- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,394

GIỮA HAI THẾ KỶ 55 NĂM HỘI HOẠ NGUYÊN KHAI VẪN CHẤT THƠ NGÀY ẤY

01 Tháng Bảy 201612:54 CH(Xem: 20092)

 

 

nk 1

Hình 1_ Chân dung Nguyên Khai

 

TIỂU SỬ NGUYÊN KHAI

      Tên thật Nguyễn Phước Bửu Khải, sinh ngày 01.09.1940 tại Huế. Nguyên Khai theo học hai năm đầu tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế (1960-1961), chuyển vào học năm thứ ba và thứ tư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1962-1963). Huy chương Đồng Triển lãm Mùa Xuân Saigon 1963, cũng là năm Nguyên Khai tốt nghiệp tại trường này. Là một trong những thành viên sáng lập và là khuôn mặt nổi bật của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam từ 1966.  Nguyên Khai hầu như tham dự tất cả những cuộc triển lãm hàng năm do Hội Hoạ sĩ Trẻ tổ chức (1965-1975) cùng với các cuộc triển lãm tranh khác của Alliance Française 24 Gia Long Saigon, Centre Culturel Français trên đường Đồn Đất, Goethe Institute đường Phan Đình Phùng (1968-1975).

 

      Nhà phê bình hội hoạ người Pháp Marc Planchon, người rất gắn bó với những khuôn mặt tài năng của Hội Hoạ sĩ Trẻ Việt Nam, trên trang báo Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 đã viết về Nguyên Khai cách đây 52 năm [1964]:

 

      "Anh vừa đúng 24 tuổi và thân hình mảnh mai như thiếu ăn, với cái nhìn nóng bỏng ấy trên một khuôn mặt gầy guộc khiến người ta nghĩ tới những sinh viên thời Trung cổ, ở thời kỳ triết học kinh viện, được nuôi dưỡng bằng những ý tưởng thăng hoa hơn là ham muốn, trong nỗ lực hướng tới tri thức, thấy hạnh phúc xây dựng luận lý trên những tiền đề tưởng tượng, hơn là chỉ chú trọng vào sự kiện vật chất trong thực tế phẳng lì của nó."

 

      "Il a tout juste vingt-quatre ans et, d'apparence, cette maigreur famélique, et ce regard brûlant dans un visage emacié qui font songer à ces escholiers moyennanageux, des temps scholastique, plus nourris d' idées effervescentes que de bonne chair, dans leur effort vers la connaissance, plus heureux de constructions logiques sur des prémises imaginaires, que de considérer simplement le fait matériel dans sa plate réalité."        

 nk 2

Hình 2_ Một Nguyên Khai mảnh mai thư sinh

trong cuộc triển lãm tranh chung ở Sài Gòn 1965

 

 

      Hơn nửa thế kỷ sau, Marc Planchon nếu có gặp lại Nguyên Khai, thì vẫn là một Nguyên Khai mảnh mai của ngày nào, chỉ có thêm là rất nhiều những vết hằn sâu của thời gian.              

 

nk 3 

Hình 3_ Bài phê bình hội hoạ của Marc Planchon trên Journal d' Extrême Orient 01.10.1964 về cuộc Triển Lãm tại Phòng Thông Tin Đô Thành

Sài Gòn với nhan đề: "Tác phẩm Nguyên Khai là tranh? hay thi hoạ?  

 

      Sau 1975, gia đình Nguyên Khai kẹt lại Việt Nam 6 năm. Là thuyền nhân rời Việt Nam 1981, định cư tại Nam California. Nguyên Khai tiếp tục sáng tác, và triển lãm tranh.

      Năm 2003, có thể coi là dấu mốc quan trọng trong hành trình sáng tạo của Nguyên Khai qua cuộc triển lãm tại hội trường Nhật báo Viễn Đông, Little Saigon. Nguyên Khai đã táo bạo sử dụng những con chips từ các computer phế thải, gắn vào những bức tranh tuy là chất liệu hỗn hợp/ mixed media, nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp hài hoà và thơ mộng của tranh Nguyên Khai. Có thể nói đây là bước tiên phong cách tân của nghệ thuật Nguyên Khai, một hội nhập vào thế kỷ của nhân loại với những tiến bộ kỳ diệu trong lãnh vực điện toán / Mankinds and Computers.

 

      Nhưng sớm hơn trước đó, năm 1998 Nguyên Khai đã có một cuộc triển lãm thành công ở Artcore Los Angeles. Nhà phê bình hội hoạ Collette Chattopaddhyay có một Review về Nguyên Khai, trích đoạn: "Những tác phẩm của Khai tinh tế và phức tạp chuyển biến cách nhìn từ nghệ thuật cung đình Á châu với các biểu tượng toàn hảo như mặt trời, mặt trăng và bốn mùa bước qua những hình ảnh hiện đại của máy móc với các bộ phận computer, đồng hồ chỉ thời gian. Như gửi tín hiệu cho một thiên niên kỷ mới sắp tới, các tác phẩm ấy như một nhìn lại những giá trị văn hoá - xã hội của cuối thế kỷ 20, với trân trọng thành tựu quá khứ nhưng đồng thời là bước vươn tới lãnh vực khoa học kỹ thuật của thời hiện đại." Nguyên Khai at L.A. Artcore, 1998]  

 

      Tác phẩm của Nguyên Khai đa dạng về thể loại: sơn dầu/ oil painting, chất liệu hỗn hợp/ mixed media, sơn mài/ lacquery, tranh độc bản / monoprint và một số tượng và phù điêu / bas-relief và cả vẽ bằng men sứ / ceramics; phong phú về nội dung: từ tranh biểu hiện / expressionism tới tranh trừu tượng / abstract. Đã không có phân định rõ về từng thời kỳ sáng tạo của Nguyên Khai, nhưng anh thì vẫn cứ làm việc bền bỉ và không ngừng tìm kiếm, cho tới nay cho dù đã bước qua tuổi cổ lai hy, khả năng vận dụng chất liệu, những gammes màu của Nguyên Khai ngày càng điêu luyện.  

    

      Cuộc triển lãm mới nhất gần đây tại Little Saigon 06.2016 đánh dấu 55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai (1961-2016). Khoảng thời gian ấy tính ra là đã hơn nửa đời người, nhưng có lẽ không có tuổi tác cho nghệ sĩ khi vẫn còn nung nấu ngọn lửa sáng tạo.

 

NHỮNG CUỘC TRIỂN LÃM

2016     Viet Bao Gallery, Westminster, California

2015     Viet Bao Gallery, Westminster, California    

2012     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2007     Palette Art Gallery, Houston, Texas

2006     Viet Bao Kinh Te Gallery, Garden Grove, California

2005     Viet Art Gallery, Houston, Texas

2004     Hoa Mai Gallery, Paris, France

2003     "40 Years of Artistry," Vien Dong Gallery, California

2002     Vinh Loi Gallery, Saigon, Vietnam

2001     Old Courthouse Museum, California

2000     Artcore L.A. Gallery, California

1998     Cuttress Gallery, Pomona, California

1997     "Salt & Pepper," Inst. of Contemporary Art Gallery, San Jose, California

1996     Pacific Asian Museum, Pasadena, California

1995     Smithsonian Institute Traveling Exhibition

1995     Ryal Gallery, Boca Raton, Florida

1994     "East & West," Wignall Museum, California

1987     UCLA Art Gallery, Burbank, California

1982     UC Irvine Gallery of Art, California

1969     The Sao Paulo Biennial, Brazil

1968     The New Delhi Biennial, India

1967     The Tokyo Biennial, Japan

1965     The Paris Biennial, France

 

 

 nk 4

Hình 4a_ Lan Phương: người bạn đời, bà Tú Xương thời hiện đại, cũng là nguồn cảm hứng và chất thơ của Nguyên Khai 2005

 

 

 nk 4 b

Hình 4b_ Nguyên Khai đang uống nước Cam Lồ,

một khoảnh khắc rất hạnh phúc

 

 


 nk 5

Hình 5_ Bức tranh Nhà thờ 1965 vẽ trong thời gian Nguyên Khai

trốn quân dịch sống ẩn náu như trong một ốc đảo

 

nk 6

 

Hình 6_ Bài báo giới thiệu gia đình Nguyên Khai trên

Los Angeles Times, 30-05-1998

 

 

NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ NGUYÊN KHAI

     Tuy gồm nhiều thể loại, nhưng các tác phẩm chính của Nguyên Khai chủ yếu là tranh sơn dầu / oil painting, từ tượng hình / figurative sang trừu tượng / abstract xen lẫn nhau qua các giai đoạn. Dù thể loại nào, chất thơ mộng, sang trọng và vương giả trong tranh Nguyên Khai chính là vẻ đẹp tinh khôi của chất liệu / matière, với những gammes màu như ẩn hiện đan vào nhau mà anh có khả năng sử dụng rất nhuần nhuyễn.

 

      Nhà phê bình hội hoạ Huỳnh Hữu Uỷ trong tác phẩm Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại 2008 đã nhận định: "Tranh của Nguyên Khai là thơ được dựng lại bằng sắc màu trên nền vải. Đó là một thế giới vô cùng thơ mộng và quý phái như phong cách đã định hình ngay từ những bước đầu... Nghệ thuật của anh là một bắt nhịp ra ngoài cái hiện tiền."

 

      Hãy để Hoàng Ngọc Biên, nhà văn tiên phong của phong trào tiểu thuyết mới Miền Nam trước 1975 cũng là bạn hàng xóm viết về người bạn của mình: "Nguyên Khai xưa nay là người trầm tĩnh – trong chuyện sống cũng như chuyện sáng tác. Thời ở Tân Định Saigon, anh sống một mình và vẽ tranh gần như lặng lẽ trong một căn phòng tương đối rộng, ít tiếp xúc với bên ngoài... Khai bạn bè nhiều nhưng có vẻ không mất thì giờ đàn đúm: thì giờ anh gần như dành hết cho việc tìm cái mới trong nghệ thuật. Sài Gòn thời ấy bừng bừng không khí Modigliani và Chagall, Nguyên Khai không phải đã thoát ra được cái kích thước quyến rũ ấy, nhưng cuộc trò chuyện của Khai với trăng, sao, bầu trời và con người là bất tận. Tranh Nguyên Khai, kể cả khi anh bước qua một kỹ thuật mới, luôn mang một bố cục khác, một thứ ánh sáng phi thường. Nhưng cũng chính cái lối âm thầm làm việc ấy khiến khi anh phản ứng trước các ồn ào của thế sự, anh là một người triệt để."

 

Nhà văn nhà thơ Nguyễn Đình Toàn đã nhận xét rất tinh tế khi xem tranh Nguyên Khai: "Cái chất thơ mộng lãng mạn của tâm hồn Nguyên Khai hình như lúc nào cũng chìm lẩn dưới màu sắc, dưới những đường nét. Có vẻ như ông muốn dấu bớt chúng đi chứ không phơi bày ra."

 

      Hoạ sĩ Đinh Cường, cũng là thành viên của Hội Hoạ sĩ Trẻ nhận định:  "Nguyên Khai là một họa sĩ đã định hình, với thế giới tranh sang trọng và thơ mộng mang âm hưởng Huế, nơi anh đã sống cùng gia đình trong một phủ xưa bên Gia Hội. Những thiếu nữ trong tranh anh mang hình dáng quý phái, đặc biệt có những chân dung hai mặt rất Nguyên Khai."

 

      Thêm một Trịnh Cung phát biểu về Nguyên Khai: "Trong suốt hơn nửa thế kỷ làm nghệ thuật của Nguyên Khai, với tôi, anh là một con ong trong thầm lặng và bền bỉ, bay khắp vùng hoa lạ tìm mật cho mình và cho đời. Chúng ta hãy ngắm nhìn tranh Nguyên Khai đã vẽ lúc còn trai trẻ cho đến hôm nay, dù là sơn dầu hay với đa chất liệu, cái đẹp hiện đại vẫn luôn ứa chảy sự ngọt ngào, sự dịu dàng vô tận của thi ca khiến ta cảm thấy mình được nhấc bỗng khỏi những ràng buộc tăm tối, khắc nghiệt của đời thường."

 

      Khi trả lời câu hỏi của nhà thơ Trịnh Y Thư: "Tương quan giữa hội hoạ và thực tại là gì?" Nguyên Khai phát biểu: "Hội hoạ không quay lưng lại thực tại, nhưng nó không minh hoạ thực tại. Hội hoạ cho chúng ta cái nhìn khác, cái nhìn phi thực tại, để từ đó những khả thể của chân thiện mĩ được biểu đạt."

 

     Hình như các nghệ sĩ tài năng đều có điểm hội tụ và gặp nhau ở quan điểm nghệ thuật này. Nghiêu Đề, cũng là thành viên nổi trội của Hội Hoạ sĩ Trẻ khi nói về quan niệm hội hoạ cũng cho rằng đó không phải là một sao chép từ cuộc sống, và Nghiêu Đề đã đưa ra một hình tượng ví von:“hoạ sĩ là người tìm được một nét đúng giữa hai nét sai của thực tại.”

 

CÂU CHUYỆN BỨC TƯỢNG THỜI GIAN

      Bức tượng Thời Gian, tác phẩm độc nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia 1981, tượng làm bằng đá san hô lượm được trên bờ biển, dụng cụ lúc đó chỉ có một con dao phay để đục đẽo.

 

     Vĩnh Thăng, con trai Nguyên Khai lúc tới đảo mới có 7 tuổi, sau này khi đã trưởng thành ở Mỹ, hồi tưởng viết về bức tượng Thời Gian ấy:   

 

       "Ban đầu với tôi bức tượng là một vô nghĩa, tuy nhiên qua thời gian, tôi thấy được nhiều điều kỳ diệu ẩn tàng trong đó. Trước đây tôi nghĩ bức tượng là thể hiện giấc mơ đang chết dần của cha tôi, nhưng sau đó tôi thấy là mình sai. Cha tôi và tôi có cách nhìn khác nhau về sự thành đạt / achievement, cha theo quan niệm Đông phương, theo ông thành tựu không phải là sự giàu có và nổi tiếng, mà là sự hiện hữu và lớn lên từ nội tâm / inner growth and existence. Tôi lớn lên ở Mỹ, có một lối suy nghĩ Tây phương hơn. Nhưng rồi nghĩ lại thời gian đã mất của cha tôi không hẳn là đã mất; cha tôi đã cống hiến toàn thời gian cho sáng tạo, cho nghệ thuật mà ông yêu mến. 

 

 nk 16

Hình 16_ Phải: Những ngày gia đình Nguyên Khai trên Đảo Galang; Trái: Bức tượng Thời Gian 1981, tác phẩm duy nhất của Nguyên Khai trên đảo Galang Indonesia, làm bằng đá san hô lượm trên bờ biển, chỉ có con dao phay để đục đẽo.

 

      Cha tôi đã tạc bức tượng này trên đảo Galang khi gia đình tôi vừa đào thoát khỏi Việt Nam. Nó là gia tài duy nhất chúng tôi mang vào nước Mỹ. Không dễ dàng gì để mang bức tượng đó theo. Tôi còn nhớ rất rõ những gì diễn ra ngày hôm đó. Khi nhập cảnh, họ khám xét các túi hành lý. Tôi còn thấy được vẻ sợ hãi trong ánh mắt cha tôi, chuông báo động réo lên khi túi xách có bức tượng đi qua màn hình phát hiện kim loại. Giọng cha tôi run lên với mấy chữ tiếng Anh rời rạc: "Art mine, please I keep OK?" Thật là may mắn, chúng tôi còn giữ được bức tượng ấy tới nay. Bức tượng được đặt giữa phòng khách, quay mặt về hướng nam.

 

      Bức tượng trông thì đẹp nhưng không có ý nghĩa gì với tôi lúc đó... Tượng màu cát biển tạc chân dung một cô gái Á châu với dáng sang cả, vương giả. Có lần cha tôi bảo bức tượng ấy không chỉ là tượng trưng cho hy vọng và ước mơ mà còn nhiều hơn thế nữa. Là một nghệ sĩ, bị tước đoạt tự do sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, gia đình chúng tôi đã đào thoát với ước mơ đi tìm cuộc sống tự do. Cha tôi không chỉ có ước mơ cho chúng tôi mà cho chính ông nữa. Tất cả mong ước là ông được tự do sáng tạo và phát triển cuộc sống tâm linh.

 

      Ban đầu tôi đã lầm khi nghĩ rằng giấc mơ của cha là trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và giàu có. Rồi tôi hiểu rằng chẳng dễ gì để ông có thể nổi tiếng trên đất Mỹ, và ông phải khởi sự lại từ bước đầu. Nước Mỹ là vùng đất mới và rất khác, và chỉ có mỗi con đường phía trước là thời gian, và bức tượng được mang tên "thời gian". [Lược trích, The Time, Vĩnh Thăng, The Writers Post, July 1999]

 

ĐẾN VỚI CĂN NHÀ MƠ ƯỚC

      Những lần tới nhà Nguyên Khai, thường là cùng đi với vợ chồng Đổ Hoàng, bạn đồng môn Y khoa, nhưng Đường Thiện Đồng lại là bạn từ thời để chỏm với Bửu Khải với những ngày thơ ấu nơi trường tiểu học bên phủ Gia Hội. Nhà Đổ Hoàng có bộ sưu tập khá nhiều tranh Nguyên Khai và tôi vẫn gọi đùa đó là một Nguyên Khai's mini-museum. Tôi thì quen Nguyên Khai vào thập niên 60 có lẽ cùng thời với người bạn Tấm Cám Nghiêu Đề.

 

      Nơi phòng khách, nhà trên để Lan Phương - chị Nguyên Khai và cũng là bà Tú Xương thời hiện đại tiếp bạn. Riêng tôi mỗi lần tới Nguyên Khai thì lại thích xuống thăm xưởng vẽ của anh. Gọi là xưởng vẽ chứ đó chỉ là một garage nhỏ, thiếu ánh sáng và ban ngày làm việc đôi khi cũng phải cần có thêm vài ngọn đèn.

 

      Nguyễn Đình Toàn cũng phải ngạc nhiên viết: "Đối với con mắt bình thường, người ta không khỏi thắc mắc tự hỏi, làm thế nào có thể vẽ trong điều kiện như vậy?"

 

      Tranh Nguyên Khai không chỉ đẹp mà ở một số bức còn mang nét man mác buồn của tình hoài hương / Nostalgia. Cho dù đang đi giữa những toà nhà chọc trời của New York, Nguyên Khai vẫn nhìn thấy đâu đó ẩn hiện một nóc Nhà thờ Đức Bà của Sài Gòn trong trí tưởng ngày nào. [Cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York 2009] 

 

 

nk 7

 

Hình 7_ Trong garage, một bức tranh dở dang còn treo trên giá vẽ

 

      Nếu nhà trên ngăn nắp bao nhiêu, thì nơi đây trong xưởng vẽ chỉ có ngổn ngang những khung tranh, ống màu và các cây cọ hoặc còn ướt hay đã khô cứng còn vấy màu lem luốc; tất cả như không chừa chỗ cho có một lối đi. Rồi cả chồng những bức tranh cũ mới xếp bên nhau. Có những bức đã xem, có đôi bức tranh mới, và cả một bức tranh dở dang còn đứng trên giá vẽ.

 

       Nguyên Khai thì bao giờ cũng thú vị khi nói về bức tranh đang hình thành. Ý niệm của bước kết thúc ra sao, có thể còn có những bất ngờ đẹp hơn mà có lẽ người hoạ sĩ cũng chưa được biết rõ. Tình cờ trong hội hoạ có lẽ cũng thú vị như sự đột biến trong các bước cấu trúc của một tác phẩm văn chương.

 

 

 nk 8

Hình 8_ Tình hoài hương trong tranh Nguyên Khai:

"cũng có Nhà thờ Đức Bà ở New York" 2009

 

      Sau garage tranh ấy là khu vườn nhỏ, một khoảng không gian yên tĩnh khác mà tôi muốn lui tới. Diện tích mảnh vườn rất nhỏ thôi, ngoài mấy chậu Bonsai do chính tay Nguyên Khai chăm sóc cắt tỉa, khoảnh đất còn lại có đủ hoa trái bốn mùa: ổi, hồng dòn, cam chanh bưởi, một dàn lựu đỏ trĩu trái bên tường và rất hiếm là có cả một cây khế chua sai trái. Cũng phải tin là Nguyên Khai có tay trồng cây; cũng cây ấy trồng ở một nơi khác nhiều năm không ra trái, nhưng khi đưa về đây, chỉ năm sau cây trái đã lại xum xuê.

 

      Được xem tranh, ngắm mấy cụm Bonsai, và màu sắc cây trái thật sự là những phút thư giãn. Trời đổ tối, bước vào nhà bao giờ cũng là bữa ăn ngon, khi ra về không bao giờ tay không, nếu không là một túi cây trái tự hái, thì cũng là một gói xôi vò - món thuần bắc, chắc chắn không phải là do "Mệ Bửu Khải" trổ tài nội trợ.   

 

 nk 9

Hình 9_ Tranh số 24 Nguyên Khai 1967, mới tìm thấy trong sưu tập

của một gallery ở Arizona

 

 nk 10

Hình 10_ Tranh Ngựa Nguyên Khai 1993

 

 nk 11

Hình 11_ Hoàng Thành, tranh Sơn Mài Nguyên Khai 1987

 

 nk 12

Hình 12_ Chim và Nguyệt Thực, tranh sơn mài Nguyên Khai 1987

 

 

 

nk 14 

Hình 14_ Từ trái: Trà Sớm Trà Muộn, tranh tĩnh vật Nguyên Khai 2001,

với bộ đồ trà của mẹ, tưởng nhớ ngày mẹ mất

 

 hinh 13

Hình 13_ "Thời hiện đại và computer" 1992, "Mạch Dẫn" 1995

chất liệu hỗn hợp / mixed media

 

 HINH 17

Hình 17_ Nụ cười Đức Phật 2006, phù điêu / bas-relief Nguyên Khai:

 [sưu tập Đổ Hoàng, Newport Beach]

 

 hinh 15

Hình 15_ Nguyệt Thực Nguyên Khai 2016 trong cuộc triển lãm

55 Năm Hội Hoạ Nguyên Khai 1961-2016

 

 

 hinh 18 a

Hình 18a_ Cuộc triển lãm cuối cùng của "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" tại Sài Gòn trước 1975; từ trái: Đinh Cường, Mai Chửng, Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyên Khai, Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Nguyễn Đồng

[tư liệu Hội Hoạ Sĩ Trẻ]

 

hinh 18b

 

Hình 18b_ Từ Saigon 1975 tới Houston 2005, bảy thành viên "Hội Hoạ Sĩ Trẻ" hội ngộ 30 năm sau; từ trái: Đinh Cường, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung

 

 

hinh 19a 

Hình 19a_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016: từ phải Nguyên Khai

và Ngô Thế Vinh

 

hinh 19b

 

Hình 19b_ Triển Lãm tranh Nguyên Khai 2016

từ trái: vợ chồng Nguyên Khai Lan Phương, Ngô Thế Vinh và Trịnh Cung

 

MỘT NÉT VĂN HOÁ LITTLE SAIGON

      Gia đình Nguyên Khai từ nhiều năm sống êm ả trong một căn nhà nhỏ nơi vùng Tustin. Khi lần đầu tiên tới thăm, Trịnh Cung đã thốt lên: đó là căn nhà của mơ ước.

 

 hinh 20

Hình 20_ Trái: nghệ thuật Bonsai Nguyên Khai

Phải: vẽ bằng men sứ trên bình trà hai vòi

 

 hinh 21

HÌNH 21_ Đầu tường lựu đỏ, hồng, khế, bưởi, ổi...

bốn mùa cây trái trong vườn nhà Nguyên Khai

 

      Nhớ lại khi Mai Thảo vừa mất, Đỗ Ngọc Yến có ý tưởng lập một giải văn chương Mai Thảo. Tôi nói với Yến, trước khi nói tới một giải văn chương mang tên Mai Thảo, việc nên làm ngay là giữ lại chiếc bàn viết lữ thứ của anh ấy, như một nét văn hoá của Little Saigon. Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của Mai Thảo trên đất Mỹ. Chỉ là một căn phòng rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn, một kệ sách, và trên vách là tấm hình Mai Thảo ngồi với Vũ Hoàng Chương trên bậc thềm nhà. Nhưng rồi cả không gian sống của Mai Thảo, cuối cùng chỉ đủ xếp vào hai chiếc thùng giấy. Và đã không còn đâu dấu vết chiếc bàn viết lữ thứ của một nhà văn lưu vong có tên Mai Thảo.

 

      Người Việt phiêu bạt từ khắp năm châu, khi hành hương tới thủ đô tỵ nạn không lẽ chỉ để thấy một khu Phước Lộc Thọ, chỉ có một tiệm sách Văn Khoa thì nay cũng không còn nữa. Một người bạn cùng gia đình và đàn con thế hệ thứ hai đến từ xứ tuyết Toronto, nhận định là tới Little Saigon không lẽ chỉ để dẫn chúng nó vào những tiệm phở, ngắm bảng hiệu mấy văn phòng bác sĩ hay luật sư. Anh ấy muốn nói tới một Công Viên Văn Hoá Việt Nam.

 

      Mong ước, rồi ra ngoài một Gallery Nguyên Khai trên không gian ảo www.nguyenkhaiart.com, căn nhà nhỏ mơ ước của Nguyên Khai - chữ của Trịnh Cung, nơi thị trấn Tustin, Orange County California và một số tranh tượng ấy sẽ được giữ lại như thêm một nét văn hoá Việt nơi thủ đô tỵ nạn của một thế hệ di dân thứ nhất. 

 

 

NGÔ THẾ VINH

Tustin, California 10.06.2016

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1037)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1121)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1811)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5833)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5814)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13168)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30048)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81148)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20225)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 153)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối