- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,272

CHẾT VÌ TÌNH

18 Tháng Bảy 201511:10 CH(Xem: 15678)

 

                           

 Buon-anh Internet

 

Ruben là một danh họa bậc nhất ở Mexico, ông lại yêu say đắm Isabel, cô người mẫu của mình. Ấy vậy mà ngược lại, cô nàng lại tỏ ra tình tứ với tình địch của ông, gã này chẳng tiếng tăm gì cả.

Isabel vẫn hay gọi ông Ruben là “Churro” bé nhỏ của nàng. “Churro” vốn là tên một loại bánh ngọt, mà cũng là tên thường gọi của người Mễ cho những chú chó con nuôi trong nhà. Ruben lại cho đó là một cái tên gọi tuyệt vời. Bởi thế cho nên hễ có ai đến thăm nơi ông vẽ, ông lại hí hửng khoe: “Ấy, nàng lại sắp gọi tôi “Churro” đấy”. Mỗi khi ông cười, chiếc áo lót như muốn bật tung ra, bởi lẽ ông càng ngày càng béo ra.

Trái lại, Isabel cao và mảnh mai hết sức. Mỗi lần Ruben mang về cho cô một bó hoa, cô lại dùng ngón tay dài của mình và liếng thoắng ngắt vụn những cánh hoa rồi rải khắp nơi, hoặc cô nàng dùng ngón tay quẹt sơn lên đầu mũi Ruben rồi kêu to lên để giễu cợt. Người ta còn thấy cả khi cô giật tóc, kéo tai ông chả thương tiếc gì.

Mỗi khi dân làng nghiêm trang rước hội trên những con đường nhỏ hẹp, gập ghềnh, cẩn thận tránh qua những vũng bùn lầy lội, cô lại kêu lên giễu cợt: “Kia kìa, trông họ đến như lũ cừu”,

chả đếm xỉa gì đến ánh mắt họ, nhất là khi họ cố bước lên những bậc thềm ọp ẹp để được thoáng nhìn vị chủ lễ.

Thường thì cô nàng chán ngán công việc của mình, bởi cô cứ phải đứng suốt ngày, khi phải bới tóc lên rồi lại rũ tóc xuống để ông Ruben phác họa, làm việc liên miên đến trễ cả bữa ăn. Tuy thế, cô chẳng biết đi đâu mãi cho đến sau này khi gặp được người yêu của cô, là đối thủ của Ruben bán được một bức tranh. Ai cũng nói ông Ruben sẽ giết tại chỗ bất cứ ai rấp ranh cưỡm đi nàng Isabel của ông. Còn bây giờ Isabel vẫn cứ phải ở đây, để ông vẽ mười tám bức họa treo tường khác nhau của cô cho người ta, cô vẫn cứ lắm khi nấu nướng cho ông, hoặc rồi gây sự, cãi vã với ông, hoặc trêu ngươi, chọc tức khách hàng nào mà cô không ưa. Ấy vậy mà ông Ruben lại mê cô, tưng tiu cô vô cùng.

Ông Ruben vừa bắt đầu vẽ bức họa thứ mười chín của Isabel thì kẻ đối thủ của ông bán được bức tranh thật lớn cho một ông nhà giàu. Người trang trí nội thất của ông nhà giàu này bảo với ông ta rằng ông cần phải có một tấm tranh có màu xanh và cam để treo trên một bức tường của ngôi nhà mới. Do một sự ngẫu nhiên đến tuyệt hão, bức tranh này pha màu xanh và cam sắc sảo và to lớn, ông nhà giàu trả giá cho bức tranh với giá cao cực kỳ, rất vui vẻ mua bức tranh như bắt được vàng. Ông ta giải thích rằng nếu phải phủ các bức tường nhà bằng tranh vải lựa thì ông phải mất gấp sáu lần tiền. Tên tình địch của ông Ruben rất vui mừng. Thế là ngày hôm sau gã và Isabel đi thẳng đến Costa Rica. Thế là xong!

Ông Ruben đọc bức thư từ biệt của Isabel viết cho ông:

 

“Hỡi Churro già nua và khốn khổ của tôi ơi, cuộc đời của ông thật là buồn chán đến tội nghiệp thế nên tôi không thể sống với ông thêm được nữa đâu, tôi sẽ đi theo người khác. Được cái là người này chẳng bao giờ bắt tôi nấu ăn. Anh ấy sẽ vẽ tới năm mươi bức họa của tôi, chứ không phải chỉ có hai mươi bức như ông đâu. Tôi sẽ đi hài đỏ, đời tôi sẽ tươi sáng đến tận cõi lòng.

                                                                                                        Ngưòi bạn cũ của ông.

                                                                                                                   Isabel

Đọc xong lá thư, ông Ruben chới với như người sắp đuối, ông như ngạt thở, tay ông quay quắt điên cuồng. Thế rồi ông tu cạn một chai lớnTequila chẳng cần chanh, muối gì cả và rồi nằm vật ra sàn nhà, đầu bê bết trên mảng sơn mới pha. Ông khóc rống lên như cha chết.

Kể từ đó, ông như một người khác hoàn toàn. Nói chuyện gì ông cũng quàng Isabel vào được, nào là nét mặt thiên thần của cô, những vui đùa nghịch ngợm rất dễ thương của cô: “Cô ấy hay

nghịch đá vào ống quyễn của tôi, có khi bầm tím cả lên”, ông kể với giọng trìu mến, chứa chan nước mắt. Ông vừa ăn thứ bánh ngọt xưa cạnh giá vẽ vừa nói, vưà ngắm nghía miếng bánh trước khi cho vào miệng: “Đấy, cô vẫn thường gọi tên tôi Churro! Churro nghe ngọt như miếng bánh này đây.

Bạn bè ông thấy Isabel bỏ đi thì lại mừng, xầm xì với nhau rằng ông Ruben thật phúc đức khi dứt được con ác phụ. Bọn họ phân công nhau, nâng đỡ giúp ông quên cô nàng ấy đi. Ấy nhưng Ruben không dễ gì lay chuyển. Ông vừa nói vừa lắc đầu ngoày ngoạy: “Chẳng có cô nàng nào sánh với cô ấy được. Cô ấy ra đi mang đi cả cuộc đời tôi rồi, thậm chí tôi không còn hồn vía để hận sầu! Nói cho các anh biết, muốn gọi Isabel là kẻ sát nhân cũng được, bởi vì cô đã bóp nát trái tim tôi!”.

Ông lúc thì bồn chồn đi lại trong phòng vẽ, đá tung đôi giày dưới chân vào đống tranh vẽ đã bám bụi đầy, lúc thì vừa mài mực vừa lẩm bẩm đau buồn: “Tất cả những thứ này lúc trước cô ấy đều làm cho tôi cả, thật khéo léo làm sao!” Ông cứ đến gần bên cửa sổ, ăn bánh ngọt và trái cây mãi miết thôi.

Bạn bè bèn cùng nhau mời ông ra ngoài ăn tối, ông ta chỉ ngồi lặng lẽ ăn đủ hết mọi thứ và nốc rượu ngọt thôi. Rồi ông lại bắt đầu khóc, kể lể về Isabel.

Bạn bè bắt đầu thấy Ruben xuẫn ngốc quá, Isabel đã bỏ đi sáu tháng rồi, thế mà ông chả buồn đụng tới bức họa thứ mười chín, nói chi đến bức thứ hai mươi. Vẽ vời chẳng đi tới đâu!

Ông bạn Ramon, chuyên vẽ biếm họa và ảnh gái đẹp cho các tạp chí, bảo với Ruben rằng: “Ông bạn quý của tôi ơi, tôi chỉ là một họa sĩ tầm thường, nhưng tôi cũng biết đàn bà làm hư hỏng cánh đàn ông chúng ta như thế nào. Này nhé, khi con ả Trinidad bỏ tôi đi, tôi cũng như chết theo, ăn không ngon, làm chẳng thiết, ai nói gì mặc ai. Tôi tưởng rằng tôi tiêu đời rồi. Nhưng chỉ một tuần hà! Ông bạn thân của tôi ơi, hãy gượng dậy đi, hoàn thành bức họa để đời vì nhân thế, vì tương lai. Hãy cảm ơn Thượng Đế đã đẩy Isabel ra khỏi đời ông.”

Ruben lắc đầu, ngã gục xuống trường kỷ, khóc rống lên:

-Nỗi đau trong tim này sẽ giết chết tôi. Không một người phụ nữ nào được như thế cả

Ông ngã người ra sau, tháo thắt lưng ra rồi nói:

-Tôi sẽ ngồi nơi đây mãi, chẳng thể động đậy gì được nữa rồi, sức lực đã cạn kiệt theo rồi.

Thế là ngày tháng cứ trôi qua, những lớp mỡ ù lì cứ tầng tích lên con người ông. Có lúc ông chẳng còn nhận ra được chính mình.

Nhà biếm họa Ramon cho các bạn khác xem bức họa ông vẽ Ruben:

-Tớ thề là tớ vẽ lão ta bằng com-pa đấy nhé, trông cứ tròn vành vạnh ra thì đến chết mất.

Thế nhưng Ruben cứ thừ người ra đấy, ăn uống bất cần trong đơn côi, khóc than và tu rượu đến tận đêm khuya.

Bạn bè Ruben bàn tán với nhau và đi đến kết luận rằng câu chuyện đã đến lúc tuyệt vọng! Phải có một người đứng ra bảo cho ông biết nguồn cơn thật sự của nỗi đau này. Thế nhưng người này cứ đùn đẫy người kia, bởi vì thực ra chẳng có ai, đến cả xứ Mexico này đi nữa, đủ tài năng bản lãnh để làm việc đó.

Sau cùng trách nhiệm đó đã chạy qua vai một người y sĩ gánh lấy. Ông là đốc-tờ của một trường Đại học y. Trong đầu óc của vị này chắc hẳn là sự kết hợp tuyệt vời giữa sự xét đoán và kiến thức đến mức tuyệt hảo, vừa khéo miệng lại khéo trí, một công việc quá tuyệt vời, thế là xong.

Vị Bác sĩ tìm đến ông Ruben.

Ruben đang ngồi trước giá vẽ nửa phần mặt của Isabel chưa vẽ xong, bức họa thứ mười chín, ông vừa khóc vừa vốc những muỗng dầy cheese Toluca. Chung quanh ghế ngồi của ông xâu đầy những thứ này cùng những lát xoài cắt sẵn.

Trước hết Ruben kể lể với vị bác sĩ về Isabel:

-Ông bạn ơi, tôi bảo đảm với ông bạn một cách thật tình rằng ngay cả tôi cũng không thể nào vẽ được những đường nét tuyệt vời ở thân hình cô ta, ấy là chưa kể đến vẻ thánh thiện như thiên thần ở nơi cô.

Ruben bảo với vị y sĩ rằng nỗi đau trong lòng ông sẽ giết chết ông thôi! Trước tình cảnh này vị y sĩ thấy xúc động vô cùng. Ông ta ngồi chỉ biết an ủi bệnh nhân một hồi lâu mà chẳng biết viết một toa thưốc cụ thể nào cho người bệnh nhân quá mẩn cảm này. Và rồi cầm trong tay toa thuốc ông nói:

-Tôi chỉ có vài món thuốc thô thiển này thôi, nhưng đều là những thứ tinh tuý của cuộc đời để giúp ông chữa trị vết thương lòng.

Vị y sĩ kể ra từng thứ một, gọn ghẽ đến chẳng gây ấn tượng chi cả:

-Ăn uống cân bằng, bách bộ ngoài trời thoáng, tập thể dục nhiều và thường xuyên, tốt nhất là tập xà chéo, tắm tuyết và kiêng rượu.

Ruben như không nghe thấy vị y sĩ nói, lẩm bẩm nói những câu vô tâm vô trí: “ Khi đêm về nỗi đau không thể nào chịu đựng được, tôi lặng nằm đơn côi trên giường, đắm nhìn khoảng không gian qua khung cửa sổ nhỏ và tôi tự nhủ rằng, rồi đây huyệt mộ của mỉnh sẽ còn nhỏ hơn khung cửa, và tối đen hơn cả bầu trời đó! Trái tim tôi sẽ quắt queo. Ôi trời, nàng Isabel ơi, em đã hành quyết anh rồi!”

Vị y sĩ khẽ khàng rời khỏi, để lại ông Ruben ngồi đó nhai cheese ngắm nhìn ướt lệ bức họa thứ mười chín của Isabel.

Bạn bè ngày càng tuyệt vọng và chán ngán ông, họ rời xa ông ngày càng xa. Ông càng cô đơn. Có khi đến mấy tuần lễ liền chẳng ai gặp ông, ngoại trừ ông chủ tiệm cà-phê, nơi ông thường ăn tối với Isabel. Còn bây giờ ông chỉ ghé qua đó mua thức ăn.

Rồi một đêm kia, đột nhiên ông ôm chắc ngực đứng bật dậy, làm rơi cả dĩa thức ăn đang ăn dỡ. Ông chủ tiệm chạy tới, Ruben thều thào gấp gáp với ông điều gì đó, tay đưa qua đầu. Rồi ông nhẹ nhàng ra đi vĩnh viễn.

Ngày hôm sau bạn bè ông Ruben vội tới gặp ông chủ nhà, ông này thề là kể lại cho họ nghe tấn bi kịch đậm màu sắc đau thương này. Ramon sau đó còn gom góp tài liệu để viết tiểu sử thật lâm ly cho một danh họa bậc nhất của nước nhà, được minh họa bằng nhiều bức tự họa của ông.

Người ta dành tặng cho Ruben những ngôn từ :” Người Bạn và Người Thầy, một Thiên Tài hội họa làm say đắm lòng người không có gì so sánh được trên lục địa Châu Mỹ này”

Ramon cứ nài nĩ ông chủ nhà: “Thế ông ta đã nói với ông điều gì, ở giây phút chấn động đó. Quan trọng nhất đấy, những lời sau cùng của một nhà danh họa, ắt hẳn là sâu sắc, ấn tượng lắm đấy, ông bạn hãy lập lại cho chính xác nhé. Nó sẽ tỏa hào quang vào tiểu sử Ruben, mà không, nó vào chính lịch sử của nền hội họa, nếu đúng thực là những lời sâu sắc.”

Với vẻ thấu hiểu mọi thứ, ông chủ nhà gật đầu nói:

-Biết mà, biết mà! Nói Ngài không tin chứ những lời sau cùng của ông ấy thực sự làm thăng hoa mọi thứ cho ngài và các bạn bè trung thành và tốt bụng của ông ấy, cả thế giới nữa!

Quý ngài hỡi, ông ấy nói như vầy:

-Nói với họ rằng ta là kẻ tử đạo cho tình yêu, ta chết đi cho sự hy sinh cao thượng, ta chết đi vì cõi lòng này tan nát.

Rồi ông ấy còn bảo: “Isabel hỡi, nàng là đao tể của tội đồ này!”

Ông chủ nhà kết luận:

-Thế đấy các ngài ạ

Nói xong ông ta kính cẩn cúi đầu. Những người khác cũng cúi đầu theo.

Sau một khoảnh khắc lặng im, Ramon nói:

-Quả là tuyệt vời! Cảm ơn ông. Đúng là một điếu từ tuyệt hảo, tôi lấy làm hả dạ.

Bằng một giọng nhỏ nhẹ, ông chủ nhà còn thêm:

-Ông ấy rất thích món ăn tối hôm đó tôi làm. Đó là món thịt bầm, bữa cuối cùng của tôi cho ông ấy!

Ramon kêu lên:

-Đừng lo, tôi sẽ thêm vào tình tiết ấy kể cả tên tiệm cà-phê của ông . Nó sẽ là huyệt mộ danh tiếng cho giới hội họa khi kể chuyện này ra. Tin tôi đi, từng chi tiết nhỏ nhất về cuộc đời và tính cách của nhà thiên tài này sẽ lưu lại cho đời sau. Mỗi hồi trích sẽ có sắc thái riêng của nó, rất thiêng liêng, quý giá và đặc sắc. Thật vậy, cả món thịt bằm tamales của ông nữa!

 

Nguyên tác: The Martyr

Trong tập: The Collected  Stories of  Katherine Anne Porter

Chuyển ngữ:  TUYẾT  LINH

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1095)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1165)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1846)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5881)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5858)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13189)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30089)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 544)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối