- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Người Đi Xin Nước Mắt

26 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 122138)

vn3ud8_0_300x188_1LTS: Hoàng Ngọc Thư sinh ngày 20/3/1973 tại Nha Trang, Việt Nam. Hiện sống cùng gia đình tại Adelaide, Úc. Với lối hành văn từ tốn, câu chữ dùng chính xác và sâu sắc, một điều rất qúi hiếm nơi những người viết trẻ sống ở hài ngoại, qua hai truyện ngắn "Chiếc Áo "(HL89), "Chuyến tàu đêm"(HL90), Hoàng Ngọc Thư đã nhanh chóng thu phục cảm tình bạn đọc. Trong Hợp Lưu 91, chúng tôi trân trọng giới thiệu đến qúi độc giả truyện ngắn "Người đi xin nước mắt", một sáng tác mới nhất của Hoàng Ngọc Thư.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Tôi là kẻ lọc lừa. Từ bé, tôi đã lừa những đứa trẻ khác để lấy đồ chơi của chúng. Đến tuổi đi học, tôi lừa thầy, phản bạn. Tôi gạt gẫm cả cha mẹ, anh em. Đi đâu tôi cũng được ưu đãi vì cái bề ngoài hào nhoáng của mình. Những cô gái say mê, quỵ luỵ tôi, nhưng rồi tôi lừa họ tất. Đôi khi tôi làm vì chủ tâm, đôi khi là vô tình, có lẽ cái máu lọc lừa trong tôi đã ăn sâu vào xương tủy. Có lúc tôi lừa vì thói quen mà cũng chẳng biết để làm gì nữa.

Năm tôi bước sang tuổi bốn mươi, đột nhiên tôi bị một chứng bệnh kỳ lạ. Một sáng thức giấc, tôi thấy tay chân, thân thể mình sần sùi, đỏ tấy và ngứa dữ dội. Tôi hoảng hốt đi tắm, kỳ cọ sạch sẽ, tôi ngỡ tôi đã sờ vào thứ lá độc nào. Nhưng càng ngày cơn ngứa càng gia tăng. Tôi cố vắt óc để nhớ ra hôm trước mình đã ăn những gì. Nhưng sau khi đã điểm lại quá trình hoạt động và ăn uống cả ngày qua, tôi chẳng nhận ra đã dùng món gì lạ cả! Tôi sống độc thân, tiện đâu ăn nấy, nhưng đã dùng toàn là những thức ăn bình thường ở những nơi quen thuộc. Cuối cùng, tôi đành đi bác sĩ xem phải chăng tôi đã bị dị ứng thứ gì không.

Bác sĩ gửi tôi đi thử máu, xét nghiệm da, rồi rọi gan, soi dạ dày… để tìm nguyên nhân. Người ta kê cho tôi nào thuốc viên, thuốc bột, thuốc nước, và đủ loại kem thoa, thuốc dán… để trị, nhưng chứng bệnh không những không thuyên giảm mà ngày càng trầm trọng. Những vệt đỏ ngày càng lan rộng, mưng mủ, lở loét và bốc mùi thật kinh tởm. Tôi đi khắp nơi tìm thầy thuốc giỏi để chữa trị nhưng mọi người đều bó tay. Không bác sĩ nào tìm ra được tôi bị mắc phải bệnh gì, và mặc dù không ai nói ra, nhưng ánh mắt của họ cho tôi biết tôi không còn hy vọng gì để thoát khỏi cái chứng bệnh khủng khiếp này. Tôi đau đớn vật vã, cùng kiệt cả thể xác lẫn tâm hồn. Nhiều hôm, những vết lở loét hành hạ tôi cùng cực, thân thể tôi như bị chà xát và tưới đẫm bằng một thứ axít ăn mòn da thịt đau đớn, bỏng rẫy. Có lúc tôi phải đứng hàng giờ dưới vòi nước lạnh buốt giữa đêm khuya để cơn đau dịu xuống chút ít. Tôi run bần bật vì lạnh, cái lạnh như thấm sâu vào xương tủy và tôi như phát sốt vì cái lạnh bên trong và cái bỏng bên ngoài.

Tôi đuối sức và tuyệt vọng. Tôi bị ám ảnh và giày vò bởi ý nghĩ lẽ nào tôi đành chôn vùi đời mình với căn bệnh kinh tởm này và chết một cách đau đớn trong khi nhìn thấy da thịt mình thối rữa ra từng ngày? Tôi thôi làm việc, sống chui rúc trong nhà, vật vã với nỗi đau và cô đơn. Không ai dám đến thăm tôi, tôi cũng không đi ra ngoài vì ngại làm phiền những người xung quanh với mùi hôi thối của mình. Thảng hoặc, em gái tôi đến thăm và mang thức ăn đến cho tôi trữ ăn dần. Tôi cố tìm cách giải khuây, nhưng thân thể tôi hết ngứa ngáy lại đau đớn cứ nhắc tôi nhớ đến căn bệnh nan y của mình. Sau một thời gian cố sức phủ nhận, tôi đành phải chấp nhận rằng mình đang chết dần mòn và sẽ phải chịu cực hình này cho đến cuối đời.

*

Cho đến một hôm, tôi mệt lả thiếp đi trong tư thế nửa nằm nửa ngồi trên giường vì các vết lở loét trên lưng đau buốt khiến tôi không thể đặt lưng xuống được. Tôi chợt mơ thấy mẹ tôi như ngày mẹ còn sống. Mẹ tôi dịu dàng ôm tôi vào lòng, rồi mẹ khóc và nói với tôi:

"Con ơi, mẹ đã hết sức khẩn cầu, nài xin cho con khỏi bệnh nhưng không được. Họ bảo chứng bệnh của con xuất phát từ trong tâm, không có cách nào chữa khỏi. Mẹ vật nài mãi, cuối cùng họ đồng ý mách cho cách này: chỉ có nước mắt mới giúp con lành lặn trở lại. Nhưng họ cũng dặn con phải cẩn thận, chỉ có những giọt nước mắt chân tình mới giúp cho con khỏi bệnh mà thôi!"

Nói xong, mẹ tôi quay đi lau nước mắt.

Tôi thức giấc, nằm nghĩ ngợi lan man trong bóng tối. Mẹ tôi mất cách đây đã hơn hai mươi năm, thời tôi mới tốt nghiệp trung học. Tôi rất ít khi mơ về mẹ, chỉ thỉnh thoảng khi nào tôi có điều gì lo lắng hay khổ sở, tôi lại thấy được mẹ vỗ về như thời còn bé. Tôi vốn không tin vào những giấc mơ, đặc biệt là từ khi tôi trưởng thành. Những thành đạt trên đường đời đã khiến cho tôi tự tin vào khả năng của mình và luôn gạt đi những điều không hay tôi thấy trong giấc ngủ.

Nhưng nay tôi lại mơ về mẹ và đưọc mẹ dặn cách chữa trị cho mình. Tôi thấy thật vô lý khi bao nhiêu thuốc men, hóa chất đặc chế không thể chữa được những vết lở loét trên thân thể tôi thì làm thế nào nước mắt có thể chữa được? Có cái gì trong nước mắt người ta có thể giúp được tôi lành bệnh? Chỉ có muối và nước, tôi có thể pha hàng thùng những thứ ấy rồi ngâm mình vào. Tôi đã từng nghĩ đến cách ấy, nhưng tôi biết đó không phải là cách chữa trị cho mình. Nhưng mẹ đã dặn chỉ có những giọt nước mắt chân tình mới giúp tôi chữa được lành bệnh. Vậy hóa ra nước mắt con người cũng thay đổi thành phần tùy theo hoàn cảnh hoặc phẩm chất của mỗi con người ư?

Suy nghĩ vẩn vơ mãi, cuối cùng tôi quyết định: đàng nào thì mình cũng đã trong tình trạng hết cách chữa, có thử cách khác cũng chẳng mất gì. Vả lại, có điều gì đó tôi không thể phân tích được, nhưng giấc mơ kỳ lạ này đã mang lại cho tôi chút hy vọng. Thế nhưng khi tôi đã sẵn sàng đón nhận cách chữa mới này, tôi lại phải đương đầu với một khó khăn khác: xin nước mắt ở đâu bây giờ? Chưa nói đến việc làm thế nào để phân biệt được thế nào là những giọt nước mắt chân tình, chỉ một điều đầu tiên là đi tìm ai đó đang khóc để xin nước mắt của họ đã là một việc gay go. Tôi cho rằng đây là một cực hình còn hơn cả những nỗi đau thể xác. Tôi thà chui xuống vùi mình vào cống rãnh, sình lầy còn dễ hơn. Nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác, tôi phải đi lang thang khắp nơi tìm ai đó khóc để xin nước mắt.

Tôi loay hoay với nỗi khổ tâm và hổ thẹn khi nghĩ đến cảnh mình phải lê la đi xin nước mắt của những người xa lạ. Bản tính tôi vốn cao ngạo, tôi chưa từng quỵ luỵ ai bao giờ. Thêm vào đó, những thành công, thông suốt trên đường đời càng làm cho cái tính ấy ăn sâu vào huyết mạch. Nay tôi phải hạ mình đi cầu xin người khác, có khác nào một cực hình cho cái trí óc vốn quen ăn trên ngồi trước thiên hạ của tôi?

Thế nhưng cái đau thể xác không để cho tôi yên. Tôi thà chết đi còn hơn nhìn thấy thân thể mình ngày càng lở loét kinh khủng cho đến một lúc tôi không chịu nổi nữa. Tôi biết tôi phải đi xin nước mắt, may ra tôi còn có thể tiếp tục được kiếp người trước khi tôi quá cùng quẫn để nghĩ đến chuyện quyên sinh.

*

Một buổi sáng, tôi thức dậy sớm, ăn vận chỉnh tề, gói ghém thức ăn uống mang theo rồi lên đường đi xin nước mắt. Tôi lên đường với cảm giác như người đi tìm kim đáy biển, chẳng biết mình sẽ đi đâu và điều gì đang chờ tôi ở trước mặt. Giả dụ có ai bảo tôi đi bộ một trăm cây số đến nơi nào đó, tôi tin chắc tôi sẽ làm được dễ dàng hơn là làm việc này. Tôi đã cố gắng thật nhiều, nhưng tôi không thể nghĩ ra được nơi nào có thể có người khóc. Tôi đi hú hoạ hết phố này sang phố khác, lang thang với tâm trạng một kẻ đi tìm một thứ gì đó đã đánh mất, khốn nỗi là cả vật, lẫn nơi đánh mất đều không thể nhớ ra.

Đến trưa, tôi mệt nhoài, mồ hôi vã ra quyện với máu mủ trên thân thể khiến tôi ngứa ngáy, khổ sở vô cùng. Tôi thầm nghĩ thế là đã đủ cho hôm nay, tôi phải về nhà nghỉ và thay quần áo trước khi những người xung quanh bịt mũi tháo chạy. Trong khi tôi đang cố gắng luồn lách giữa giòng người chen chúc trên đường phố và cố làm thế nào để không va chạm vào người khác ngại làm phiền đến họ, tôi nhận ra tôi đang tiến đến gần trạm xe buýt về hướng nhà mình. Tôi mừng rỡ dừng chân dưới mái hiên một hiệu áo quần và cố nép người tránh cái nắng trưa gay gắt mà không làm choáng lối đi của người khác.

Trong lúc chờ đợi, tôi đưa mắt nhìn quanh và nhận thấy cách đó không xa, có một phụ nữ dắt tay một đứa bé gái, cả hai đều ăn vận rách rưới đang tiến đến gần. Đột nhiên đứa con gái dừng lại trước một hiệu bánh, rồi chìa tay qua cửa sổ, nó cất giọng thiểu não xin một chiếc bánh ngọt.

Tất cả chỉ xảy ra trong phút chốc, tôi như đứng chết lặng với cảnh tượng đang xảy ra trước mắt mình. Gã chủ tiệm quát đuổi đứa bé rồi tiện tay kéo sập cửa sổ. Đứa bé hoảng hốt chưa kịp rụt tay lại đã bị nẹp sắt nghiến vào bàn tay thét lên vì đau đớn. Người phụ nữ lao đến ôm chầm lấy con.

"Con ơi! Tội nghiệp con tôi!"

Người mẹ nức nở khóc. Đứa bé môi trắng bệch vì đau, người run lên bần bật. Người mẹ nắm chặt bàn tay con, tay kia vuốt ve xoa nắn và nức nở không ngừng.

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy muốn khóc vì thương cảm. Từ trước đến nay tôi vốn chẳng bao giờ quan tâm đến nỗi đau của những người khác. Ngay cả với người thân trong gia đình gặp phải lúc buồn lo, tôi cũng lơ là, huống hồ đối với người dưng, chứ đừng nói đến ăn mày đang lâm vào cảnh khốn khó. Thế nhưng lúc ấy tôi thấy lòng mình mềm ra, tôi muốn nói lời gì đó để an ủi họ nhưng ngại ngùng sợ làm phiền đến hai mẹ con.

Nghĩ đến nỗi đau của họ, tôi chợt nhớ đến nỗi khổ của tôi. Tôi bước lại, quỳ xuống cạnh người mẹ rồi rụt rè cất lời cầu xin:

"Cho tôi xin nước mắt!"

Người mẹ ngước mắt nhìn tôi, rồi bà cúi đầu. Tôi đọc thấy trong ánh mắt bà vẻ ưng thuận và hiền từ. Tôi rụt rè chìa chiếc thìa nhỏ tôi mang theo hứng lấy những giọt nước mắt quý giá. Nước mắt bà vẫn tuôn rơi trên đôi tay đứa con gái. Tôi đưa cả hai tay hứng lấy. Rồi chìa cả chiếc lọ nhỏ mang theo, tôi hứng lấy hứng để những giọt nước mắt nóng hổi của ngưòi mẹ.

Đứa con gái gục đầu vào ngực mẹ. Bà cúi xuống hôn lên tóc con và đưa tay quệt mắt. Thấy bà đã nguôi cơn khóc, tôi lắp bắp lời cảm ơn rồi đứng dậy. Tôi thấy bà đưa mắt nhìn theo tôi, ánh mắt như chia sẻ cùng tôi bao nỗi nhọc nhằn mà tôi phải chịu.

*

Mải nghĩ đến nỗi đau của hai mẹ con, tôi không để ý đến đôi tay tôi đã bớt đau rát từ lúc nào. Đến khi tôi đói quá và lục túi xách tay tìm thức ăn, tôi mới nhớ ra mình phải gượng nhẹ, kẻo đôi tay tôi bị chà xát vào lần vải lót trong túi sẽ thêm lở lói. Lúc ấy tôi mới nhận ra rằng mình đã quờ kiếm thức ăn cả đỗi mà đôi tay không hề đau đớn. Tôi vội vã rút tay ra nhìn thử: những vết lở loét đã khép miệng và lớp da mới hồng hồng mỏng tang đang bao phủ quanh những vết thương mới sáng nay còn nứt toác. Tôi đưa cả hai tay lên gần mặt, tôi không thể tin vào mắt mình: lẽ nào điều mẹ tôi mách là sự thật? Tôi thấy tim mình run lên, rồi toàn thân run lên như phát sốt vì vui mừng và xúc động. Người ăn mày ấy, người mẹ ấy đã ban cho tôi phép lạ đầu tiên tôi thấy được của con người.

Tôi đi như chạy về nhà. Tôi quỳ gối trước ảnh mẹ và kể cho bà nghe về điều kỳ diệu tôi vừa trải qua. Tôi hạnh phúc như vừa được sống lại, tôi mừng quýnh quáng quên cả ăn uống ngày hôm ấy.

Đêm hôm ấy, tôi lại mơ thấy mẹ. Mẹ vẫy tay cười với tôi từ đàng xa. Mẹ đang đi cùng một đoàn người, ai cũng ăn vận đẹp đẽ như đi ăn cỗ. Tôi sung sướng nhìn theo bóng mẹ xa dần. Tôi biết mẹ vẫn ở bên tôi cho dù Người đã khuất núi.

Hôm sau, tôi hăm hở đi xin nước mắt.

*

Cuộc hành trình đi xin nước mắt tự nó là một kiếp người mới cho tôi, khi tôi cảm thấy lần nữa mình trở lại nhỏ bé, dại khờ, và hoàn toàn phụ thuộc vào tình thương của những người xung quanh. Buổi sáng, khi tôi đứng trước gương trong lúc chuẩn bị lên đường, tôi không còn thấy tôi của ngày trước, mà chỉ là một kẻ khốn khó, hèn mọn, khao khát mong chờ được ban ơn từ những con người tử tế. Với lòng tràn ngập niềm hân hoan bởi những giọt nước mắt cứu rỗi của người phụ nữ nghèo khó ngày hôm trước, tôi hăng hái lên đường, lòng tràn trề hy vọng sẽ tìm lại được hạnh phúc của người lành lặn trong một ngày không xa.

Thế nhưng niềm phấn khởi ban đầu tàn lụi dần, khi tôi phải lang thang hết ngày này sang ngày khác qua những khu phố đông đúc, nơi hàng nghìn con người đi lại ngược xuôi mà chẳng tìm ra một người khóc. Trong cái hối hả của nhịp sống và sự vội vã ngay cả trong ánh mắt, tôi đã không thấy một ai rơi lệ trong suốt những chặng đường dài: trên vỉa hè, trên tàu điện, xe buýt... . Với nỗi đớn đau và niềm hy vọng được cứu chữa ngày một lụi tàn, tôi khao khát tìm đọc trên những nét mặt, những ánh mắt và những mái đầu cúi thấp dấu vết của nỗi khổ đau. Những điều tôi thấy được đã khiến cho tôi tin rằng, không phải tất cả những người tôi đã gặp và đi bên cạnh đều đang sống trong hạnh phúc. Tuy nhiên, dường như mọi người trong thế giới quanh tôi không còn ai có thời gian hoặc có thể khóc nữa. Tôi vật vã với cái đau của thể xác ngày càng tăng thêm, kết hợp với sự cùng quẫn của tinh thần, cho đến mức tôi đã chớm có ý nghĩ phải chấm dứt tất cả bằng cách tự kết liễu đời mình.

*

Với ý nghĩ ấy, tôi bắt đầu chấp nhận cái kết cuộc đã thật gần của đời mình và cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Tuy nhiên, trước khi tôi tiến hành những thủ tục cuối cùng, tôi chợt nhận ra rằng mình cần tìm đến một nơi thanh tịnh để an dưỡng tinh thần và chuẩn bị cho những ngày cuối đời thật bình an, thanh thản. Sau nhiều ngày tĩnh dưỡng ở nhà, một hôm, tôi lại khăn gói lên đường tìm đến ngôi chùa ở một nơi hẻo lánh, chốn tôi ao ước được nương náu những giờ an tịnh quý báu và gột rửa những điều còn ray rứt trong lòng trước khi quay về nhà lần cuối cùng.

Tôi đến trước cổng chùa vào giữa trưa đứng bóng, sau suốt một buổi sáng vất vả lặn lội nhiều chặng đổi xe và đi bộ. Tôi lần tìm vào phía sân sau đền thờ, nơi có tiếng người nói lao xao với hy vọng sẽ tìm được một chỗ nghỉ chân dưới khóm cây rủ bóng. Vừa lúc tôi tiến đến cạnh thềm, tôi trông thấy mấy vị sư trẻ đang đi vào đền thờ và một vị sư ngoái lại dặn dò bà vãi già đang ngồi ăn trưa dưới mái hiên. Bà vãi đang ăn nhưng vội trả lời nên hóc thức ăn ho sặc sụa. Bà vội vã đặt bát cơm xuống mâm, rồi bà ôm ngực, nước mắt trào ra trong lúc bà đang chới với cố nén cơn ho.

Cho đến trước phút ấy, tôi ngỡ rằng mình đã thôi không còn nuôi hy vọng tìm được người khóc để xin nước mắt. Thế nhưng khi vừa trông thấy bà vãi nước mắt ràn rụa, tôi đã mừng rỡ lao đến bên bà. Rồi chìa chiếc thìa nhỏ tôi vẫn mang theo bên mình hàng ngày, tôi ngại ngùng cất giọng xin bà:

"Cho tôi xin nước mắt!"

Trong lúc bà vãi còn đang bối rối nhìn tôi, tôi nghe có tiếng bước chân rồi tiếng cửa mở ra từ căn phòng nhỏ bên cạnh đền thờ. Tôi luống cuống dừng lại khi trông thấy nhà sư xuất hiện ở ngưỡng cửa. Khuôn mặt ông hằn vẻ khắc khổ với đôi mắt sắc lạnh dưới hàng lông mày rậm. Ông nhìn tôi nghiêm khắc, rồi cất giọng khô lạnh, ông bảo tôi:

"Ở đây không có nước mắt!"

Tôi ngượng ngùng và tủi hổ cúi đầu. Tôi quên. Trong giây phút mừng rỡ khi trông thấy những giọt nước mắt hiếm hoi, tôi đã không nghĩ đến cửa Phật là nơi thanh tịnh an lạc, làm gì có nước mắt. Tôi cúi đầu, khó nhọc đứng dậy. Quần áo tôi bám đầy máu mủ đã khô cứng cứa vào da thịt khiến cho những vết lở loét trên thân thể tôi thêm bỏng rát. Tôi không dám cất lời thưa chào, đành lầm lũi quay lưng men theo mái hiên tránh cái nắng trưa gay gắt ra cổng chùa. Ánh nắng chói chang khiến tôi hoa mắt đến choáng váng. Không cần ngoái lại, tôi vẫn cảm nhận được ánh mắt xót thương của bà vãi dõi theo bóng mình và thấy thêm tủi hổ gấp bội. Nỗi tuyệt vọng như bóp nghẹt tim tôi, và lần đầu tiên trong đời, tôi thấu được đến tận cùng nỗi đau của kẻ bị ruồng rẫy.

*

Tôi cố lê chân suốt nửa ngày còn lại về đến nhà và lả vào giường. Cái mệt nhọc và đau đớn của thân thể, cộng với nỗi tuyệt vọng khiến tôi kiệt sức. Tôi nghĩ đến một giấc ngủ êm đềm mà tôi chẳng bao giờ phải thức dậy nữa. Tôi thật sự chẳng còn thiết đến điều gì nữa trên đời, ngay cả cuộc sống đầy đủ và yên bình trước đây tôi cũng không còn khao khát được có lại. Chỉ có bóng tối của chốn vĩnh hằng là đấng cứu rỗi của tôi lúc này. Tôi thiếp đi trong một cảm giác bồng bềnh rã rời, như thể đang được cuốn đi trong dòng xoáy của một cơn lũ.

Và rồi, trong một giấc mơ thật rõ nét như mới hôm qua, tôi thấy lại ngày mình vừa tập tễnh lái chiếc xe đạp và ngã nhào bên góc thềm. Mẹ tôi dịu dàng đến nâng tôi dậy, rồi nhìn vào mắt tôi, mẹ âu yếm động viên:

"Cố lên con, sắp được rồi đấy!"

Rồi mẹ xoa lên gối tôi, nơi vết trầy xước còn rướm máu và hôn lên trán tôi trước khi giúp tôi lên xe tiếp tục buổi tập lái. Mẹ đưa tay vẫy tôi, trong khi tôi thấy mình đạp đi về phía cuối con đường. Một làn bụi mờ phủ lấy bóng mẹ, và tôi thức giấc trong khi đang mừng rỡ gọi mẹ về bước tiến mới của mình.

Tôi thức giấc với thân thể rã rời và những vết thương đau buốt như đang ăn sâu vào xương tủy. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao, tôi cảm thấy một niềm hy vọng mới như vừa đơm nụ trong lòng. Một cảm giác yên bình tỏa rợp tâm hồn khiến tôi không còn muốn từ bỏ cõi đời. Tôi cảm thấy mình như có thêm sức mạnh. Rồi không rõ từ đâu, một nguồn động lực đã thúc đẩy tôi ra khỏi giường, lôi kéo tôi đi tìm thức ăn uống và chăm sóc những vết thương cẩn thận để chuẩn bị cho cuộc hành trình ngày mai: tôi sẽ lại lên đường đi xin nước mắt.

*

Cuộc hành trình mới của tôi không kém vất vả, nhọc nhằn như những ngày trước, nhưng tôi không còn để tâm đến những rủi ro, trắc trở nữa, mà tập trung đi tìm những nơi tôi có thể xin được nước mắt. Có lẽ vì quá bận tâm đến những điều người khác có thể nghĩ về mình, hoặc vì mặc cảm yếu hèn của kẻ đi xin đã làm đầu óc tôi u tối, nên trước đây tôi không nghĩ ra được những nơi mình cần đến. Nhưng ngay đêm hôm ấy, tôi đã nghĩ ra vài nơi tôi có thể may mắn tìm ra người khóc: bệnh viện và nghĩa trang, và có lẽ cả ở những khu dân nghèo sinh sống. Với niềm hy vọng mới vừa hé nụ, tôi thiếp đi lần nữa trong nỗi khắc khoải mong chờ cho một tương lai tươi sáng hơn sẽ đến với mình.

*

Những ngày sau đó, tôi lần lượt trải qua những giây phút lạ thường, cũng như nhận ra được một cách rõ ràng sự khác biệt trong tính chất của những giọt nước mắt. Có những giọt nước mắt ấm áp đã giúp tôi xoa dịu và chữa lành những vết thương, như giọt lệ của hai phụ nữ nhà quê đã khóc trong lúc đang ngồi níu lấy nhau trong phòng đợi ở khu cấp cứu, hoặc của người đàn ông đang bồn chồn trước phòng hộ sản. Những giọt lệ chân tình đã lấp kín những vết lở loét trên mặt, trên cổ, hai cánh tay và cả trên ngực, nơi tôi đã ngỡ những vết thương sẽ dần dần ăn nát thân thể mình và chẳng còn cách nào cứu chữa được.

Tôi đã thành công trong những lần xin này, vì tôi không còn bị mặc cảm hèn mọn làm chùn bước: tôi sẵn sàng quỳ gối hứng lấy những giọt lệ quý báu và để mặc cho chúng rơi rớt lên thân thể mình ở bất cứ nơi nào. Tôi đã cúi đầu tạ ơn những con người tử tế đã chia sẻ cùng tôi những nỗi đau của họ, và giúp tôi chữa dần căn bệnh mà không thuốc men nào có thể giúp được trước đây.

Nhưng cũng có lúc những giọt lệ đã khiến tôi thất vọng hoặc gây thêm cho tôi bao đau đớn. Có hôm, tôi kiên nhẫn quỳ gối đón chờ những giọt lệ từ nhóm thân nhân của một người quá cố đang chờ được hạ huyệt ở nghĩa trang, nhưng than ôi, những giọt nước mắt hiếm hoi đã rơi mà những vết thương của tôi chẳng có chút mảy may biến đổi. Rồi một lần khác, tôi đã phải đứng hàng giờ dưới vòi nước lạnh để làm dịu đi cơn đau, sau khi hứng lấy những giọt nước mắt căm phẫn của một phụ nữ giàu sang trong lúc bà mặc sức kể lể với bạn về người chồng hư hỏng, phụ bạc của mình. Những giọt nước mắt của bà như một thứ axít bỏng rẫy ăn sâu vào những chỗ lở loét trên thân thể tôi, khiến cho chúng lan rộng ra hơn và nỗi đau đớn suýt làm tôi ngất đi.

Nhưng không vì thế mà tôi nản lòng. Tôi cố tĩnh dưỡng ít hôm để lấy lại sức rồi tiếp tục lên đường. Tôi trở lại bệnh viện, rồi vào nghĩa trang, và tìm đến những khu dân nghèo. Đã nhiều lần, nước mắt của tôi hoà lẫn với những giọt nước mắt của những người xa lạ, và kỳ diệu thay, chúng cũng giúp làm lành vết thương, mà trước đó, tôi cho rằng chỉ có những giọt lệ của người khác mới có thể cứu giúp mình.

*

Thế rồi một hôm, trong lúc tôi đang mệt nhoài lê chân giữa chiều nắng xế đi qua một khu phố tồi tàn trên đường về lại nhà, tôi chợt nghe có tiếng trẻ khóc và một giọng phụ nữ hát ru rời rạc từ một căn nhà đổ nát ở cuối con hẻm. Tôi tiến đến gần rồi ghé mắt vào khung cửa mở ngỏ. Bên trong căn phòng mờ tối, tôi trông thấy một người đàn bà đang ngồi ru con trên chiếc võng. Người phụ nữ một tay ôm con, tay kia nhè nhẹ phất phơ chiếc quạt giấy. Đứa bé vẫn khóc. Tôi cúi đầu tiến đến gần, rồi đưa tay chìa chiếc lọ nhỏ ra trước mặt, tôi cất giọng khao khao cầu xin:

"Cho tôi xin nước mắt!"

Tiếng hát dừng lại. Người phụ nữ đánh rơi chiếc quạt trong tay, rồi bà cất giọng nghẹn ngào:

"Anh đấy ư?"

Tôi nhìn người phụ nữ. Không đủ ánh sáng trong phòng để tôi có thể nhìn thấy rõ nét mặt của bà, duy chỉ có giọng nói phảng phất những âm hưởng quen thuộc. Trong lúc tôi còn bối rối chưa nhận ra, nụ cười héo hắt nở trên môi người đàn bà đã nhanh chóng gợi nhớ lại những ngày tôi vừa bắt đầu đi làm và nàng là một trong những người tình cũ mà tôi đã từng thắm thiết. Tôi nhớ nàng kém tôi vài tuổi, nhưng lúc ấy nàng trông gầy còm, tiều tụy như bà lão sáu mươi. Tôi nhớ lại ngày còn yêu nàng, tôi đã cảm phục nàng vì tính giản dị và tấm lòng cao quý. Nhưng tôi đã bỏ rơi nàng để theo đuổi một phụ nữ giàu có và chóng quên đi mối chân tình mà nàng đã dành cho tôi.

Chúng tôi bối rối trong giây lát, rồi cùng níu lấy nhau thổn thức. Nàng kể cho tôi nghe về những nỗi vui buồn từ lúc chúng tôi chia tay nhau, kết thúc bằng thực tại là nàng đang phải một thân vất vả nuôi con vì chồng nàng không chịu nổi cảnh túng quẫn đã bỏ đi, để lại cho nàng đứa con thơ. Tôi kể cho nàng về quãng đời nhiều thăng trầm của tôi từ dạo ấy, và căn bệnh khủng khiếp mà tôi phải chịu cho đến ngày được cứu chữa lành lặn bằng những giọt nước mắt. Tôi muốn ngỏ lời xin được mang mẹ con nàng về chung sống, nhưng ngại ngùng làm nàng kinh tởm với những lở loét và mùi hôi thối từ những vết thương trên thân thể của mình.

Chúng tôi lặng lẽ ôm nhau trong nỗi đớn đau của những điều đã mất và niềm hạnh phúc được gặp lại nhau lần nữa. Nước mắt của tôi và nàng hoà vào nhau, tim tôi ấm lại với những cảm xúc thật trong sáng, êm đềm mà đã lâu lắm rồi tôi mới tìm lại được và tôi ngỡ đã mất đi mãi mãi. Nước mắt nàng ướt đẫm ngực áo tôi khi nàng áp mặt vào lòng tôi thổn thức. Đến khi đứa bé đã ngủ say và nàng nguôi cơn khóc, tôi ngỏ lời được cùng nàng nối lại mối tình xưa, nhưng nàng một mực chối từ. Nàng vẫn mong chờ đến ngày người chồng yêu quay về, để con nàng có bố và gia đình nàng được đoàn tụ lần nữa.

Mặc dù thất vọng vì bị nàng chối từ, tôi đã không ngạc nhiên trước tấm lòng chung thủy của nàng. Tôi mến phục nàng vì đã trải qua bao nhiêu vất vả, đắng cay nhưng vẫn mãi trung thành với chồng, và tôi đã thành tâm cầu mong cho gia đình nàng sớm được đoàn tụ. Chúng tôi chia tay trong niềm ấm áp của một tình thân mới được xây đắp. Tôi ra về trong nỗi ngậm ngùi cho cảnh đơn chiếc của nàng, và tự hứa sẽ tìm mọi cách để hỗ trợ, chia sẻ cùng nàng những khó khăn trong tương lai.

*

Tôi vẫn còn mải nghĩ đến nàng trong suốt quãng đường về nhà và cả phần còn lại của ngày hôm ấy. Cho đến khi tôi tắm rửa, thay đồ trước giờ đi ngủ, tôi mới hết sức kinh ngạc khi nhận ra những vết lở loét trên thân thể mình đã kín miệng và bắt đầu lành. Tôi đứng ngây người trước gương, rồi hối hả vạch tìm từng vết lở trên khắp thân thể, nhưng tất cả mọi vết thương đều được bọc kín trong một lớp da mới. Tôi run rẩy trong niềm hạnh phúc vô biên và nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi không thể tin vào mắt mình và không ngớt tự hỏi phép lạ nào đã giúp tôi thoát khỏi căn bệnh kinh tởm ấy. Tôi lặng lẽ quỳ gối trước bàn thờ của bố mẹ, lòng tràn ngập niềm biết ơn sâu sắc hai đấng sinh thành. Nhờ có phương thuốc kỳ diệu mà mẹ mách bảo tôi hôm nào, tôi đã được tái sinh lần nữa.

Cho đến cuối đời, tôi mãi mãi biết ơn những con người tử tế, mà nhờ những giọt nước mắt của họ, tôi lại được lần nữa sống trong hạnh phúc của kẻ lành lặn…

*

Người y tá trẻ lặng lẽ gấp cuốn hồi ký áp chặt giữa đôi tay đang đặt gọn trong lòng. Cô trầm ngâm hồi tưởng lại những tháng ngày thật đáng nhớ cô đã chăm sóc cho người đàn ông thâm trầm, ít nói, người đã dành cho cô thật nhiều cảm mến và lòng biết ơn sâu xa. Cô đã từng chăm sóc cho nhiều bệnh nhân ở chặng cuối cùng của bệnh ung thư máu, nhưng cô chưa bao giờ cảm thấy một sự ràng buột hết sức mật thiết hoặc dành cho ai nhiều cảm mến như với người đàn ông này. Cô có thể hình dung được vẻ tuấn tú và sức thu hút đầy nam tính từ người đàn ông đã ngoài sáu mươi, vào thời ông còn trai trẻ. Nhưng cô chẳng bao giờ có thể đoán được một quá khứ đầy những tàn phá và tai ương từ một con người hết sức trầm mặc và giàu tình người như ông.

Mắt cô nhòa lệ khi nhớ đến lần cuối ông cầm lấy tay mình, lúc cô đặt tay lên trán ông giữa cơn sốt như thiêu đốt từng phân tử trên thân thể. Tim cô thắt lại khi nhớ đến nụ cười đầy thân ái ông trao cho mình trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi ông bị cơn sốt huỷ hoại trí tuệ và chìm vào chốn hôn mê vĩnh hằng.

Cô lặng lẽ đóng chiếc ngăn tủ bên giường người bệnh, và ngoái lại lần nữa trước khi rời căn phòng như cố thu lại trong tầm mắt khung cảnh thân thương với bao kỷ niệm ngày còn có ông ở đấy. Thân nhân của ông từ một thành phố xa đã đến mang xác ông đi hôm qua. Sáng nay, cô đã cố tìm địa chỉ của họ để gửi chiếc đồng hồ đeo tay mà ông đã để sót lại bên giường, nhưng chẳng thấy họ để lại chi tiết liên lạc nào. Một cách tình cờ, cô vừa tìm thấy thêm cuốn hồi ký của người đàn ông mà cô sẽ cất giữ suốt đời như một kỷ niệm sâu sắc.

HOÀNG NGỌC THƯ
Adelaide 8/2004 & 9/2006.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
03 Tháng Mười Một 20253:42 CH(Xem: 14769)
có một người không nói, mà hoa cười / không bước đi, mà gió cũng theo về / không hẹn trước, mà chiều như đã đợi / một bóng hình đằm thắm giữa cơn mê.
03 Tháng Mười Một 20253:32 CH(Xem: 12380)
Tháng 11 - 2025, đại tường Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Lễ đại tường là ngày giỗ năm thứ hai hai sau khi một người qua đời. Đại tường không chỉ là một nghi thức tang lễ nối dài mà là một triết luận sinh diệt siêu vượt những tín lý từng được cho là siêu việt của văn hóa và tôn giáo Á Đông, đặc biệt trong Phật giáo; nhất là khi nói đến một bậc danh tăng như Thầy Tuệ Sỹ lại càng mang nhiều ý nghĩa
03 Tháng Mười Một 20253:19 CH(Xem: 16394)
Ướt chùng lòng anh / Thềm mưa bụi / Con tàu lầm lũi vùng quên lãng / Đi vào đi vào sương, hoa muồng vàng mù tối / Đắng khói hai hàng cây nuôi dưỡng tình đầu /
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11092)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20252:23 SA(Xem: 15057)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ mới qua đời tại Mỹ, hưởng Thọ 102 tuổi (theo lịch Âm là 103 tuổi). Ông là hàng nhà văn tiền bối cuối cùng trong thế hệ Chiến tranh Việt Nam vừa ra đi. Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo và cho rằng dạy học là nghề, viết văn là nghiệp. Như thế trong nhãn quan Phật giáo thì phải chăng văn chương là duyên và tác phẩm là “nợ” như khái niệm “duyên nợ trần ai” giữa đời thường.
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10321)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
21 Tháng Mười 202512:14 SA(Xem: 11733)
Gặp gỡ trò chuyện với hậu duệ của cụ Mai Khắc Đôn, nghe kể một vài kỷ niệm về Hoàng Phi Mai Thị Vàng (Vợ vua Duy Tân, con gái của quan thượng thư Bộ Lễ Mai Khắc Đôn
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 12976)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.
13 Tháng Mười 202511:02 CH(Xem: 18331)
Có những cơn mưa không chỉ rơi xuống mặt đất, / mà còn rơi vào bên trong con người. / Mưa Cuối Cùng là một cơn mưa như thế — / cuối cùng của Thời Gian, / và cũng là khởi đầu cho một cuộc rửa tội của Linh Hồn. / Trong tiếng mưa, Thi Sĩ nghe được tiếng dội của nhân loại: / những bước chân thất lạc, những linh hồn không còn chốn trở về, / và câu hỏi âm thầm về ý nghĩa của cuộc hiện sinh. /
13 Tháng Mười 202510:35 CH(Xem: 12551)
Duyên ngộ giữa tôi và Thụy Khuê lạ lùng như một sự ngẫu nhiên được an bài sẵn, chỉ đợi ngày tháng chín muồi là lóe lên như sao băng. Sự hiểu biết của Thụy Khuê, với tôi bắt đầu từ năm 2 đại học, hồi đó tôi khá mù mờ về văn học Việt, ngoài hai cái tên nổi tiếng đến mức quen thuộc là Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh thì tôi không đọc ai, đúng hơn là mấy ông thầy, mấy đứa đàn anh khóa trên chỉ nói về hai người đó với sự ngưỡng mộ tới cuồng tín. Tôi kén văn học Việt bởi sự khó chịu ăn vào máu thuở học sinh, suốt ngày phải đọc mớ văn học cách mạng mà vẫn phải cố khen, tán láo để lấy điểm cho bài thi, đợt thi vào khoa viết văn, tôi lại phải ca tụng Chí Phèo của Nam Cao dù tôi đọc truyện đó tới phát ngán, nói thẳng, đọc xong tuyển tập Nam Cao, tôi thấy tay nghề viết của ông chỉ ở mức trung bình khá, văn thô, trần trụi, tả thực nhưng ngôn ngữ chưa sắc, thiếu biến hóa, tầm nhìn vẫn mơ màng, thành ra hồi đi học tôi chỉ đọc phần văn học nước ngoài, cứ dính mắt vào văn học Việt là buồn ngủ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3799)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13218)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1715)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2226)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2347)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1409)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2172)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1896)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1297)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2338)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2540)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 210)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 763)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 966)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1037)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6376)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15851)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32107)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38823)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1402)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6866)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10625)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9945)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3421)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10318)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi