- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Linh Hồ

04 Tháng Mười Một 200912:00 SA(Xem: 127872)

blank(Tặng nỗi buồn hồ cũ)

 

Khách phong lưu vẫn ngồi ở quán cà phê bên hồ vắng. Không thấy mẹ nàng đâu. Có lẽ mẹ nàng đi kiếm củi trên dãy núi bên hồ chưa kịp về. Nàng cũng không còn ngồi xoã tóc. Nàng lúi húi bên tách cà phê đang pha dở cho khách. Mùi cà phê ủ trọn cái lạnh giá đầu mùa đông, quyện chặt lại, nén hương rồi dậy lên trong mê muội. Khách thấy lòng mình rỗng rễnh. Khách không thể ngồi ung dung như mọi buổi chiều. Khách đứng dậy tiến lại chỗ nàng đặt tay mình lên bàn tay trắng nổi những đường gân xanh lơ. Khách không nhận thêm được gì ngoài sự im lặng. Hai đôi mắt đụng nhau một ánh nhìn vô định

- Em nói đi! - Đôi mắt khách hằn cái nhìn vừa cương quyết vừa khẩn cầu

- Anh muốn em nói gì?

- Anh sẽ mua cái hồ này. Em vẫn có thể mở quán cà phê. Nếu em thích

- Và em sẽ là người của anh?

Im lặng…

- Em không thuộc về ai cả.

- Tại sao?

- Đừng hỏi em!

Nàng quay đi.

Nàng lại nhìn ra mặt hồ.

Khách thấy lòng như lửa đốt. Cái hồ nước ma quái ấy có gì dưới lớp sương mờ ảo mỗi chiều, có gì sau rặng cây trinh nữ mà hút cái nhìn của nàng lâu đến thế. Muốn giữ trọn cái nhìn ấy ngay ngắn trong đôi mắt đa tình của mình. Muốn vĩnh viễn nhốt thứ nhan sắc mơ hồ ấy của nàng lọt trong đôi đồng tử.

Khách nhìn khắp người nàng. Một tấm thân mảnh mai yếu đuối đến tội nghiệp, khác hẳn với những cô gái đã đi qua cuộc đời khách. Cảm giác tấm thân ấy bất cứ khi nào cũng có thể tan vào gió, tan vào nước,…Khách muốn được che chở cho nàng. Muốn sở hữu nàng.

"Em không thuộc về ai cả."

Bóng tối đã buông màn. Mặt hồ sáng màu trắng lạnh của sương. Không còn thấy sóng lăn lăn và nước trong vắt nữa. Hồ nước đã thành hồ sương từ lúc nào rồi. Chiếc áo tím nàng mặc bây giờ khách nhìn thành màu đen. Tách cà phê nhỏ tới giọt cuối cùng, bã khô kiệt và chiếc ly thuỷ tinh một phần ba cà phê đen đặc như màu áo nàng nguội ngắt. Nàng quên hay không muốn đưa ra mời khách.

Khách đặt hai bàn tay lên mái tóc nàng, hôn lên vầng trán lạnh của nàng thành kính. Khách kín đáo để lại trên mặt bàn trước mặt nàng số tiền cho tách cà phê lỡ pha mà chưa thưởng thức. Nàng không quan tâm đến số tiền đó. Khách cũng không quan tâm tới số tiền đó. Khách nghĩ tới một ngày không xa được biến cái hồ thành khu du lịch sinh thái. Muốn che chở cho nàng trong vòng tay vạm vỡ, ru nàng bằng ánh mắt và giọng nói đa tình. Bỏ lại sau lưng tất cả.

Khách bước ra chiếc xe hơi đen bóng, mở cửa xe và không quay lại nhìn nàng. Chiếc xe nổ máy êm ru kéo một vệt dài rồi hút đi trong bóng tối.

 

* * *

Tiếng chuông gió bên cửa sổ leng keng. Người ta bảo tiếng chuông gió gọi hồn ma về. Đứa em gái nhỏ bé của tôi không tin là thế. Nó tiến đến gần chiếc radio mở to một đoạn ca khúc thiếu nhi quen thuộc. Hai bím tóc tết sam lí lắc trông ngồ ngộ. Nó còn quá nhỏ, tiếng chuông gió chẳng thể nào khiến nó bận tâm. Tôi nửa tin nửa ngờ. Tôi nhắm mắt lại nghe tiếng chim hoang ngoài vườn thúc vào không gian thêm nứt rạn. Bóng của mấy cây cổ thụ đổ xuống bức tường bao quanh vườn loang lổ.

Ở một góc phòng, nơi thu mình của gió, tôi nghe tiếng gọi của cô tôi từ nơi nào xa lắm. Tiếng cô méo mó ngập chìm trong mênh mông là nước. Tiếng gọi ăm ắp gió khuya lạnh buồn. Có người bảo ngày ấy cô tôi bị cưỡng bức, những kẻ đã cưỡng bức cô vì muốn trốn tội đã ném xác xuống hồ, nhưng cũng có người bảo vì cô trẻ người non dạ, vì cô có cơ duyên từ kiếp trước bị những con ma nữ dưới hồ bắt mất hồn nên phải theo.

Năm trước, cha mời về nhà ông thầy bói xa lạ. Mẹ thì thầm truyền lại lời ông thầy bói cho bà nội. Ông thầy bói ấy phán rằng cái hồ ma quái sẽ còn bắt mất hồn những người trong dòng họ. Những người con gái trong dòng họ sẽ còn phải chết chìm nghỉm xác dưới hồ.

Bà nội và mẹ tránh nhìn vào mắt nhau.

Hai người lặng lẽ thắp lên bàn thờ mấy nén hương. Khung ảnh gỗ lồng hình cô Ngà sau hơn chục năm đã nổi lên nước sơn màu nâu bóng loáng. Bao nhiêu năm rồi, mắt cô tôi vẫn buồn như sắp khóc. Có cái gì đó ẩn ức lay động lòng người. Có cái gì đó oan khiên trong mắt cô mà không một ai có đủ khả năng giải mã.

Tiếng chuông gió vẫn leng keng mời gọi. Em gái tôi ngủ quên bên bàn học từ lúc nào. Cành cây ngoài vườn đập vào nhau khô rát. Không gian đóng băng lại trong cái hanh hao chớm đến đầu mùa. Căn phòng rộng rãi im ắng đến ngộp thở. Sự bức bối đến mức nổi gai lạnh bọc lấy hàng ngàn chân tóc. Các mạch máu giật đều khắp mặt mũi, khắp cơ thể tôi. Khuôn mặt mờ nhạt của ông nội trên bức ảnh thờ nhòe nhoẹt đập vào mắt tôi buốt nhức. Tiếng rì rầm ma mị của người đàn bà bên hồ từ đâu phả lại. Cay nghiệt và xót xa. Tôi không tin ngày xưa ông cưỡng bức người tình cho đến chết. Ngày tôi được sinh ra, ông đã qua đời từ khá lâu. Mọi người trong gia đình ít khi kể chuyện về ông, ngoại trừ thím tôi luôn than thở tính ông gia trưởng. Lớn lên một chút, sau buổi tan học duyên cớ vô hình đẩy tôi tách mình ra khỏi đám bạn để ngồi hàng giờ bên hồ nước nghe người đàn bà xa lạ và già nua rì rầm kể chuyện.

Người tình của ông là em gái bà.

Đôi mắt đục ngầu của bà thoáng vằn lên cái nhìn thù hận. Ánh mắt người đàn bà nhìn tôi không chớp. Ánh mắt cứ xoáy sâu hòng đào bới chút gì trong đôi đồng tử nông cạn của tôi.

Mặt hồ cuối thu phập phồng thở dốc.

 

***

 

Khách thích ngắm nàng xoã tóc quay mặt ra hồ vào mỗi buổi chiều ướt sương. Mặt hồ mờ ảo. Dãy núi quanh hồ chuyển dần sang màu tím nhạt. Khách khoan thai phả khói thuốc thành những vòng chữ o điệu nghệ. Trên khuôn mặt đã gần năm mươi tuổi của khách vẫn còn giữ được nét phong tình. Khách lim dim cặp mắt buồn nhìn ra hồ. Hồ có hình con chim nhạn đang sải cánh bay, xung quanh hồ là trập trùng núi non. Cái quán nhỏ của nàng chiều cuối thu vắng tanh vắng ngắt. Chiều nào khách cũng ghé quán chọn ngồi một góc khuất để nhìn ra hồ. Nàng ngồi đó, âm thầm xoã tóc. Mái tóc nàng không dài lắm, chỉ tới ngang thắt lưng nhưng bồng bềnh. Gió thổi làm những sợi tóc rối nhẹ vướng vào nhau. Đôi lúc khách ngỡ đó là đám mây. Nếu đã là mây khách sẽ chẳng bao giờ nắm bắt nổi. Mây là hơi nước mà. Có ai nắm được hơi nước bao giờ.

Nàng vẫn ngồi hong tóc trong sương gió của chiều cuối thu nhàn nhạt. Những người đàn bà thường hong tóc cho khô nhưng nàng hong tóc mình tới khi ướt đẫm. Khách tấp chiếc xe hơi bóng loáng vào quán nàng mỗi chiều. Khách nhâm nhi từng ngụm cà phê đắng ngắt, thả vòng khói thuốc rồi ngắm tóc nàng, mái tóc mây ẩn dấu nhiều mê hoặc. Nàng pha cà phê thường cho ít đường. Mọi người không thích nhưng nàng bướng bỉnh, âm thầm cố níu giữ một thói quen. Khách khẽ nhắm mắt nhấp ngụm cà phê đắng mặc đầu lưỡi mình tê thắt lại. Chỉ nàng biết, ly cà phê đắng mỗi buổi chiều muộn giữ chân được một người khách phong lưu.

Mẹ nàng, người đàn bà già nua ngồi kể chuyện bên hồ cho lũ trẻ con nghe mỗi chiều chúng đi học về ngồi chơi trên đám cỏ. Bọn trẻ thích nghe những câu chuyện về cái hồ kì lạ ấy. Bà kể, năm xưa có một người đàn ông vì ghen tuông đã cưỡng bức người tình rồi giết chết ném xác xuống hồ. Người đàn ông ấy dùng thế lực và tiền bạc bao che cho tội ác của mình. Người con gái chết oan dưới hồ, linh hồn không siêu thoát nổi, hàng năm lại bắt những người khác xuống cùng. Oan hồn những người con gái chết ở hồ mỗi năm đêm đêm về ngồi vắt vẻo trên cành cây trinh nữ gai góc trút bỏ hết xiêm y soi mình dưới hồ nước và rì rầm kể chuyện cho nhau nghe. Họ thi hát cùng với gió. Họ cười cùng những con sóng bé mọn lăn tăn dập dìu đuổi nhau vào bờ. Bọn trẻ con đứa nào nghe cũng sợ hãi sởn da gà nhưng chúng vẫn há hốc miệng, tròn xoe mắt nghe một cách chăm chú.

- Thế…thế họ không sợ bị gai đâm hả bà?

Một đứa trẻ nổi tiếng lì lợm nhất bạo dạn hỏi.

- Không! Làm sao mà đâm được. Cây trinh nữ là một phần hồn của họ, gắn bó với họ.

Bà hướng cái nhìn xa xăm lạnh ngắt trong chiều. Những đứa trẻ rụt cổ lại, chúng so vai lắc đầu khiếp đảm. Hèn gì quanh hồ không một loại cây nào mọc nhiều như cây trinh nữ. Chúng mọc thành vòng tròn ken dày quanh hồ. Có một cái bến nhỏ dẫn lên quán của mẹ con nàng là chỗ duy nhất loài cây ấy không mọc. Hồ hình con chim nhạn xoãi cánh. Quán nhỏ nằm trên phần mỏ chim nhạn. Nếu đứng ở bất kỳ chỗ nào trên dãy núi trùng điệp bao quanh hồ đều thấy chim nhạn như đang ngậm trong mỏ cái quán cà phê chiều của mẹ con nàng.

Mẹ con nàng từ đâu chuyển tới không biết nữa. Chỉ biết sau một trận bão lớn căn nhà lá được dựng lên đồng thời với cái quán cà phê nhỏ.

Buồn lay lắt.

Quán bán cho những người đi đường, mấy gã thanh niên lêu lổng, vằn vện và thỉnh thoảng còn có thêm một vài người phụ nữ đi buôn đẫy đà, ngoa ngoắt. Người dân trong vùng ít khi ghé đến và cũng không có một hộ dân nào ở quanh hồ. Người ta đồn cái quán ấy có ma, nàng là con ma nữ bắt hồn người. Mấy mụ đi buôn đẫy đà thì chẳng quan tâm, họ quét cái nhìn khắp thân thể nàng rồi nhìn nhau cười khanh khách. Họ bảo khách phải lòng nàng chiều nào không ghé qua uống cà phê thì không chịu nổi.

Mẹ con nàng vẫn âm thầm như chiếc bóng. Chiều lòng khách, nàng xoã tóc nhìn ra hồ vào mỗi chiều chạng vạng. Mẹ nàng vẫn kể chuyện cho lũ trẻ con nghe. Xong mỗi câu chuyện kì dị, bà lại xoa đầu lũ trẻ. Bọn trẻ tò mò thích nghe bà kể chuyện nhưng chúng sợ bàn tay gân guốc sần sùi như thân cây ngày đông, sợ cả đôi mắt sâu hoắm, đục lờ lờ của bà. Chưa bao giờ chúng dám nhìn thẳng vào mắt bà. Chúng gọi bà là bà phù thuỷ kể chuyện bên hồ. Chúng tung tẩy cặp sách trên vai chạy qua con đường nhỏ dẫn vào làng nằm khuất bên kia ngọn đồi. Mẹ nàng chưa bao giờ kể những câu chuyện li kì ấy cho khách nghe cũng chưa khi nào chuyện trò cùng khách.

***

 

- Con lại ra hồ về phải không?

Mẹ hỏi tôi rồi im lặng quay mặt ra cửa sổ. Vườn đêm xao xác gió, tiếng chim hoang rít lên từng hồi nhức buốt. Mẹ không đợi câu trả lời của tôi. Mẹ biết trước rồi. Mẹ đợi một điều gì đó mà chưa bao giờ tôi chạm lòng đến được. Mẹ không cấm tôi ra hồ nhưng mẹ buồn sau mỗi lần tôi ra hồ về. Làm sao mẹ biết được con gái thường ra ngắm hồ vào mỗi buổi chiều sương. Có lẽ sương trên hồ hay gió trên hồ còn vương lại trên tóc tôi, trên mắt, trên da tôi bạc phếch nỗi niềm…Không như vậy thì làm sao mẹ biết.

Mẹ buồn. Mẹ hay nhìn ra cửa sổ, tôi thường so sánh mẹ với cô ấy. Tóc mẹ cũng sẽ bồng bềnh lắm nếu mẹ không búi gọn gàng thành cuộn tròn sau gáy. Gương mặt mẹ nhìn nghiêng bên cửa sổ cũng giống gương mặt cô ấy nhìn ra hồ…

- Thôi. Con vào nhà ăn cơm đi, tối còn học bài

Mẹ nói với tôi như trút xong một tiếng thở dài nén sâu trong lồng ngực. Tôi bước đi trong căn nhà rộng rãi tối tăm vì chưa kịp bật đèn điện. Nghe rõ tiếng bước chân mình. Qua bàn thờ, chợt ngửi thấy mùi hương ngút ngát chông chênh. Hôm nay ngày rằm. Hôm nay mẹ trở dậy đi chợ thật sớm. Hai bình hoa huệ trắng muốt thơm tho được mẹ cắt tỉa đặt ngay ngắn hai bên. Ở chính giữa bàn thờ là hai khung ảnh, một lớn một nhỏ, của ông nội và của cô Ngà. Bà nội sinh bảy người con chỉ được mỗi cô Ngà là con gái. Ảnh ông nội đội khăn xếp, áo the đen đã mờ tôi không hình dung nổi nhưng ngay bên cạnh ánh mắt ngây thơ mở to của cô Ngà đã níu tôi lại. Chưa khi nào bước qua bàn thờ cô mà tôi không dừng lại rồi ngước lên nhìn. Trên vầng trán cao của cô xoã xuống những lọn tóc xoăn di truyền từ ông nội.

Cô Ngà là con út nên được cả nhà cưng chiều. Trên bàn thờ, ánh mắt cô nhìn đăm đăm. Mắt cô buồn lắm. Buồn như sắp khóc. Buồn hơn những gợn sóng hồ rơm rớm xanh xao. Ngày cô còn sống, lúc nào tôi cũng thấy cô cười nói. Tính cô như trẻ con, cô đi học cấp ba rồi nhưng ngồi trong lớp học cô thích ngậm kẹo bạc hà thật lâu trong miệng và đêm đêm gác chân lên người bà tôi mà ngủ. Lần đầu tiên trong tấm ảnh thờ thấy mắt cô buồn đến thế. Đôi lông mày đen và đẹp như hai nét vẽ không sao che nổi đôi mắt buồn. Tôi đứng chôn chân để mặc bóng tối ngập dần trong mắt. Mấy nén hương mẹ thắp ban chiều còn cháy dở để lại đốm sáng đỏ lự trên bàn thờ. Những bát hương cũng có nhiều vòng tròn để lại sau mỗi lần cháy hết. Những vòng tròn ấy cũng đều đặn như vòng tròn khói thuốc khách lại phả mỗi chiều.

Một sáng mùa đông rét căm căm, tôi còn nhỏ chừng năm sáu tuổi bấu chặt tay mẹ trong lễ cầu hồn cho cô tôi. Cô chết dưới hồ đã ba ngày, bà nội và cha thuê bao nhiêu người lùng vớt xác cô mà không thấy. Buổi sáng mùa đông hôm ấy nhiều người ra hồ lắm. Mẹ tôi đang mang đứa em nhỏ của tôi trong bụng. Mẹ nặng nhọc kéo tôi quỳ theo họ hàng bên nội. Trên cùng là ông thầy cúng. Tôi phải nhướng mắt lên mãi cũng chỉ thấy được mái tóc muối tiêu và tấm lưng hơi còm, gầy nhom của ông trong cái áo the đen thôi. Quỳ ngay bên dưới là bà nội tôi và cha tôi. Cha là con trưởng. Mẹ con tôi, các chú, các thím, các em họ và bạn bè học chung lớp cô Ngà quỳ phía dưới. Sau một hồi lầm rầm khấn vái, ông thầy cúng dùng cái gậy được quấn vải trắng kỹ lưỡng luồn qua dải lụa vung tay như múa vắt lên ngọn cây trinh nữ bên hồ. Dải lụa trắng mềm mại chảy dài một đầu nhẹ nhàng chạm xuống mặt nước trong veo thấm ướt. Ông thầy cúng lại tiếp tục bài khấn vái làm tôi khó chịu vì có cố dỏng tai lên nghe cũng không nghe được gì. Mọi người sụp xuống lạy. Một trận gió mạnh thốc lên từ mặt hồ. Ông thầy cúng còm nhom thôi lầm rầm. Bỗng thấy tất cả im bặt. Tiếng bà nội tôi nức nở :

- C..o..n ơ…i! Oan cho con lắm con ơ…i!

Sau tiếng gào khóc của bà nội là tiếng thút thít, sụt sịt của tất cả mọi người trong dòng họ. Mẹ tôi cũng khóc. Mặt mẹ cắt không ra giọt máu, tay mẹ nổi những đường gân xanh xao ôm chặt lấy bụng. Tôi biết chắc mẹ đau lắm. Họ hàng bên nội không ai hay biết cả. Mọi người chắp hai tay thành tâm, mắt ngước nhìn lên dải lụa. Trên dải lụa trắng thấy mấy giọt máu đỏ thẫm vấy trên đó…Cô tôi chết lúc mười tám tuổi. Tôi vẫn nhớ rõ lắm gương mặt tròn trĩnh xinh xắn của cô và cả mùi cay cay lạnh lạnh của kẹo bạc hà trong miệng cô phả lại mỗi lúc cô thơm lên má tôi. Vì sao trên dải lụa trắng buổi lễ gọi hồn lại vấy từ đâu ra mấy giọt máu đỏ thẫm. Không ai biết. Tôi nghĩ chắc chỉ có ông thầy cúng biết thôi. Tôi nhìn tấm lưng còm của ông giấu thầm cái nhìn thán phục. Chỉ có ông mới cho mọi người nhìn thấy mấy vết máu trên lụa thôi. Gió vẫn thổi rung rinh những cành hoa trinh nữ. Cái rét cắt da cắt thịt như làm những tiếng khóc than luồn vào trong nhau lâm li khản đặc. Cô chết không có mộ. Tấm lụa thiêng được cha cuộn lại thật cẩn thận cho vào cái bình gốm đặt trên bàn thờ. Hàng năm, ngày giỗ cô tôi, mọi người ra hồ làm lễ. Có nhiều gia đình khác cũng làm lễ bên hồ.

- Nhiều người chết lắm rồi!

- Không giải được lời nguyền yểm dưới đáy hồ thì còn nhiều cô gái chết nữa đó!

Những tiếng xì xào đẩy đưa trong gió. Tôi đã mười tám tuổi, bằng tuổi cô tôi ngày ấy. Mùi kẹo bạc hà thuở ấu thơ cay cay xông lên làm mắt tôi ngấn nước.

 

***

Bà nội tôi vẫn bảo: cô Ngà chết trẻ nên thiêng lắm. Ngày nhỏ, chưa hiểu thiêng là thế nào nhưng tôi biết từ ngày cô chết, bà tôi, cha tôi và mọi người đều trở nên lặng lẽ hơn. Cha thức thâu đêm và hút thuốc nhiều. Mẹ sinh em bé. Mẹ thắp hương cho cô đều đặn. Tôi bớt tiền mẹ cho ăn quà sáng mua những viên kẹo bạc hà chiều chiều đi học qua thả xuống hồ. Mẹ bảo cô Ngà không chịu về nhà, nhà mới của cô ở dưới đáy hồ.

Mười tám tuổi, tôi vẫn tin cô Ngà còn ở dưới hồ, dưới làn nước biêng biếc và sương mù bao phủ mỗi chiều. Gió thổi bạt mái tóc tôi khi nào cũng buông xõa.

Chiều nào cũng có một bàn tay gân guốc cài những lời nguyền đặt lên vai tôi.

Nhìn như thôi miên xuống mặt hồ. Những con sóng lầm lũi bơi lại gần tôi lổ loang mặt nước. Chiều nay lặng gió, dải lụa thiêng hiện lên trong ý nghĩ tôi. Từ ngày cha tôi cất dải lụa chưa một lần thấy ông lấy ra. Hồn cô tôi có theo những giọt máu đỏ đậu về bàn thờ hay quanh quẩn ở nhà tôi không? Chẳng ai biết cả. Từ ngày cô qua đời, căn nhà cứ mỗi ngày càng trở nên âm âm bí hiểm. Hơi nước dưới mặt hồ hắt lên làm mắt tôi ứa nước. Tôi không khóc. Tôi ít khi khóc trong những buổi chiều đối diện với mênh mông sóng nước. Nhìn làn nước trong xanh tôi đoán hồ sâu lắm hun hút cái nhìn của tôi. Những bông hoa trinh nữ tròn vo từ màu hồng đã chuyển sang màu trắng. Héo quắt đến thảm hại.

Mùa đông năm nay về sớm.

 

"Kẻ có tội ắt phải đền tội". Bà lão kể chuyện bên hồ thôi nhìn vào mắt tôi. Những ngón tay gân guốc của bà bứt những sợi cỏ khô ven hồ một cách khó nhọc tưởng chừng bất cứ khi nào những sợi cỏ mảnh mai ấy cũng sẵn sàng làm tay bà tứa máu. Bà bảo số phận đã định đoạt rồi không cưỡng lại nổi. Tôi không đáp lại. Gió cứ thổi ngút ngát, ở ngoài hồ sao nhiều gió thế. Những hồn ma con gái chết dưới hồ đang gọi tôi. Cô Ngà đang gọi tôi, tiếng của người chết tan thành gió, cô muốn đưa tôi theo cùng. Tôi vùng dậy cắm đầu chạy. Thấy hơi kẹo bạc hà cay cay thảng thốt luồn sau gáy.

 

* * *

Bàn thờ lạnh ngắt. Mùi hương rủ nhau trốn biệt. Mắt mẹ đỏ hoe. Mẹ ôm lấy tôi tức tưởi khóc. Cha đã bỏ ba mẹ con tôi đi theo người con gái ấy. Trên mặt bàn đá trơ khấc, tờ đơn ly hôn cha viết nằm yên vô định. Những nét chữ cha khoáng đạt mà vô tình.

Cha muốn nắm giữ những điều mình cho là có thể.

"Em chẳng thuộc về ai!"

Số phận mà. Tôi tin vào số phận. Vài tuần nữa thôi căn nhà rộng rãi này sẽ được quy ra tài sản và chia đôi, cả mảnh vườn hun hút gió cũng chia đôi, cả tôi và đứa em gái bé nhỏ…Tôi khóc nấc lên. Cha và mẹ chưa bao giờ cãi nhau cả nhưng cha phải lòng người ấy. Lý do của cha khiến mẹ lặng câm.

Ừ! Số phận mà! Bồ tát chứng giám, con bướng bỉnh mà vẫn không thoát nổi tấm lưới cả tin dăng mắc duy tâm phiền muộn. Tôi rướn đôi chân, cố chạm ngón tay vào khung ảnh của cô. Ánh nhìn cô trong hơn nước. Vì trong quá nên đựng được nhiều điều. Mẹ nhỉ?.

Em tôi ngủ rồi. Tiếng khóc của mẹ và nỗi niềm tôi không chạm vào giấc ngủ em được. Có lẽ, giống ánh mắt cô Ngà, giấc mơ em trong hơn giọt nước. Tiếng chuông gió vẫn leng keng sắc lẹm cứa vào không gian yên tĩnh. Chuông gió đung đưa đẩy gió tràn qua ô cửa.

Ánh mắt mẹ đã bạc màu.

 

Chiếc kéo trên tay cha tôi cắt ngọt một đường ngang dải băng khánh thành khu du lịch sinh thái. Những tiếng reo hò tán thưởng, những tiếng vỗ tay dậy lên. Cha đặt bút kí lên bản hợp đồng. Nét chữ cha vẫn khoáng đạt đến vô tình. Mẹ tôi về bên ngoại rồi. Tôi đứng bên dưới nhìn cha như một người xa lạ.

Buồn lắm! thương lắm…

Mặt hồ không còn dậy sóng, những cành hoa trinh nữ chơ vơ. Cha ghét loài cây này, cha sẽ cho người ta chặt hết và chở đá kè xung quanh hồ nước.

Buồn lắm! Thương lắm!

Những hồn ma không còn biết trú vào đâu.

***

Em gái tôi chết dưới hồ cách ngày giỗ cô Ngà một tuần lễ. Em tôi chết không rõ nguyên nhân. Lúc xác em tôi được người ta vớt lên thấy trên lưng nó còn đeo chiếc cặp sách nhỏ nhắn hình con thỏ. Da mặt, tay chân nó bạc phếch. Trên môi nó còn giữ nguyên vẹn nụ cười. Bà nội tôi ngửa mặt lên trời gào khóc. Mẹ áp khuôn mặt đẫm nước xuống đôi má bầu bĩnh của nó. Mẹ khóc không thành tiếng. Nước mắt mẹ đã cạn rồi. Mấy người trong dòng họ tất tưởi đi tìm cha suốt cả buổi chiều không thấy. Quán cà phê người con gái ấy đóng cửa. Bà già kể chuyện bên hồ cũng không thấy đâu nữa. Chiếc quán còn trơ lại mái lá sột soạt mỗi khi gió thổi. Ngày mai tòa án nhân dân hẹn cha mẹ tới giải quyết. Tôi mơ hồ nhìn mặt nước se se. Tôi không thể gọi tên em gái mình được nữa. "Kẻ có tội ắt phải đền tội". Sao mà cay nghiệt đến khó tin.

 

Những xe đá lùi lũi nối đuôi nhau trên con đường dẫn vào hồ. Đám công nhân nhìn thoáng qua ai cũng giống ai. Họ mặc bộ quần áo bảo hộ lao động màu xanh thẫm trùm kín mặt và đeo cả kính. Người ta dỡ những chiếc lá cọ lợp cái quán cà phê chiều ném thành đống. Xám xịt và mục nát.

Tôi mắc chiếc chuông gió lên cành trinh nữ già cỗi còn sót lại bên cạnh những gốc cây bị chặt ngổn ngang chĩa lên trời nhọn hoắt, xiết chặt đôi tay hơn, tôi ôm khung ảnh cô Ngà và em gái mình đứng trước cái hồ ma quái ấy.

Số phận mà!

Tôi đinh ninh hồn hai người kịp theo tôi về nhà trước lúc trời tối, trước khi những xe đá được trút xuống mặt nước sâu thẳm đến lạnh lùng.

 

"Em chẳng thuộc về ai!"Câu nói sắc lẹm như gai cứa vào chiều u uẩn.

Mẹ tôi lại lặng câm. Cha không về nữa. Cảm giác căn nhà tôi sắp tan thành nước. Gương mặt ông nội tôi vẫn nhạt nhòa nhưng ánh mắt cô Ngà như đã vơi đi nhiều ẩn ức. Nhẹ và trong. Chiều nay, trời nổi gió. Cơn gió lu loa đập vào khung cửa sổ. Tôi nhoái cánh tay qua những song cửa phía dưới chiếc chuông gió. Em tôi đang về. Gần tôi lắm nhưng tiếng chuông leng keng chẳng thể nào chạm nổi giấc mơ em, giấc mơ hiền như cỏ. Trước mặt tôi là em gái tôi đó, mắt em vẫn khép bình yên…

Mẹ ôm chiếc bình đựng dải lụa và khung ảnh em gái tôi lên chùa. Bước chân mẹ nhẹ như không. Suốt đêm qua mẹ đã quỳ dưới chân bà nội. Mẹ bảo: "Số phận mà. Mẹ tha lỗi cho con". Bà nội đan hai tay gân guốc vào nhau xiết chặt, những nếp nhăn bên khóe mắt, khóe miệng bà xô ríu vào nhau. Bà không nói được gì. Bà đứng lên nặng nề trút câu nói nặng như chì: "Tùy chị!". Tôi đứng sau lưng mẹ. Trong mắt tôi mọi thứ đã vỡ tan thành nước.

 

Em chẳng thuộc về ai! Vì sao? Vì sao tôi không thể giải được lời nguyền đó? Em là ai? Em thuộc về ai?Tôi muốn chinh phục em, chinh phục hồ nước này!

Người ta tìm thấy cha tôi lúc cha được đưa vào bệnh viện. Tay chân cha, thân thể cha run lên vung tứ phía trong mê loạn:

- Tôi phải chinh phục được hồ nước ấy. K…h…ô…n…g!

Ánh mắt bà nội trũng xuống khô khan. Số phận mà! Mùi cồn và thuốc kháng sinh xộc lên ngằn ngặt. Tôi lảng tránh ánh nhìn mê loạn của cha, gió rùng rùng thổi qua khung cửa sổ, trời sắp mưa to rồi.

Mặt hồ mênh mông nước. Chẳng biết sau này khi khu du lịch sinh thái được hoàn thành, hồ nước có thành hồ sương? Dù thế nào, nàng vẫn khăng khăng một lẽ: "Em chẳng thuộc về ai!"

 

Lữ Thị Mai
(Hà Nội)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Hai 20254:45 CH(Xem: 21017)
Tôi gửi cho người một ít tết quê hương / Gói thương thương trong một bài thơ nhỏ / Qua ngõ nhà ai, ghé nhìn vào cho rõ / Hai lối chè tàu, cây nhãn, bưởi đang xanh
01 Tháng Hai 20254:11 CH(Xem: 21283)
dương cầm / khô một giọt đàn / em hái trên phím / cùng lan huệ sầu
31 Tháng Giêng 202511:51 CH(Xem: 20074)
Với chính sách thiếu nhất quán và luôn “xoay trục”, với tổng số đầu tư không đáng kể, trong suốt 50 năm qua kể từ sau 1975, Hoa Kỳ gần như không có động thái tích cực và hiệu quả nào ngăn chặn sự bành trướng lấn lướt của Trung Quốc – không chỉ trên lưu vực sông Mekong – mà cả Biển Đông. Để có thể đối trọng với Bắc Kinh, dĩ nhiên, Washington cần có một tầm nhìn chiến lược, chấp nhận một cái giá tương xứng phải trả hầu có thể phục hồi ảnh hưởng đã có bấy lâu trên Bàn cờ Sông Mekong. "NGÔ THẾ VINH"
28 Tháng Giêng 20259:42 SA(Xem: 21638)
Nguyen Chi Trung’s poetry rises like a river in flood, from a deep unthinkable and unfathomable abyss, in Filomena Ciavarella’s words[iii]. The same fascination held by the Ganges, a symbol of the East, blending itself into Trung’s soul. The genesis of As I Step Down (henceforth, AISD), a poem of ten stanzas following the “Sixth-Eight” words metrical pattern, is closely and Romantically linked to that holy river: “I dreamed to come one time in my life to its border and to boatflow over it”[iv]. Like a vision in a dream, it all came true in winter 2015/16.
27 Tháng Giêng 20253:51 SA(Xem: 25953)
Yosano Akiko (1878-1942) là nhà thơ, nhà cải cách xã hội và nhà nữ quyền tiên phong Nhật Bản. Bà được ngưỡng mộ như là nữ thi sĩ lớn nhất nhưng gây tranh cãi nhất của Nhật Bản thời hiện đại. Bà đóng góp một phần lớn trong việc cải cách thể thơ tanka phổ biến với lịch sử trên 12 thế kỷ thành một thể thơ hiện đại.
27 Tháng Giêng 20253:16 SA(Xem: 20354)
“Yen Bay, Quel est vocable qui rappelle qu’on ne bâillone pas un peuple qu’on ne le mate pas avec le sabre du bourreau - Yên Bái, đây là cái điều nhắc nhở ta rằng, không thể bịt miệng một dân tộc, mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ” (Louis Aragon).
27 Tháng Giêng 20253:02 SA(Xem: 19826)
"Thời gian tựa bóng chim câu. Nó đi đi mãi không chờ đợi ai..." Bây giờ là những ngày cuối cùng của năm. Tôi chuẩn bị đón năm mới tại Sài Gòn thành phố mới của con và cháu Ngoại.
27 Tháng Giêng 20252:38 SA(Xem: 24676)
Tết này anh về nhé / Để thăm lại quê nhà / Thăm bạn bè một thuở / Cùng nghiên bút bên nhau /
26 Tháng Giêng 202511:01 CH(Xem: 23525)
rất em / trắng / ngọc. cười / cõi thơ chàng sáng đẹp trời đêm ngâu / biếc xanh lời trúc mầu / ánh tóc và nguyền sánh cõi đau tình cùng / hát lời nhau cạn mời chung khúc / cầm đêm se sợi vĩ ứa mù tim /
23 Tháng Giêng 20257:32 CH(Xem: 27000)
Ngày đã gần về cuối năm / Em hỏi anh đã ở đâu trong suốt năm rồi / Vầng trăng anh gởi cùng xao xuyến / Tình yêu có răng cắn đi mất nửa
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3848)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1635)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2314)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2416)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1460)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2211)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1953)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2000)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1373)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2628)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2378)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 246)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 811)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1008)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1121)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6414)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32154)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38863)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1485)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10701)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9890)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10020)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10824)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3459)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10356)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi