- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,726

Thơ Nguyễn Thanh Huyền

02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 5044)
Nguyễn Thanh Huyền  .
Nguyễn Thanh Huyền- Hà Nội 2020

 

 

LTS: Nguyễn Thanh Huyền lần đầu cọng tác cùng Hợp Lưu với những bài thơ rất ngọt ngào và dịu như tên. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu chùm thơ mang phong thái rất là Hà Nội của người thơ Nguyễn Thanh Huyền.

 Tạp Chí Hơp Lưu

 

 

ĐỢI CHỈ ANH THÔI

 

Vắng anh phố xá bỗng buồn tênh

những xác lá lả theo cánh gió

bóng em đơn lặng đường hiu quạnh

mảnh trăng suông khóc rụng ngẩn đáy hồ

 

***

Năm Cửa ô úa vào màu thời gian

trăng bừng giấc, trời mắc màn đi ngủ

mùa ân ái rộn ràng

dường chỉ một mùa tan tác nơi em

 

***

Vắng anh rồi, em buồn lắm biết không?!

đường dài hơn khi một mình lẻ bóng

ngẩn ngơ khóc, ngẩn ngơ cười hoang mang dông bão

tất cả mùa đều khép mùa Đông

 

***

Anh yêu hỡi, xin đừng xa vắng nữa?!

em ở đây, Hà Nội ở đây

nơi Chùa Hà linh thiêng, chuông khắc lời thề huyền bí

mùa hoa sữa rưng rưng, bằng lăng tím ngát trời

đợi anh thôi, em thức một mùa hoa.

 

Nguyễn Thanh Huyền

 

 

CÓ MỘT CHUYỆN TÌNH

 

Anh có nghe về người con gái yêu anh trong đớn đau
nàng thẫn thờ lạc phố tình nhân, lá yêu đương già cỗi rơi góc phố
những đêm trăn trở, những khát khao rực lửa một vòng tay đan chặt bị vùi dập

nàng lẻ bóng khóc dưới đèn mờ.

nụ cười nàng bình minh trinh nguyên
nơi nàng qua, hương thơm vương si tình ngây dại.

 

***

Nàng lấp lánh hơn em, xuất hiện giữa hai ta
nàng viên mãn xuân thì nhưng đáng thương, tình duyên can trường
yêu anh câm lặng
hướng về anh cuồng dại hơn lòng tin hướng chúa
và cao thượng giấu “cần” vào đáy tim để hạnh phúc nơi anh trọn vẹn bên vợ con.

 

***

Tình yêu của nàng lớn dần - bó bột, nứt chỉ vỡ nẹp
nàng cởi bỏ chiếc áo tự trọng, kiêu hãnh
hiện thân như những người đàn bà mua rau bán cá
cũng ích kỷ, chanh chua… muốn anh là của riêng, không một ai khác
và lưới tình của nàng thì thơm tho, mềm mại, lạ lẫm, êm ái, kiêu xa
liệu hạnh phúc của anh còn mùi quen xưa... ?!

một nửa tình yêu đã mùa dưa khú!

 

Nguyễn Thanh Huyền

 

 

MỘT NGÀY


Rồi một ngày gặp lại

bàn tay có nắm bàn tay

đôi mắt có còn rơi lệ

thổn thức cho những ngày không nhau...


***

Nói chi đây, đường dọc ngang tim ngoan bưng bít

tìm được nhau tu nghìn năm mới có duyên trùng phùng

thương con sóng vì mình mà tóc trắng

...nhưng không ngờ, yêu lại đau đến vậy?!


***

Mây vì trời một đời bay

Gió vì tình một đời phụ bạc

Người vì người không cùng chung lối

Ngã ba đường cũng vì thế mà ra


***

Ai cần nghe giải thích không thể và có thể thường đối nghịch?

Như lập luận ngang giá “nếu, thì”

Ngày em cất ngoan hiền vào hòm, khoá lại

Để đôi mắt nguyên si màu khói

Người chỉ việc châm lửa

Cho tình yêu bùng cháy

...thế đã đủ cho ngàn năm đợi chờ?!

  

Nguyễn Thanh Huyền

 

  

GIỌT YÊU

 

Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ

Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế

Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy

Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm

những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ

... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở

 

***
...bao chuyện tình giống tem thư thẹn gửi!

chuyện chúng mình có giống chuyện người?!

mùa thu lá khóc, xuân về tụt cuống trồi non

tình thiết tha, mặn nồng, có cùng đường cuối đất

trăng thì vơi gió hanh gầy, thời gian lại đẫy

hay một lần lỡ cả đời dang dở

có hứa cột đời nhau cũng vậy?!

"ai tắm hai lần trên dòng trôi"?!

 

***
Đêm nay, phố em vào mẩy

trăng chảy ngột những ngã ba ngã bẩy

đập thời gian nức vỡ

“ở hai đầu nỗi nhớ” (1)

khúc xạ một tâm điểm...

Phím anh khát  phím em

Những ngón tay lóng ngóng bện đan

...dòng kí ức cởi nút

...cô thành giọt yêu.

 

 

Nguyễn Thanh Huyền

 

(1)Ở hai đầu nỗi nhớ là một bài thơ của nhà báo Trần Đình Chính[1], được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc.

 

  

ĐÔI BỜ

 

Sao không đến từ muôn kiếp trước

Ko đợi nhau từ cầu ô thước

Để bàn tay nắm bàn tay

Cho những luân hồi


***

Kiếp này, tìm nhau hỏi đúng?!

Ở ngoài kia triệu lấp lánh

Facebook rỗng chỉ hai tường thắp lửa

... Ủ tình yêu chuyển màu


***

Rồi một ngày chuông thoại rót mật

Tim yêu nhảy khỏi lồng ngực

Cái nhắm mắt ngàn năm xa cách

Cho đại dương trùng phùng

... mai tận thế có nghĩa gì?!

...cứ nồng nàn đau, nồng nàn rạo rực


***

Ngày vội đến khi đêm chưa kịp thức

trả nhau về hai cực

anh tròn tiếng vợ chồng

em vẹn nghĩa phu thê

 

***

Ừ, sông trôi đã bao lần rửa tội?!

mà thành bờ bồi thêm lầm lỗi

...qua cánh cửa ảo

...đời nghiêng ngả rất thật

 

Nguyễn Thanh Huyền

  

 

CÓ CÒN NHỚ NHAU

 

Đã bao giờ anh nhớ tới em

người con gái như mưa mùa hạ

chợt đến và chợt đi

nồng nàn và gàn dở

những dấu yêu bỏng nóng trên môi

đã hóa thạch bụi mờ xác pháo

 

***

Đã bao giờ anh mong gặp lại em

đôi mắt ấy, màu nâu trong cơn mưa vụng dại

lẫn màu lá rêu úa rụng như trời đứt rốn hoàn thai

chỉ có con đường hun hút nhú trồi gai

đâm ảo ảnh

 

***

Em co mình vào xác đêm lắng nghe hơi thở ai nồng nàn quyến rũ

vây bủa em vòng xoáy đam mê

lê chân bước, ngập ngừng giữa tội lỗi và si mê

em đứng giữa bến bờ hanh hao tàn tạ và nắng mật vàng

ngã dúi dụi vào đâu cũng là mồ yêu thương.

 

***

Thôi anh nhé! Em sẽ không nhớ mong hão huyền

với những khát khao hụt theo tháng năm

chỉ còn dáng hình mờ dần trên lối cũ…

và mưa hạ, mưa ngâu cứ nhởn nhơ hống hách giăng kín nỗi đau

sâu thẳm tim yêu cũng oxi hóa

em và anh sẽ trở thành những đứa trẻ với bầu ngực ân ái

nhục dục và lấm lem

ta sẽ lại thổn thức mặc những hoen gỉ không một lần sáng lại

để quay về?

 

 

Nguyễn Thanh Huyền

Hà Nội 2020

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1109)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1180)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1860)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5898)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5873)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13211)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30112)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81239)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20260)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20212:08 SA(Xem: 134)
Dẫn nhập: Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Nguyễn Tường Bách và Tôi là tên hai tác phẩm hồi ký của bác sĩ Nguyễn Tường Bách và cô giáo Hứa Bảo Liên, người bạn trăm năm của Nguyễn Tường Bách. Đây là hai bộ hồi ký đặc sắc về cuộc tình lãng mạn của một chàng trai Việt và một cô gái người Hoa ở Hà Nội cùng nổi trôi theo vận nước cho tới khi họ gặp lại nhau trên đất Côn Minh Vân Nam và trở thành đôi vợ chồng sắt son thuỷ chung với bao nhiêu tận tuỵ và hy sinh – nhưng quan trọng hơn thế nữa, đây chính là một phần của lịch sử sinh động và đầy biến động trong ngót một thế kỷ qua trong những cơn bão táp của Cách Mạng Việt Nam và cả lục địa Trung Hoa.