- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,447,888

BỐN BÀI THƠ KHÓC PHÙNG NGUYỄN

23 Tháng Mười Một 201512:50 CH(Xem: 11878)
PHUNG NGUYEN 2015
Nhà văn Phùng Nguyễn (1950-2015)


 

1. PHÙNG NGUYỄN, CON ĐƯỜNG

 

Ở cuối con đường đau khổ

Sẽ có một cánh cửa

Bạn đứng chờ ta

Một trong hai cánh cửa

 

Giữa lằn ranh đời sống này, đời sống kia

Mọi chuyện qua mau

Không ai đứng lâu

Chờ người khác tới

 

Mọi chuyện không dễ dàng, cũng chẳng khó khăn

Mọi chuyện không vui, nhưng không buồn

Một trái tim đập hẫng một nhịp

Thế thôi, một nhịp nữa, ở giữa hai nhịp đập, im lặng hoàn toàn

Như khi bạn đứng cuối hành lang, sâu hút, đen

Một người chạm tay lên vai

 

Mọi chuyện không dễ dàng

Nhưng khi bạn bước qua, cánh cửa sẽ mở ra

Và sập lại ngay, tích tắc

Hành lý bạn được gởi xong

 

Bạn lên một toa tàu

Giữa tiếng động ồn ào, cầm tấm vé

Trên tay, đập như cánh bướm

Bạn chăm chú tìm số ghế, không ngẩng đầu lên

Tìm mãi

Không thấy bên kia đường, bên kia sân ga, cuối đường hầm

Những người đưa tiễn bạn vẫy khăn

 

Một người trong số ấy sẽ ra về

Đèn lên, đêm mênh mông

Đó chính là người bạn đi tìm, suốt đời, ngày nọ ngày kia, vòng vèo bất tuyệt

Trong tay cầm tấm vé khác

Dành cho bạn, đã bấm lỗ xong, hình trăng khuyết

 

2. CÁI CHẾT ĐẾN KHÔNG ĐÚNG LÚC

 

Cái chết đến không đúng lúc

Như khi mở một con trai

Viên ngọc chưa thành

 

Bạn đóng sập lại

Thả xuống nước, sâu trăm mét

Mong mọi chuyện tiếp tục

 

Nhưng thời gian là cái chết

Được giữ kín trong ngọc trai

Có thể đông cứng lại

 

Thế mà bạn mở ra rồi

Thời gian sẽ làm bạn khóc

Vì sức nặng của hàng ngàn hàng vạn tấn nước

 

3. HÃY NHÌN THẬT LÂU

 

Hãy nhìn thật lâu

Những hàng chữ này

Từ giữa những hàng chữ

Tôi đang nhìn thấy bạn

 

Như khi đi trên đường

Bạn dán mặt vào tấm gương

Ngắm áo quần, trang sức

Những mannequin đưa mắt nhìn trở lại

Tay buông thõng xuống

 

Ước một lần được yêu

 

Nhưng chúng im lặng quá lâu

Làm bạn sợ hãi

Đừng bỏ đi

Đó là cái nhìn sau cùng trước cuộc chia ly

 

Đừng thở mạnh

Một lớp sương mù khi trời giá lạnh

Sẽ vĩnh hằng ngăn cách chúng ta

 

4. TIẾNG ĐỘNG CỦA MÙA HÈ

 

Ba ngày sau khi anh mất

Tôi tìm được chiếc vỏ sò trong vườn

Nửa trắng nửa vàng

Anh đã cầm lên, buông xuống, cầm lên lại

Sóng biển đánh rơi khi bơi về phương Nam

 

Trong buổi chiều chúng ta tranh cãi

Và uống bia hăng hái ngoài trời

 

Lấp loáng như mặt trời nhỏ

Khi chúng ta đi qua bờ biển

Tôi cầm nó suốt buổi chiều

Nhét trong túi rồi lấy ra coi

Đôi khi nó bay như một chiếc lông chim

 

Tôi đứng thật lâu bên cửa sổ

Cúi gập người, cầm chặt trong tay

Sợ nó rơi xuống, vì chúng ta từng rơi xuống

Khi một người đi đường nhìn lên ngạc nhiên

Tôi nhìn lại đăm đăm, không nói gì

Khiến hắn ta tiu nghỉu bỏ đi

 

Tôi bước trong vườn, cầm cho ấm rồi buông ra

Như khi bạn, có lỗi, hôn một người đàn bà, ôm chặt

Khiến cô ta nghẹt thở

 

Nhưng chưa tha thứ. Mỗi khi tôi cầm nó lên, một nửa sáng như gương

Nhìn thấy khuôn mặt anh trong ấy

Hơi bị cong, nhưng nụ cười vẫn còn nhìn thấy

 

Khi anh mang chiếc vỏ sò đi qua khu vườn buổi chiều

Mọi cánh cửa bừng sáng

Càng đóng chặt càng bừng sáng

Như tấm gương phản hồi hạnh phúc

 

Khi anh phà hơi ấm vào nó

Và đặt lên môi

Anh bảo nghe như một tiếng chuông

 

Bây giờ anh đã đi xa

Tiếng chuông vẫn còn vọng lại

Ngân u u u u u u u u u u u u u

Như một người đứng trong chuông

 

Trước giờ chú tiểu tới

Gióng hồi chuông sớm mai

 

Nguyễn Đức Tùng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1983)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5871)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2954)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 470)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 459)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 503)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 699)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 501)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 471)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /
14 Tháng Năm 20208:43 CH(Xem: 406)
Vẽ một đường mây trên vai áo / Ngó thấy bình minh giữa xế chiều / Bàn tay ai vẫy mùa dông bão / Đất ngữa nghiêng chìm theo gió reo.