- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,079

NỖI BUỒN MẸ BÊN SÔNG ĐÀ

08 Tháng Chín 20209:23 CH(Xem: 3460)
noi buon me song da
Mẹ Bên Sông Đà

Tôi vô tình được gặp mẹ trong một khách sạn.

Cứ chiều chiều, mẹ lại ra đứng ở ban công tầng hai, mắt nhìn về phía xa xa, vẻ mong đợi bồn chồn...

Có lần, trong một cuộc liên hoan văn nghệ do đội văn công của khách sạn trình diễn, tôi gặp mẹ ngồi ở hàng đầu, giữa các quan khách... Chẳng hiểu những lời ca tiếng hát trẻ trung đã gợi cho mẹ những cảm nghĩ gì. Nhưng tôi chợt cảm thấy: lọt thỏm giữa âm thanh, sắc màu và hoạt động sôi nổi, mẹ như để tâm tư lắng vào một nơi nào đó thật xa xôi...

Dần dà, tôi cũng được biết ít nhiều về thân thế của mẹ.

Mẹ là người Mường thuộc vùng sâu vùng xa của một huyện miền núi chủ yếu là cao nguyên. Làng quê của mẹ sát bên sông Đà, xa đường cái, xa thị trấn thị tứ, vào được tới đó phải vượt qua nhiều chặng sông hồ đường đất gian khổ - nhất là vào mùa mưa, mọi người kể thế... Vào thăm Bảo tàng tỉnh, thấy có ảnh mẹ. Hóa ra, mẹ là một trong bốn bà Mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh này từng được Nhà nước phong tặng...

Mẹ có một người con trai duy nhất đã hy sinh trên chiến trường chống Mỹ tại Lào năm 1970. Chồng mẹ đã qua đời mười năm nay. Khi ngôi nhà tình nghĩa của mẹ tại quê bị gió mưa làm sụt nóc, mẹ tới ở nhà vợ chồng người con gái nuôi một thời gian... Nhiều đơn vị ở tỉnh xin nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời, và K.S Công đoàn tỉnh cuối cùng đã nhận được vinh dự đó. Tại đây, mẹ được chăm sóc như người mẹ, người bà chung của cả đơn vị.

Nhưng, nỗi nhớ quê hương vẫn thường dày vò tâm tư mẹ. Mọi người đều hiểu điều ấy. Vì vậy, thi thoảng K.S Công đoàn lại tổ chức một chuyến lặn lội đưa mẹ về thăm nhà độ dăm bữa nửa tháng, rồi lại về quê đón mẹ lên Thành phố.

Thực may mắn, tôi gặp được dịp K.S Công đoàn tỉnh đưa mẹ về thăm quê. Tôi xin được đi theo mẹ trong cuộc hành trình này.

Từ Thành phố về quê mẹ gần hai trăm cây số đường trường, qua đèo dốc, sương mù, sông suối, qua nhiều thị trấn, làng bản...

Lúc này hoa ban đang nở trắng núi rừng. Vẻ đẹp của cảnh vật như làm vợi bớt sự gian khổ, nhưng phải chăng lại làm tăng thêm sự bồn chồn của mẹ khi sắp về đến quê hương?

Con sông Đà mùa này êm ả. Trên thuyền, tôi trò chuyện cùng mẹ để hiểu thêm về dòng sông chính của vùng Tây Bắc - dòng sông từng chứng kiến tuổi thơ của mẹ, rồi của con trai mẹ...

Ngược phía thượng nguồn khoảng trên trăm cây số là công trình thủy điện thế kỷ đang vận hành những tổ máy đầu tiên. Và dọc hai bên bờ là biết bao khu tái định cư phục vụ giải phóng lòng hồ cho cả thủy điện trước đây lẫn thủy điện hiện tại.

Người thân của mẹ đã đón đợi hàng tiếng đồng hồ trên bến để đưa mẹ và cả đoàn về bản, về ngôi nhà sàn của vợ chồng con nuôi của mẹ (theo một phong tục người Mường: khi con trai lên 8 tuổi, mẹ không sinh nở thêm được nữa thì có quyền xin con nuôi ngay tại bản). Các con cháu, họ hàng, dân bản tới chào và thăm hỏi mẹ.

Mẹ trở về giữa lòng quê hương, bề ngoài vẫn dáng vẻ bình lặng như mọi khi. Song, trong ánh mắt khi ngồi bên các cháu, khi ngồi bên bếp lửa nghe kể chuyện làng bản lại đong đầy niềm thương nhớ, tự hào, và cả sự lo lắng...

Ngôi nhà của cô con gái nuôi có hai nơi thờ, ở hai góc nhà: nơi thờ chồng mẹ và con trai mẹ, và góc kia là nơi thờ chồng của cô con gái nuôi mới qua đời vì bạo bệnh... Anh trai của con nuôi mẹ, một cựu chiến binh sống ở Sao Tua đã kể cho tôi nghe về người con trai liệt sĩ của mẹ, và về những gì liên quan đến gia thế của mẹ. Rồi ông hai lần đọc lời cúng trước cả hai ban thờ.

Trong lúc trò chuyện bên ấm nước lá rừng, tôi càng hiểu thêm về sự gắn bó hòa quyện của của cộng đồng làng bản ở một vùng đất nghèo nhưng chưa bao giờ thiếu thốn tình thương, sự quan tâm lẫn nhau giữa những con người dù là máu mủ ruột rà hay chẳng có họ hàng thân thích gì. Các con mẹ - con đẻ hay con nuôi đã sinh ra và lớn lên trong một môi trường trong lành như thế của tình người...

Ngồi chưa kịp nóng sàn, chưa kịp để nhiều người trong bản tới thăm hỏi, mẹ đã nôn nóng nhờ người dìu đi đến một vài nhà thân quen để thăm hỏi trước.

Đêm dần buông. Bóng tối quen thuộc lại đến với người bản có tên đẹp: Sao Tua - cái bản dường như bị bỏ quên trong các quy hoạch đường điện lưới của xã của huyện. Cũng may là mấy gia đình đã chung nhau sắm máy nổ để thỉnh thoảng phát điện - nhất là trong một ngày nhiều ý nghĩa: mẹ về thăm quê, cùng các khách quý đến từ Thành phố!

Rồi bữa cơm tối đạm bạc mời mẹ và đãi khách cũng đã diễn ra trong ánh đèn điện mà độ sáng cũng không hơn ánh trăng rằm là bao! Bữa cơm diễn ra rất lâu, cách quãng lại có người mới đến thăm mẹ rồi ngồi luôn vào mâm, vừa ăn uống vừa trò chuyện - chủ yếu là uống rượu, chúc nhau bằng rượu, bộc lộ sự trân trọng, lòng tri ân và cả nỗi niềm riêng qua chén rượu men lá của đồng bào Mường... Người nói, rượu nói chưa hết thì lại để dành chỗ cho tiếng pí thui- cây sáo đặc biệt của người Mường trong đêm khuya.

Mẹ đâu ngủ được trong đêm đầu tiên của đợt về nhà lần này! Tấm lưng còng trằn trọc... Tuổi thơ và thời con gái, rồi cả thời làm dâu của mẹ gắn bó với bản nghèo này, với mảnh đất thương khó này... Lúc chiều, mẹ loay hoay trong kho đồ cũ, để rồi sau đó chăm chú với đường sa quay, sống lại chặng đời lầm lụi của người phụ nữ Mường trong cái công việc đơn điệu và thân quen từ lúc còn là một cô bé thò lò mũi xanh tới khi có đủ chăn gối đệm để mang theo về nhà chồng...

Vùng đất cao nguyên khi rét thì lạnh thấu xương, còn khi nóng thì đổ lửa, gió Lào réo cuồn cuộn khắp thung lũng, đồi đất vốn cằn cứ cong mãi lên vì khô hạn... Đúng buổi chiều mẹ về, may sao một cơn mưa nhẹ chợt đến, nhưng chưa đủ thấm mái gianh và càng không thể làm háo cơn khát của ruộng vườn cây cỏ suốt mấy tháng ròng. Mọi người đều không giấu nổi mừng vui, xôn xao bàn bạc. Rồi câu chuyện về người liệt sĩ trẻ tuổi lại tiếp tục bên những hạt mưa xuân muộn mằn... Khi khách đã có đủ những thông tin cần thiết về con trai mẹ, thì câu chuyện lại chuyển sang cái làm, cái ăn, cái ở - theo cách nói của người Mường.

Nhưng cũng từ lúc đó, kỷ niệm về anh như tràn ngập ngôi nhà và xao động kín đáo trong ánh mắt mờ đục của mẹ...

Mỗi buổi chiều tà, mẹ và những phụ nữ bản Sao Tua thường ra bến sông để đón chồng, đón anh, đón con trở về cùng tôm cá, vật dụng sinh hoạt trên những con thuyền hay bè mảng tự tạo quen vượt thác dữ sông Đà... Mẹ chắc từng nhiều lần cười vui một mình khi ngắm tấm lưng trần vạm vỡ rám nắng của người con trai bước vào tuổi tráng niên, thầm mong một cô con dâu xinh xắn chăm chỉ...

Nhưng mong ước đó đã vụt bay vĩnh viễn khỏi đời mẹ, lúc anh bước vào tuổi hai mươi!

Tôi chưa có dịp may mắn được thấy mẹ ngồi trang trọng nơi dành riêng cho các bà Mẹ Việt Nam Anh hùng trong các ngày đại lễ của tỉnh, của huyện mà bao giờ mẹ cũng được mời. Nhưng có lẽ, trong những giây phút huy hoàng của đám đông đó, mẹ sẽ quay về nơi sâu thẳm nhất của lòng mình để thì thầm với người con trai vắn số, an ủi cho linh hồn anh, lời an ủi tựa tiếng sáo Mường đang thổn thức trong đêm vắng bản xa...

 

MAI ANH NGUYỄN ANH TUẤN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1121)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1186)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1879)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5908)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5886)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13225)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30143)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81252)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20269)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 339)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down