năm 1975 thực chất chỉ là «một canh gà báo trượt rạng đông». Có những mặt nạ người ta tự ý vất đi; có những huyền thoại dù không chủ ý vẫn bị lột trần. Không ít trí thức từng tham gia chống Mỹ - đánh Ngụy, để «cứu nước, giành độc lập» nay bỗng khám phá ra rằng không thể nào có cách mạng, vì thực ra chưa bao giờ có những con người cách mạng mà họ tưởng tượng, dù ở cấp bậc nào!

Trên đỉnh, vất vưởng một dúm lãnh đạo lăm le «giải phóng» tất cả, song lại quên tự giải phóng cái đầu, mắc bệnh syđa (sao y đàn anh) trầm trọng. Khoảng giữa, lẫm liệt một đoàn cán bộ «hồng», một lớp tham quan, nấp dưới lớp sơn «cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư» của Bác Hồ để ăn hối lộ, buôn lậu, làm ăn «phi xã hội chủ nghĩa». Bên dưới, chen chúc hàng trăm ngàn đảng viên nghèo đói, thèm thuồng trước cảnh «phồn vinh giả tạo», từ đây nhất quyết đánh đổi cuộc đời vô sản lấy chút của cải phù du bằng mọi thủ đoạn «mánh mung», «móc nối». «Nếp sống văn minh» của thời quá độ, rốt cuộc, dẫn đến một xã hội lưu manh hoá: người ta thi nhau ăn cắp của công, lường gạt cướp giật lẫn nhau, phá hoại từng mảng tài nguyên đất nước, bán tống bán tháo hàng loạt gia sản cha ông để lại. Trên sỏi đá xã hội chủ nghĩa không tưởng «mình vì mọi người, mọi người vì mình», chẳng có gì nghịch lý khi chỉ mọc lên nổi thứ cây trái phong kiến vô cùng hiện thực «phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc».

Nếu đấy là những biểu hiện văn hoá (nền tảng giá trị và thành tựu thu hoạch) của chủ nghĩa xã hội, thì ai thắng ai ở đây? Cái Cũ hay cái Mới? Phong Kiến hay Cộng Sản? Tư Sản hay Vô Sản?

Mặt khác, hàng loạt chính sách giáo điều quái đản (nào cải tạo, nào đổi tiền, nào lý lịch), cùng với sự bao che băng đảng dưới chiêu bài «hợp tình, hợp lý» của Bác, đào sâu thêm hố thẳm Quốc - Cộng vốn đã hun hút. Khi thiên đường của phe «đại thắng lợi» đồng nghĩa với địa ngục cho bên «đợi thắng lại», tất yếu phải xuất hiện thảm cảnh thuyền nhân, và nỗi lo đảo lộn «phản cách mạng» khi cả khối Liên Xô sụp đổ. Bên ngoài, giương cao ngọn cờ quốc tế tơi tả, lãnh đạo dẫn toàn Đảng sang Thiên Triều Trung Quốc xin chiếc dù bảo hộ: «Đánh Tây đánh Mỹ bạc đầu, Ngày nay chống gậy qua Tàu ăn xin!». Bên trong, giương cao lá bài độc lập, lãnh đạo bắt cả nước trốn đằng sau một xác chết: Lăng Bác với tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng ông Hồ đội hai cái mũ: nhà Kominterchik và nhà yêu nước. Nhà Kominterchik chưa bao giờ phát biểu chi đáng giá về chủ nghĩa, về lý thuyết Mác Lênin. Nhưng nhà ái quốc, dù với lập trường vô sản, đôi khi cũng để lại vài câu nghe được về chủ quyền dân tộc: «Thà ngửi phân Tây thêm vài năm nữa, còn hơn ngửi cứt Tàu suốt đời» (tôi trích dẫn theo trí nhớ lời Bác dạy một lãnh tụ mắc bệnh nóng vội). Bác ơi, đám cháu ngoan của Bác, ngày nay dường như đang phản cả Bác để duy trì quyền lực. Ai đi ngang Lăng Bắc, dán giùm dân, đâu đấy cạnh bên, mấy câu thơ nhại từ Ông Phỗng Đá của nhà nho phong kiến Nguyễn Khuyến: «Ông ở làm chi trõng hỡi ông / Bơ vơ cá chậu với chim lồng / Đêm ngày coi sóc cho ai đó / Non nước đầy vơi có biết không?». Bác ơi, nhất nhật tại Lăng, nghìn thu trách nhiệm. Vượt biên đi Bác! Vượt cả tường đá lẫn tường lửa, ra mà xem thế sự xoay vần.

Vơi đi sông núi đất đai, đầy hơn tủi nhục: bảo hộ nào cũng có cái giá phải trả. Hãy đọc bằng ngôn ngữ sự kiện. Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc nhờ một lá thư dại dột của Phạm Văn Đồng (chuyện này hẳn Bác Hồ phải biết!). Trường Sa cũng có thể mất toàn bộ vào tay đế quốc đỏ cuối cùng này bất kỳ lúc nào, chẳng cần thêm một văn kiện ngây ngô thứ hai. Ấy thế mà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục ký tiếp hai hiệp ước bất bình đẳng với Trung Cộng, về biên giới, về lãnh hải. Rồi bưng bít, không xong thì dối dân, hoặc phản đối suông trước mỗi «diễn biến hoà bình», với đầy đủ chiến thuyền súng ống, của chủ nghĩa bành trướng! Không dám đưa vấn đề các quần đảo ra trước toà án quốc tế liên hệ - dù với khả năng thắng kiện đáng kể, không dám công bố nội dung hai hiệp định - dù nhân dân đòi hỏi, là đồng loã hiến dâng lãnh thổ cho ngoại bang, tiếp tục đánh lừa nhân dân một cách hoàn toàn ý thức. Qua hành trạng này, nhóm lãnh đạo bảo thủ Đảng đã tự xác nhận, không thể nào rõ ràng hơn, như tập đoàn tay sai, như lớp công chức thuộc địa của đế quốc Trung Cộng.

Bây giờ, thử đọc bằng ngôn ngữ biểu tượng. Khi Vi Quốc Thanh tuyên bố hắn mới chính là kẻ thắng trận Điện Biên Phủ, cả tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng im lặng. Phải chăng, cùng với tên tướng Tàu này, họ đã nhổ vào hương linh bao thanh niên Việt Nam đã hy sinh xương máu cho cuộc chiến tranh kháng Pháp và gia đình? Khi Giang Trạch Dân nghênh ngang sang Hội An tắm biển không cần hộ vệ, hắn muốn tuyên bố gì với thế giới, nếu không phải rằng cái gọi là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kia, kể từ nay, đã trở lại quy chế An Nam Đô Hộ Phủ của Thiên Triều trên thực tế? Giả vờ không hiểu (hoặc có khi không hiểu thực!) ý nghĩa của trò ám chỉ đểu cáng, xấc láo trên, phải chăng tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng đã khạc vào mặt tổ tiên, chối bỏ lịch sử bất khuất của dân tộc mình? Khi chiến thuyền Trung Cộng giết hại và bắt giam ngư phủ Việt Nam, nếu đại diện của nước phạm pháp không bị Bộ Ngoại Giao gọi lên mắng mỏ như trong cách hành xử thông thường của bất kỳ một quốc gia có chủ quyền và tự trọng nào, thì tập đoàn lãnh đạo bảo thủ Đảng ta đã muối mặt xác nhận với thế giới rằng tên Tề Kiến Quốc kia, thực ra không phải là ông Đại Sứ, mà chính là quan Thái Thú mới của Thiên Triều trên thủ đô «nghìn năm đô hộ» của mình.

Bảo hộ nào cũng có cái tiến trình của nó. Xưa, bao che Bảo Đại, Pháp tìm mọi cách tô son, trét phấn cho ông vua phường tuồng - một cách vuốt ve tự ái dân tộc để dân dễ chấp nhận. Nay, Trung Cộng vừa che chở, lại vừa công khai hạ nhục tập đoàn tay sai lãnh đạo Đảng Cộng Sản anh em. Nghịch lý ngoài mặt này chỉ tố cáo ý đồ nham hiểm bên trong. Càng gục đầu, cúi mặt, càng bị nhân dân khinh oán; càng bị khinh oán, nhóm lãnh đạo bảo thủ Đảng ta càng phải khuất phục nhục nhã Thiên Triều. Hố phân cách giữa lãnh đạo và nhân dân Việt Nam ngày cành khuếch rộng, đào sâu; nhưng dù theo kịch bản nào cũng đều có lợi cho Trung Cộng. Hoặc tập đoàn bảo thủ Đảng tiếp tục thống trị: đủ tham để tự tay triệt hạ khả năng kỹ nghệ hoá và phát triển đất nước qua việc buôn lậu hàng hoá «made in China», đủ mạnh và khôn vặt để trấn áp phong trào dân chủ, duy trì ngăn cách trong ngoài, lũng đoạn tôn giáo, v. v… - đương nhiên Trung Quốc sẽ tiếp tục gặm nhấm lãnh thổ và lãnh hải, làm thực dân mới. Hoặc đến một lúc nào đó, bất mãn sẽ nổ bùng thành bạo loạn - dựa trên một thỏa ước chính thức và hợp pháp chắc chắn đã được ký kết ngầm giữa hai bên, lúc ấy Trung Cộng sẽ gửi quân sang cứu nguy Đảng anh em, rồi viện cớ ngăn ngừa một đệ tam nhân tưởng tượng thừa nước đục thả câu để vĩnh viễn ở lại, làm thực dân cũ như ở Tây Tạng. Đấy là cái tương lai tăm tối đang chờ đợi Việt Nam. Không phải phim chính trị giả tưởng đâu, hiện thực Hung, Tiệp, Tây Tạng tái diễn đấy!

Độc lập là giá trị văn hoá tối cao của bất kỳ một dân tộc nào. Bởi vì mọi kiến trúc thượng tầng đều phải được xây dựng trên cái nền tảng ấy. Do đó, trong suốt thế kỷ qua, chủ quyền dân tộc đã là đối tượng đấu tranh của cả nước - kể cả Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù bằng một con đường lắt léo, nguy hiểm. Nếu bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu xương máu đã mất đi chỉ để đánh đổi lấy một sự lệ thuộc nhục nhã - tiệm tiếm nhưng chắc chắn - vào Trung Quốc như hiện nay, thì ngày 30 tháng 4 năm 1975, bước đầu của cái tiến trình mất độc lập ấy, là chiến thắng hay chiến bại cho cả nước?

 

Trước khi mất, ông Hồ hứa hẹn sẽ xây dựng lại quê hương tổ quốc đẹp hơn gấp mười. Một nhà thơ còn minh hoạ cái ngày mai tuyệt vời ấy, rồi xuýt xoa kết luận «Đất nước bao giờ đẹp thế này chăng?». Ngày nay, nếu chưa hoàn toàn đui mù, có lẽ chúng ta nên tự hỏi: «Đất nước bao giờ nhục thế này chăng?» hoặc «Đất nước bao giờ nguy thế này chăng?». Tôi tin rằng, chỉ với ý thức nhục nhã, ý thức hiểm nguy, song song với ý muốn giải ảo toàn diện khỏi mọi ảnh hưởng tai hại của một thứ chủ nghĩa cứu thế không tưởng, đất nước ta mới có khả năng hồi sinh hầu đương đầu với tình hình bi đát hiện tại. Chính vì bị chủ nghĩa tha hoá mà ta đã nhìn kẻ thù truyền kiếp thành đồng minh quốc tế. Chính vì bị giáo điều tha hoá mà ta đã giết hại anh em ruột thịt như kẻ thù không đợi trời chung. Cái chủ nghĩa trên, dù nay đã bị cả thế giới phế thải, bất hạnh thay, vẫn còn không ít tàn dư trên mảnh đất cha ông để lại. Bởi vì chẳng nhân danh gì khác ngoài cái chiêu bài «bảo vệ thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» mà hai tập đoàn lãnh đạo của Trung Hoa và Việt Nam đã nối lại quan hệ bất bình đẳng xưa cũ - một bên để bành trướng bá quyền, một bên để duy trì quyền lực băng đảng.

Trong số những «thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa» nói trên, tất nhiên có cả ngày 30 tháng 4 năm 1975. Do đó, xác định lại nó như ngày thất bại chính trị văn hoá bi thảm nhất của lịch sử dân tộc, chính là góp phần giải ảo một huyền thoại nguy hại, thức tỉnh những ai còn chút lương tri để suy nghĩ một cách thực tế và trách nhiệm về tương lai đất nước. Đây không thể là một chiến thắng chính trị, vì sau đó đất nước trở lại mô hình Bắc thuộc tưởng đâu đã vĩnh viễn trôi qua, dân tộc bị phân hoá trầm trọng thành bao mảnh đối kháng (Bắc / Nam, cai trị / bị trị, trong nước / ngoài nước, trong đảng / ngoài đảng). Đây cũng không thể là một chiến thắng văn hoá khi kẻ cầm quyền đã tự tay tổ chức sự tụt hậu về mọi mặt của quốc gia (giáo dục, y tế...), phá hủy nền đạo lý cổ truyền thoát thai từ các đạo giáo toàn nhân loại mà không thay thế nổi bằng bất cứ chủ trương, chính sách giáo điều nào. Rốt cuộc, gần như cả thế kỷ 20 đã bị phung phí, với bao nhiêu xương máu và tài nguyên, chỉ để đỡ đạn cho Trung Cộng trở thành cường quốc hầu quay lại nuốt chửng Việt Nam! «Đại thắng lợi vinh quang», hay khúc ruột thừa mưng mủ?

 

PHẠM TRỌNG LUẬT

tháng 3-2005

 

(Nguồn HỢP LƯU 82)

Send comment
Your Name
Your email address
Thursday, June 18, 20262:22 PM(View: 7914)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
Tuesday, June 9, 202612:52 AM(View: 6958)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
Tuesday, June 9, 202612:06 AM(View: 6509)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
Friday, June 5, 20263:48 PM(View: 7653)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
Friday, June 5, 20263:26 PM(View: 7011)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
Friday, June 5, 20262:52 PM(View: 7349)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
Friday, June 5, 20262:02 PM(View: 6344)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, May 8, 202611:30 PM(View: 10045)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
Monday, May 4, 20262:56 AM(View: 6815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
Monday, May 4, 20261:46 AM(View: 10600)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
Friday, August 7, 2026(View: 3767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13195)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19602)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18589)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1509)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1672)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2182)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2291)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1377)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2127)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1883)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1940)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1259)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2288)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2514)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2307)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 140)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 720)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 936)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1009)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6340)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15825)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32082)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38802)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1373)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13852)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10597)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9787)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9908)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10712)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3401)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11070)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi