- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,071

THẤP THOÁNG MÙA XUÂN

23 Tháng Giêng 202012:31 SA(Xem: 5212)

SUONG 2
Sương sớm mai - photo UL

VỀ NHÉ THÁNG GIÊNG

 

Về cùng tôi nhé tháng giêng

Một bờ cỏ dại triền miên hoa vàng

Tôi về dừng bước lang thang

Ngồi bên thềm cửa . Nắng tràn đầy sân.

 

Ngỡ như gió gọi mùa xuân

Gọi thời thơ ấu bâng khuâng trở về

Nghe chừng tiếng dế thầm thì

Vẳng từ ký ức rậm rì cỏ hoa.

 

Tuổi thơ đã bỏ tôi xa

Như dòng sông đã rời xa cội nguồn

Chỉ còn lại con nước suông

Soi năm tháng hắt hiu buồn rớt rơi.

 

Tôi về ngồi giữa chơi vơi

Bàng hoàng nghe nhịp đất trời chuyển xuân

Chắt chiu quên nhớ một lần

Nghiêng tay thả xuống lưng chừng tháng giêng.

 

Biển Cát

 

 

GĨU ÁO XUÂN PHAI

 

Người về giũ áo xuân phai

Chút hương mùa cũ còn lay lắt chiều

Nắng vương nửa bãi thềm rêu

Còn tôi đứng đợi đìu hiu từng ngày

Người về chiếc bóng ngã dài

Bâng khuâng ánh mắt trĩu đầy nỗi đau

Ngập ngừng chẳng gọi tên nhau

Bàn tay từng ngón xanh xao buốt lòng.

 

Biển Cát 

 

 

THẤP THOÁNG MÙA XUÂN

 

1.

 

Nghiêng ngày

Nắng đổ đầy vai

Chồi vươn lộc biếc

Gió vờn lắt lay

Vườn xưa

Ngan ngát hoàng mai

Nhìn quanh chỉ thấy

Vàng dài hiên mây

 

Hình như

Lâu lắm

Nơi đây...

Có người đã hẹn

Rồi quên quay về.

 

 

 

2.

 

Chỉ là

Chút nắng lưng trời

Nghĩ làm chi

Nhớ làm chi

Cho buồn

Dòng sông

Con nước chảy suông

Về thôi kẻo muộn

Gió luồn

Buốt vai.

 

Mùa xuân

Ai chẳng chờ ai

Tội con mắt nhớ

Cứ hoài

Long lanh.

 

 

 

3.

 

Năm xưa

Mẹ đợi con về

Trầm hương quạnh quẽ

Giao thừa không con

Ra vào

Bóng mẹ héo hon

Con còn mê mải

Đầu non

Cuối ghềnh.

 

Ngày dài

Tháng rộng

Mông mênh

Mẹ như sương khói

Lênh đênh

Bên trời.

 

Bão giông

Góp lại bời bời

Bên thềm lặng lẽ

Con ngồi

Rưng rưng.

 

Tiếng gọi

Mẹ !

Rớt lưng chừng

Con chim tu hú

Ngập ngừng

Bay lên.

 

 

Biển Cát

 

 

 

THÁNG GIÊNG CỔ TÍCH

 

Tháng giêng đọng trên môi em giọt nắng

Để vườn mai thơm ngát mãi chiều xưa

Con chim nhỏ nghiêng đầu cong giọng hót

Ríu rít chiều theo màu nắng đong đưa.

 

Tháng giêng trải một màu nhung mươn mướt

Đón bước chân em qua thảm cỏ xanh

Mây vương vấn vờn quanh tà áo mỏng

Bờ vai gầy như cánh vạc mong manh.

 

Tháng giêng thổi thì thầm vào ngọn gió

Rì rào hàng cây cho lá hát lao xao

Em tóc xõa giữa mênh mang là gió

Quyện ngang trời những sợi tóc chênh chao.

 

Và tháng giêng đưa người xa biền biệt

Giữa vườn mai giọt nắng rớt cơn đau

Chim dấu mỏ ngậm lời sầu buôn buốt

Chiều quạnh hiu theo màu nắng phai mau.

 

Còn lại tôi với tháng ngày lặng lẽ

Về lại đây nghe gió khóc mùa xưa

Nhìn mây trời ngỡ tóc em ngày cũ

Nỗi nhớ vươn dài từng nhịp nhặt thưa.

 

Từ em đi tháng giêng là dĩ vãng

Những sắc màu nhoà nhạt giữa nhớ quên

Mùi cỏ dại và hoa vàng bảng lãng

Thoảng xa gần trong ký ức mù sương.

 

Cảm ơn em và tháng giêng cổ tích

Đã một lần ghé lại bến đời tôi

Cho tôi biết tình yêu là có thật

Dẫu nỗi đau sắc ngọt đến vô cùng.

 

 

BIỂN CÁT

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1120)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1185)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1878)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5907)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5885)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13223)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30143)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81252)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20269)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 337)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down