- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,290

VIẾT CHO BA. MÙA THANH MINH THỨ 3.

08 Tháng Tư 20191:46 SA(Xem: 8129)

MuaThanhMinh- photoUL
Mùa Thanh Minh - ảnh UL


Tôi không có tham vọng sẽ viết được hết về ba tôi, tôi chắc chắn không có đứa con nào có thể viết hết được về tình yêu của cha mẹ dành cho mình.
Cái cách người đàn ông đó, lặng lẽ đi qua cuộc sống, vật lộn với nó, vắt kiệt mình cho công việc và để nuôi lớn một đàn con cháu, thật lạ lùng và kỳ diệu.
Cái quá khứ âu yếm mà lặng lẽ của ba tôi, cuối cùng chỉ còn là những mảng ký ức.
Những mảng ký ức, thao thức, tươi rói, nhoi nhói, đập mãi, như quả tim thứ hai. Trong lòng của mỗi đứa con.
"Ở trong tôi, quá khứ đập như trái tim thứ hai"

Ký ức nằm sâu trong phần não phía sau gáy, mỗi ngày lại thêm cuồn cuộn chảy về.
28 ngày sau khi ba tôi ra đi, Mẹ tôi mơ thấy ba tôi. Một buổi trưa, chỉ là giấc mơ ngắn vào buổi trưa thôi, mà mẹ tôi mừng vui hết mấy tuần và đi đâu, gặp ai, cũng khoe đã mơ thấy ba tôi vào buổi trưa. "Mơ thấy ba vào buổi trưa là ba đã siêu thoát lên niết bàn rồi", mẹ tôi giải thích như thế, bằng niềm tin tưởng chắc nịch và thanh thản.
Tôi cũng tin như thế, dù ba không hiện về trong giấc mơ nào của tôi, mặc cho tôi mong mỏi đến thế nào.
Có đêm, tôi chỉ mơ hồ nghe tiếng ba tôi gọi, đúng là giọng của ba, nhẹ nhàng, nhưng có chút nghiêm trang :
-“Mai!",
Thế rồi thôi.
Thế rồi tôi tỉnh dậy. Và tôi tin mình không mơ. Có thể ba tôi gọi tôi dậy đi làm cho đúng giờ, hay là như ngày xưa, thức sớm để học bài thi, có khi là đục thêm chồng bì thơ.
Ba tôi lúc sinh thời luôn là người ít nói, càng về sau này lại càng im lặng. Chỉ lúc nằm trong khu D, khu dịch vụ, lúc ba tôi còn chưa phải cắm ống thở vào trong khí quản, ba tôi lại nói rất nhiều. Nói nhiều, đùa giỡn nhiều, gấp hơn nhiều lần những năm sau này. Những năm ba tôi im lặng, mà bác sĩ giải thích, trầm cảm cũng là một triệu chứng của bệnh thận.

 

Nhưng giờ đây, trong dòng chảy ầm ì của ký ức, tôi từ từ nhớ lại, chưa bao giờ ba tôi là người đàn ông xởi lởi, bặt thiệp. Hình ảnh của ba tôi lúc nào cũng lặng lẽ như thế. Hình ảnh đó khắc sâu vào tôi cho đến nỗi, tôi luôn tin rằng, những người thật sự đàn ông là những người lặng lẽ, nói ít và làm nhiều.

 

Đó là hình ảnh của đêm khuya, bao giờ cũng là nửa đêm, rất khuya, khi tôi giật mình thức dậy. Ba tôi ngồi nghiêng người bên chiếc tủ đồng hồ, chiếc kính lúp gọng tròn đeo dính sát vào một bên mắt. Ba tôi vẽ mặt số đồng hồ, cái nghề lạ lùng. Sau này tôi ít thấy ai theo ngoài ba tôi. Ba tôi vẽ những con số li ti ấy tinh xảo như được in từ máy móc công phu. Có nhiều những chiếc đồng hồ Seiko 5 dân Saigon đeo ngày xưa kia đã được ba tôi vẽ tay, tôi dám chắc. Những người quen làm việc giữa đêm khuya thường phải trầm lặng, giờ thì tôi hiểu, do đã đồng điệu với cái im lặng của màn đêm.

 

Sau này khi nhà trồng nấm, ba tôi vẫn thức khuya như vậy. Ba tôi canh nấm nở để hái. Ngoài việc nấm rơm thường nở xòe hết mũ nấm về sáng và mất hết dưỡng chất và tinh chất nấm ngọt ngào, thì nầm búp được dân lái mua chuộng hơn. Tôi còn nghĩ, ba tôi thức nhìn lũ nấm con lách tách nở trong đêm vì đam mê. Tôi dám chắc trong im lặng của đêm gần về sáng, ba tôi nhìn lũ nấm lau chau cất đầu lên khỏi mặt rơm tỏa mùi meo mốc, cũng âu yếm như cái cách ba tôi ngắm đàn con sáu đứa lăn lóc ngủ thỏa thuê trên 3 chiếc giường tầng.

 

Thời kỳ nhà tôi trở thành xưởng in thủ công và làm bì thư, thiệp cưới. Ba tôi lại càng phải thức khuya hơn mọi người. Ba tôi âm thầm xã giấy cuộn bằng máy cắt lớn thành những chồng giấy khổ vừa và nhỏ cho mẹ tôi đục góc sáng mai và lũ nhỏ chúng tôi dán lại thành phong bì thư sau khi đã tan lớp học về. Thời gian ấy, nhà tôi rất đông người, ba tôi mang con cháu ở quê về nuôi phụ làm nghề và cho đi học. Tôi không thể nhớ hết những người cháu họ và anh em họ từ quê vào đã được ba tôi nuôi trong thời gian đó. Chỉ trong đám tang của ba tôi, khi tất cả cùng về viếng ba tôi và ngồi nhắc lại thời kỳ gian khó đó, với đầy lòng trân trọng, biết ơn, tôi mới hiểu ba tôi đã lặng llẽ cưu mang và bảo bọc rất nhiều người, mà phần đông hiện giờ đều nên người, trưởng thành, khá giả. 

 

Cái cách người đàn ông đó, lặng lẽ đi qua cuộc sống, vật lộn với nó, vắt kiệt mình cho công việc và để nuôi lớn một đàn con cháu, thật lạ lùng và kỳ diệu.
Kỳ diệu hơn nữa, mỗi lần tụ tập cúng thất sau này, khi anh em tôi tranh nhau kể từng mẫu nhỏ ký ức về ba, dù không nhiều, tôi chợt hiểu ra, dù âm thầm, ít nói, ít biểu hiện tình cảm ra bên ngoài, nhưng ba tôi đã yêu mỗi đứa con theo một cách riêng, đặc biệt, khó mà quên.

 

Em gái út của tôi khoe riêng mình được ba chở đi ăn mì xào giòn, ngày xưa mì xào giòn là món sang trọng lắm, cả nhà chẳng mấy khi mơ đến món đó. Lúc đó ba chở em đi nhận giải thưởng vẻ tranh nhi đồng quốc tế, (do Liên xô tổ chức, tôi nhớ thế), ba tôi đã đãi em tôi một bữa mì xào giòn nhớ đời. Em tôi nói, sau này chẳng bao giờ em được ăn món gì ngon như vậy nữa.

 

Tôi cũng có riêng một kỉ niệm với ba tôi, vào ngày ba chở tôi bằng xe đạp từ ngã tư Bảy Hiền lên tận trường Trưng Vương bên hông Sở thú để tập trung học chuyên Văn cấp Thành phố. Đường thì rất xa, vào buổi sáng, ba tôi ghé cho tôi ăn phở Hòa đường Pasteur. Thời đó phở Hòa ngon nổi tiếng, một tô to đến người lớn ăn phải thừa, nhưng tôi  nhớ đã vục mặt vào tô phở loại to nhất đó, húp cho đến giọt nước lèo cuối cùng. Khi ngẩng lên vẫn thấy ba tôi ngồi nhìn tôi đăm đăm. Sau này tôi mãi không nhớ rõ, ba tôi có ăn phở hay không, hay chỉ ngồi nhìn tôi ăn. Mỗi lần ký ức mắc kẹt lại ở điểm không rõ đó, đều làm tôi phải trào nước mắt.

 

Tôi còn nhớ những chiều sáu anh chị em ngồi ngong ngóng chờ ba tôi đi làm về, thường khi có chút tiền hàng thu được, ba tôi sẽ mua lúc ổ bánh mì Lan Huệ ở chợ Hòa Hưng. Lúc đó bánh mì Lan Huệ ngon nức tiếng, một ổ bánh mì chia ra làm sáu khúc, khúc nào cũng ngậy mùi ba tê gan heo và bơ đánh sốt trứng thơm lừng. Chúng tôi dành nhau ăn đến mẫu vụn bánh cuối cùng, ít đứa nào để tâm xem ba mẹ có ăn chung không. Nếu nhiều tiền hơn, ba tôi sẽ mua bánh mì nhét thịt chim cút quay giòn kèm rau răm ở bên hông nhà hàng Thanh Thế, chợ Tạ thu Thâu. Tôi còn nhớ mãi mùi thơm ngậy và giòn tan của chim cút, tôi tin là chẳng bao giờ có thứ gì ngon hơn khúc bánh mì có dính chút thịt lưng hay đùi chim cút nhỏ tí nhét không hết kẻ răng đó.

 

Trong trái tim của ký ức, còn sót lại đôi mắt thương xót của ba tôi với lũ con nhà nghèo lúc nào cũng hau háu chuyện ăn và đói ăn.
Lâu lâu tôi vẫn giật mình nửa đêm tưởng mình còn phải tiếp tục một cuộc thi nào đó, suốt thời học sinh của tôi gắn liền với vô số cuộc thi lớn nhỏ. Lần nào cũng là ba tôi chở tôi đi bằng xe đạp, sau này có khi bằng xe Honda đam, kiểu xe Honda của Nhật dành cho phụ nữ. Có khi phải thi suốt hai buổi sáng kéo dài tới chiều. Buổi trưa hai cha con ngồi ké hàng hiên nhà người ta. Ba tôi trải tờ báo ra cho tôi nằm nghỉ, và ngồi thẳng lưng cả buổi trưa canh cho tôi chợp được trọn một giấc trưa. Nhiều năm sau này, cái dáng ngồi lặng lẽ, lưng thẳng tắp và gầy gầy đó, vẫn làm tôi nhói trong tim.

Em trai tôi cười cười, kể lại lần cuối trong khu D, bà con họ hàng biết ba tôi bị bệnh nặng, vào thăm rất đông, giữa lúc mọi người đang nói cười vui vẻ, đột nhiên ba nói to:
- "Chấm dứt" , em tôi cúi đầu hỏi ba tôi :
- "Chấm dứt cái gì ba?
"- Chấm dứt tất cả!" - ba tôi cười mỉm nói.
Em tôi vừa kể vừa rưng rưng nước mắt, "Lúc đó mà ba còn biết đùa, mà đùa rất ý nhị, dí dỏm" vì cả đời ba tôi ít khi nào nói đùa. Chỉ cho đến mấy ngày cuối đó.

Cuộc đời ba tôi , trải dài suốt 80 năm, im lặng cho đi rất nhiều, nhận lại không được bao nhiêu mà chưa bao giờ đòi hỏi được nhận lại. Tôi không có tham vọng sẽ viết được hết về ba, tôi chắc chắn không có đứa con nào có thể viết hết được về tình yêu của cha mẹ dành cho mình.
Cái quá khứ âu yếm mà lặng lẽ của ba tôi, cuối cùng chỉ còn là những mảng ký ức.
Những mảng ký ức, thao thức, tươi rói, nhoi nhói, đập mãi, như quả tim thứ hai. Trong lòng của mỗi đứa con.

 

UYÊN LÊ
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1095)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1165)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1846)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5881)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5858)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13189)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30091)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 558)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối