- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,813

THƠ KHALY CHÀM

07 Tháng Hai 20172:44 SA(Xem: 13594)

 

Vassilis_Tangoulis
Photo - Vassilis Tangoulis



khaly chàm

không ẩn dụ điều gì

 

đốm lửa loé sáng

sợi khói được ý thức

sẽ là một hội chứng

cùng kỹ năng ứng dụng sản sinh nỗi tuyệt vọng

thời gian thinh lặng bao điều bí mật

sự vỡ máu từ mầm trí tưởng

những cú pháp mở mắt trong ngọn đèn đã tắt

con chữ hoài nghi về thiên đường

ngã sấp vào vòng xoáy đêm đen

hiện tại cái bóng tôi đang lẩn trốn nơi đâu

dễ chừng đã hơn bốn mươi năm

 

kẻ khóc người cười

những gương mặt hờ hững lướt đi như gió

ngợi ca hay nguyền rủa

khi tôi đang mang thai câu thơ của bầu trời xanh

từng ngày được xác tín là tàn tro bí ẩn

 

vết thương di trú từ ký ức trở về

nhìn tương lai biến hoạ trong lời nói của quỷ

linh hồn tôi cùng với lịch sử

bay chấp chới giữa rờn rợn u minh

chỉ còn lại những hình nhân rỗng trắng

đang bị mặt trời thắt cổ

 

 

buổi sáng & khái niệm

 

những phiên bản của nỗi sợ hãi

luôn được uốn cong thành dấu hỏi

đầu ngâm vào nước màu đen kịt

chổng ngược chân lên bầu trời hình tròn

những cặp tròng kính đã bị mờ đục

không thể đổ lỗi

nguyên nhân sự bốc hơi từ ly cà-phê đểu

hay hình như - có thể - hoặc là

 

bản tin buổi sáng trong ngày

ấm ớ nhà nước ngọng nghịu

viển vông chuyện biển đông

trí trá chuyện tham nhũng

cùng nhau hô hào

du lịch ra quần thể đảo để ói mửa

như thế thể hiện lòng yêu nước

rất nhiều chuyện chỉ để nói suông

có tin hay không thì tuỳ

 

buổi sớm mai

quán cóc góc phố

còn vương chút âm hồn

nhìn đời qua hai mảnh ve chai

không nghe được tiếng chim hót

trên bầu trời

vọng âm rên rỉ của chiếc quan tài bay

nhưng chẳng có ma nào buồn ngước mặt

 

 

nhận thức trong sự tưởng tượng

 

mặt trời động kinh ngáp hơi thở lửa

đồng bóng đỏ mặt diễn tuồng

kịch bản bi hài dài hơi thiên niên kỷ

bất chợt vực thẳm đã được khép lại

biển cuồng nộ cũng phải lặng im

con người bắt đầu bàn tán về số phận

 

chúng ta thất lạc nhau trong ánh sáng

có thể từ hàng ngàn năm

làm sao biết được bao nhiêu kiếp tái sinh

cứ nghĩ là đã bị bịt mắt

và được dẫn độ ra khỏi vùng u mê

những thanh âm trần thế bị đứt lìa

ta và em không biết nói

miệng ngậm câm giữa rừng xảo ngữ

 

hộp sọ loài linh trưởng trong lồng kính

nhìn xuyên qua những linh hồn rỗng ruột

mê dại những bàn tay vuốt nhọn ý tưởng

bóng đêm đang mang thai ngọn đèn

soi sáng mặt nạ người đồng hiện cùng giấc mơ điên loạn

 

biến thức của hiện tại

 

mùa màng có thể tĩnh lặng

không ngừng huỷ hoại trong cơn mê của đất

tiếng nấc của loài chim từ vòm cây rụng xuống

khởi sinh thứ ánh sáng trầm đục

tan nhanh vào đức tin không màu

nên đời sống luôn hoá điên rồ

 

dòng sông hoán dụ những đám mây

hàng tỉ hạt nước li ti chờ mở mắt

tôi ngồi câu chiếc bóng của mình

ký ức trôi dạt như một lời nguyền

 

em nói là muốn tranh luận với tôi

về sóng âm thanh trong từng mạch máu

đang bị thời gian gặm nhấm

và những thực thể cụt đuôi loé sáng rồi vụt tắt

tôi cảm nghiệm những giấc mơ luôn rỗng trắng

dường như mùi tái sinh đã bay về

đậu bên khung cửa mùa hè

diễn thuyết một lập trình trên vòng cung tuẫn nạn

 

hôm nay chúng ta là con bù nhìn

giấu mặt vào nỗi cô đơn

mong chờ được chết theo biểu đồ quá khứ

 

nhận thức muộn màng

 

ta chạm tay vào nơi thiêng liêng của đá

để cảm nhận hơi thở đang cháy từ lửa xanh

những hạt bụi không bao giờ ngơi nghỉ theo vòng xoay định nghĩa chu kì

một hành tinh nhung nhúc động vật khách thể

nhiều tham vọng tiếp nối nhau trở thành một sâu chuỗi

những bí ẩn vụn vặt nhảy múa trong kẽ răng loài người bản năng như loài thú dữ

khước từ hay khẳng định khi phải sống chấp nhận đau khổ và lạc thú…

có đúng thời gian cũng chỉ là một hình ảnh vĩnh cửu?

từ thượng nguồn dòng sông đang mơ hiện những đám mây xám lạnh

ta đang mơ thấy mình trống rỗng không phải một thực thể kết tụ bỡi hàng triệu tế bào

có thể em đang mơ là một trái cấm ngọt ngào giữa tri thức khờ khạo nơi ta

làm sao thoát khỏi ngôn từ dung tục đã trở thành nhạc điệu ru đời

ai cao giọng tuyên bố cấm kỵ môi hôn mơn trớn vào chân những tượng đài

tình yêu thương đang thể hiện từ hình tượng của đá

nếu có chăng là sự nhận thức muộn màng [?]

 

khái niệm đêm #1

 

khép lại ngày

chớp cửa nghiến răng

còn sót lại đóm sáng cuối cùng

vụt tắt

 

những dây leo

từng đêm vươn lên

tìm hơi thở trên rào kẽm gai gỉ sét

giấc mơ đang trổ hoa gần hơn với cái chết

 

trong sự trỗi dậy

loài bướm đêm quên đi quá khứ

những giọt sương luôn nguỵ trang

không thể hiểu được tiếng chuông ngân

khi lời thánh ca khoác áo choàng đen

đi xuyên qua bức tường

thuỷ tinh va chạm

âm thanh chảy tràn thảm sát bóng đêm

côn trùng chậm chạp

bò trên khuôn mặt bản tin dự báo thời tiết

 

tôi nhìn chiếc bóng của mình

trôi bập bềnh về vùng mặt trời tử nạn

 

 

khaly chàm

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 995)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1072)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1780)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5820)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5803)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13159)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30006)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81112)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20220)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 340)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”