- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HẢI HẠC

13 Tháng Năm 20153:53 SA(Xem: 58262)


Hai hac 1

Ông Tổ nghề

 

Đám đông đã chia thành hai phe và tranh cãi rất quyết liệt. Cuộc tranh cãi có khi đổ máu đã kéo dài suốt 40 năm. Sự tranh cãi ấy bắt đầu từ những thứ tài sản cướp được của những người chạy trốn. Đôi lúc, qua những khe cửa rất nhỏ từ xa, có những ánh mắt nhìn về phía họ mà sợ hãi. “Lạy trời, lạy thánh, cho chúng ôm hết về mà im tiếng ngay đi”. Đó là bọn đĩ điếm và quân ăn cướp. Chúng đang giành giật nhau cái bức tượng màu trắng bạch kia là ông Tổ nghề của chúng. Có ông, chúng mới mang lại cái may mắn làm nghề được. Cuộc tranh cãi không ai nhường nhịn ai, nhưng đã đến lúc phải khánh thành bức tượng cho đúng ngày lễ trọng đại của dân chúng. Vậy nên về sau, chúng đều tôn xưng cụ Tổ là Tổ chung của cả hai nghề.

 Dù sao thì điếm và ăn trộm cũng là đồng minh của nhau. Cụ Tổ sẽ bảo kê cho chúng cả. Ngày xưa, cụ đã phò trợ con cháu khai mỏ để đúc tiền, nấu nước biển làm muối đều có lợi chung cho thiên hạ. Cụ đã lập ra rất nhiều nhà thổ để chứa nhan sắc để dành đấy mà chờ lấy lãi từ sự ban ân sủng của bọn vua quan hay thương buôn. Chúng tụ họp lại mua vui thì chúng được lãi nhiều. Còn bọn người nhan sắc ấy vừa có tiền lại vừa nộp thuế làm lợi cho ngân khố chung. Còn những kẻ trộm thì dùng những bàn tay thần kỳ để khoắn sạch ngân khố ấy một cách nhanh và gọn, không để lại dấu vết. Chúng lập ra thật nhiều hội thảo để bán mua để được thật nhiều tiền thuế vào ngân khố chung. Cứ thế việc bán mua diễn ra rất sôi động, đủ các mặt hàng không sót một thứ gì: phân trẻ con, son phấn, nữ trang, vàng bạc, ngoại tệ, đất đai, huân chương huy chương, bằng cấp, và cả những chiếc bằng vàng đến ghế đã gãy. Chúng còn bày ra những phiên chợ bán cả nội tạng người sống. Chung quy là những đồng tiền ấy đã quay từng vòng tròn và rơi dần dần trong túi của bọn chúng cả, như trò xay nghiền bột ở cái cối đá. Như vậy, cụ Tổ đã mang lại nhiều phúc lành cho chúng lắm.

Bức tượng đã hoàn thiện những khâu cuối cùng khi đã tô son môi và sơn xong bộ móng tay màu đỏ choét. Sáng hôm ấy, chúng móc ông cụ vào một cái cẩu rồi đặt trên một chiếc thùng xe tải lớn. “Ông quá nặng, quả là hết sức nặng”, đám đông trầm trồ. Ông được chở đến đặt trên chiếc bệ ở một công viên rất rộng lớn. Ông đứng đấy, nét mặt rất uy nghiêm, theo cái nhìn rất uy nghiêm rất riêng của bọn chúng. Chúng không ngớt tấm tắc khen và vuốt ve:

 “ Nhìn cụ Tổ như thần Ác, rất đẹp”

“ Nhìn như đao phủ chứ, thế này mới đạt chuẩn”

“ Như thần Bạch Mi ấy nhỉ”

“ Cụ tập Gym thật là siêng năng, bắp tay kìa, cứ cuồn cuộn”

Cứ đến mồng một, ngày rằm thì bọn gái điếm thì đều lấy khăn tay lau mồ hôi lau qua mặt cụ Tổ một lượt. Rằng như vậy thì khách sẽ lưu luyến lắm. Còn bọn trộm thì thắp hương khấn vái vào những kỳ thi lên cấp. Cứ đến mỗi kỳ, chúng phải thi thố thể hiện đẳng cấp của mình. Chúng được huấn luyện ngón nghề rất công phu: hành thích (ám sát), hành tẩu (bỏ chạy), hành ẩn (ẩn trốn), hành quy (hóa thân) và hành phục (nhập vai). Luật lệ của bọn chúng rất nghiêm ngặt và phức tạp: chỉ được truyền nghề cho con cháu ruột và dâu rể trong ngày mồng một và ngày rằm. Trong lần ấy, chúng được uống tiết gà sống và theo chân sư phụ trong ngày đầu tiên. Các môn sinh phải thực hiện thành công 99 vụ trộm trót lọt thì sẽ đạt cấp “ Phong” lên một chức khác cao hơn: cấp “Hỏa”. Đạt cấp "Hỏa" xem như gã học trò được giữ chức "trợ lý ăn trộm" và có quyền lập bàn thờ tổ và nhận đệ tử. Rồi cứ thế chúng thi nhau tập luyện để đạt các cấp cao hơn: Sơn, Thủy, Thổ, Mộc. Kẻ nào kém cỏi thì bị đánh rớt cho làm ăn mày nên chúng cố tìm mọi cách để thoát thân kể cả độn thổ hay bán rẻ người thân của chúng. Tháng tư năm nay trời nắng nóng rất sớm, cảnh buôn bán vẫn rất tấp nập. Những gương mặt nhan sắc được trát phấn thật dày đon đả chào thưa. Mồ hôi chảy nhễ nhại, những khuôn mặt phấn loang lổ màu trắng đen. Mùi nước hoa, mùi người, mùi mồ hôi…quyện vào nhau làm con người ta phấn khích dữ lắm. Người ta tổ chức cả lễ diễu hành rầm rộ ngoài phố với những chiếc xe rác mang cái đầu voi làm bằng giấy bồi được phủ lên những miếng vải màu mè đỏ xanh vàng rất rực rỡ. Người ta tổ chức rước kiệu những nhan sắc của nghề điếm. Hai cô gái mặt hoa được điểm trang thật kỹ lưỡng ngồi trên những chiếc xe ấy và đi giữa phố, chúng còn được che cả lọng vàng được cắt dán tỉ mỉ của những tay hàng mã lành nghề. Ngập tiếng tung hô. Năm nay chúng ăn mừng thật lớn. Những gương mặt gân guốc với những ánh mắt như lưỡi lê cứ ngước lên trên. Súng và gươm đao phủ khắp lối ngõ. Bọn kẻ trộm với đầy đủ sắc phong được ngồi chễm chệ ở hàng ghế phía trên. Chúng tụ hội về đây rất đông. Chúng bắt tay nhau, ôm hôn thắm thiết trước ống kính truyền hình. Tình cảm hay đang dò xét ánh mắt của nhau mà tính nước giành giật những cái ghế của cụ Tổ.

 Bên dưới, đám đệ tử đang duyệt binh, chúng đi hai bước thụt lùi ba bước rất điệu nghệ. Lũ ăn mày đang lếch thếch đứng hai bên đường nhìn chúng rất thán phục.

Có rất nhiều sư phụ đã đến dự, ngực đeo đầy huân chương. Họ được ngồi ở bục bên trên dành cho những người từng mang chức sắc. Họ đã từng đã truyền nghề cho chúng nay đã giải nghệ vì tuổi gà sức yếu nhìn lũ trâu ăn phè phỡn mà ứa cả ruột gan. Chúng không hề biết chia chát mà còn vơ vét đến nỗi các cụ không có những lộc rơi lộc vãi nào cả.

 Bên dưới, đám dân đen hò reo ủng hộ rất nhiệt tình.

 Trưa, tắt nghẽn đường. Mọi thứ ùn ùn. Đói bụng. Chúng đạp lên nhau tìm đường về nhà.

Tối khuya, đám hậu duệ của chúng phóng xe bạt mạng, hoặc rung lắc trong những cái loa vặn to hết cỡ, hoặc chém nhau. Chúng đang ngáo đá.

Hàng ngày, hàng tuần, chúng lại rèn luyện và thi lên cấp. Những cuộc mua bán. Những lễ lạt. Những bức tượng. Những cái cổng chào. Những chiếc ghế. Những chiếc huân chương. Những con số. Những giải thưởng. Hoa hòe, lủng lẳng và cũng đầy phản trắc.

Bọn gái điếm lần lượt mặc vào và cởi ra những bộ váy áo liên tục trong ngày.

Bọn kẻ trộm lần lượt được sắc phong và đánh rớt. Lũ ăn mày kêu la đầy đường.

Bức tượng của cụ Tổ vẫn sừng sững vậy. Nghiêm trang. Vẫn đôi môi và bộ móng tay đỏ choét. Cụ càng ngày càng bị béo phì ra bởi con cháu cứ ép cụ phải ăn lộc liên tục. Cụ sắp đạt chuẩn của kỷ lục ghi nét thế giới.

Chúng rất tự hào. Chúng đúc tượng cụ có mặt khắp mọi nơi, trong nhà ngoài ngỏ. Thỉnh thoảng chúng lại sờ lên đầu cụ và khề khà: “ Cụ được lắm, chúng con cảm ơn công lao to lớn của cụ”.

Hải Hạc. 29.4.2015

 

Loài thú biến dị

Thời thế đã thay đổi - những con cá ngựa đang ngo ngoe trong cái chậu lớn. Chúng đang tiếc nuối về những móng vó và những bắp chân khỏe - sức dai -hí vang - phi nhanh. Tại thủ phủ ở xứ trầm hương, thành phố nằm dọc bờ biển người ta bày bán la liệt đủ mọi hình thức: sống, vừa chết còn tươi, khô và có cả dạng đã tán nghiền thành bột mịn. Ở những nhà hàng đặc sản người ta còn chưng cả loài cá ngựa chễm chệ trên danh sách thực đơn với các món chiên giòn, hấp cuộn rau sống hay chưng thuốc bắc...Bàn dân thiên hạ đã thi nhau ùa về rất đông đúc: quốc nội có, quốc ngoại có. Tất cả như đang chơi trò súc sắc cá ngựa trên cái mặt giấy nhỏ xíu. Chúng đua chen nhau về đích. Người ta đã gán cho thành phố có cái tên rất đặc biệt: " vương quốc cá ngựa". Người đua chen cùng với đủ vị của đồ ăn thức uống đầy men say mang thân xác biến dị của loài yên hùng thất thế. Nếu ai đó hỏi: " loài cá ngựa phơi khô hay còn sống thì tốt hơn?", người ta sẽ trả lời ngay lập tức: " tất nhiên là loài còn sống". Những con cá ngựa sẽ ngo ngoe như những tinh binh hùng mạnh. Chúng sẽ cho sinh ra những đứa con trai vạm vỡ, những bắp chân trùi trụi đen nhẻm như những đứa con trai của người dân xóm chài. Có những quý bà đến chợ, trên tay cầm theo một chai rượu đế hảo hạng, loại rượu đặc biệt nặng của làng Bàu Đá, bà cúi xuống cầm vợt bắt mấy cặp cá ngựa thật to, nhanh tay bắt lấy rồi thả nhanh vào chai rượu. Lũ cá ngựa ấy sẽ được uống rượu thật say mà đi vào cái chết một cách êm ái. Có ông còn máu hơn, mở cốp xe bưng ra bình rượu sung ngâm với bìm bịp và dăm bảy con tắc kè, ông vừa thả vào đó thêm mấy chục cặp hải mã - ông dặn trước chủ sạp chỉ lựa những con đực đang mang thai. Loài cá ngựa ở đây có đủ chủng loại: đầu ngắn, vằn, mõm dài, đen, gai…người ta tha hồ mà chọn lựa. Những đứa con trai từ đó sẽ được sinh ra đủ kiểu: đầu ngắn như lũ khỉ, mõm lợn dài như loài thú ăn kiến có bộ móng vuốc trước rất sắc nhọn – loài này có đôi tai vểnh lên như tai thỏ và đuôi của loài chuột khổng lồ có thân mình đầy những lớp vảy cứng, chúng mang một lớp giáp thật chắc chắn. Bọn chúng được xếp loại vào bộ thú thiếu răng, chúng nuốt chửng thức ăn rất nhanh và gọn. Điều kỳ lạ là những loài này chúng đã thay đổi khẩu vị từ khi chúng rời rừng xanh. Chúng không ăn mối mọt mà lại trở thành bạn của nhau. Cái gì chúng cũng có thể ăn được: bờ kênh, con mương, con sông, những hàng cây xanh tươi tốt, bê tông sắt thép gì cũng được chúng tiêu hóa sất. Chúng tiêu hóa cả những thi hài mang linh hồn của đất và biển. Chúng có loại ngôn ngữ rất đặc biệt: ngôn ngữ độc thoại.
- Chúng ta là loài biến dị hiếm có trên hành tinh này, để có được ngày hôm nay chúng ta đã phải đánh đổi thật nhiều thứ, chúng ta không cần tay chân và cơ bắp của loài người, chúng ta không cần trái tim của chúng, chúng ta có thể bơi để luồn lách rất nhanh, có thể tự mang thai và duy trì nòi giống– chúng nói với giọng rất tự hào.
- Thật quang vinh! – chúng tung hô – Loài chuột muôn năm ! Muôn năm!

Tiếng súc sắc của trò cá ngựa mỗi lúc một gần. Chúng reo reo. Nóng ruột.
Thực tế chúng là loài dễ bị thương tổn. Chỉ cần nghe thấy tiếng gió, chúng đã có cảm giác của sự bất an. Chúng luôn xù những lớp vảy cứng ra như loài nhím, vểnh đôi tai nghe ngóng như loài thỏ, và cái mũi luôn hít hít ngửi ngửi mọi thứ. Chúng như những con chuột chuyên nghiệp. Chúng đánh hơi và nhảy xồ tới tấp khi ai đó gọi tên thật của chúng hoặc chỉ là na ná. Chúng trấn an bằng máu, cái mùi máu của những con cá ngựa sặc rượu trong những chiếc thẩu kia.

*

Mấy chục năm sau.
Một cuộc hội thảo đã mở ra. Người ta quyết định khai quật lại hình hài của loài thú bị biến dị. Một loại gen kìa lạ được phát hiện. Ngay lập tức, chúng được đưa vào phục vụ cho một công trình nghiên cứu sinh học. Dưới kính hiển vi, những tế bào màu đỏ mang hình hài của loài cá ngựa bị đột biến gen. Chúng vẫn còn sống. Chúng đang há những cái mõm dài hít hít. Người ta đặt tên cho loài gen biến dị này là: loài sinh thể khát máu.
Xứ trầm hương vẫn đang nhộn nhịp, tiếng bán mua trả giá và từng cặp bọ ngựa được thả thẳng vào những thẩu rượu. Chúng đang có một giấc say dài để rơi vào cõi chết. Những tinh binh hùng hậu lại sinh ra những đứa con trai vạm vỡ và những bắp chân khỏe - sức dai -hí vang - phi nhanh. Chúng đang phi trong làn nước để kịp bắt lấy cái hình hài đã mất. Tiếng vó ngựa đâu đó vọng lại, tiếng răng rắc từ những chiếc nắp của những cái quan tài đang xếp hàng chờ xét nghiệm.
Kỳ lạ thật, người ta lại phát hiện chúng có những bộ xương y hệt một người đã quá cố hơn một trăm năm về trước, đặc biệt là cái hộp sọ ngắn hớt về phía sau như một loài tinh tinh. Chúng không còn nguyên trạng như trong trí nhớ hay nỗi ám ảnh kinh hoàng của rất nhiều người già còn sống kể lại.

 Hình như có tiếng súc sắc tan trong gió, tiếng ngựa từ xa vọng lại dưới lớp lá mục. Từng đụn mối ùn ùn bò ra. Lúc nhúc.

 

GIẤC NGỦ CỦA THIÊN LÔI

 

Thiên lôi đang nằm buồn bỗng nghe vọng lên từ phía trần gian nhiều tiếng xầm xì. Họ nói rỉ vào tai nhau. Ông ta bèn vận hết thần phép từ đôi tai để lắng nghe mà không thể nghe rõ được. Chả là thời gian gần đây dân chơi rượu rỉ tai nhau về công năng thần kỳ của một loại rượu có kèm "biệt dược" được gọi với cái tên rất mỹ miều ‘Tiên tửu’, nghĩa là càng uống vào càng được như tiên. Thiên lôi tò mò, một hôm cải trang thành một lão tiều phu ghé lại một buôn làng nhỏ dỏng tai nghe ngóng. Suốt một ngày mệt mỏi, lão mới biết được gốc tích của những loại biệt dược kia, đó là loại rượu ngâm cây thuốc rất đặc biệt. Đó là thần dược giảm đau và mang lại cảm giác phiêu bồng. Một điều đặc biệt là khi uống rượu này vào, con người ta thường có được thứ khoái vị như đang ở thiên đường. Tất cả như đang bay bổng, cả vũ trụ nhỏ bé nằm gọn trong đôi cánh. Chúng được bày bán khắp nơi, chỉ cần hỏi bất cứ quán ăn nào nơi đây là muốn mua bao nhiêu cũng có. Nhiều người rành rõi trong giới uống rượu cũng phải tấm tắc: “không có loại nào có thể so được với tiên tửu, chỉ có chúng mới làm mình nổi cơn điên”. Thế là rượu vào, từng cơn điên hứng chí vô cùng. Từng đám thanh niên rú xe ga lao vùn vụt giữa xa lộ, chỉ cần ai đó liếc mắt không thẳng cũng bị chúng rút dao bầu đâm xéo qua bụng lòi ruột giữa ban ngày.

“ Cho ta thử một ngụm xem sao”

Khà khà, một ngụm, hai ngụm...

“Rượu ngon, khà khà…”

Thiên Lôi nói rồi bước đi ngật ngưỡng. Lão đã uống hết sạch đến không còn đồng nào trong túi. Lão thấy mình đang bay, lão đang bay với sự nhẹ hẫng, không mất một chút sức lực để vận công cân đẩu vân.

“ Xã hội này loạn cả rồi, loạn thật rồi”- Mấy người mẹ lẩm bẩm, họ càm ràm những lời lí nhí trong miệng, họ sợ đám con trai mới lên lên của họ.

Thiên Lôi đang ngủ, lời nói của những người mẹ lọt vào tai, ông ta giật phắc dậy đi ngược hướng gió. Họ ở đâu thế nhỉ ?

“Lạy trời lạy Phật thánh có thiêng xin về chứng dám lòng thành…”, tiếng khấn rì rầm bay lên cùng với khói nhang trắng xóa. Tro bụi vàng mã bay mịt mù.

“ Một lũ u mê”. Lão sờ tay nải tìm chiếc búa, nó biến đâu mất, lão không nhớ lại được điều gì hôm qua cả. Lão đã ngủ, ngủ thật say, ai đó đã đánh cắp của lão.

“ Những cái đầu u mê, những bộ não bùn, chúng bay nhiệt thành quá vậy”, lão lẩm bẩm, một thời đại bi kịch, lão chẳng nhớ gì hôm qua. Lão chẳng biết đường nào mà lần để tìm chiếc búa. Lão thấy hình của chúng được người ta treo khắp nơi, rực đỏ. Chúng treo cao lên những nóc nhà, mái phố, hội trường, lớp học…Lão đã thấy chúng phần phật bay giữa quãng trường có ngôi mộ hình hộp, lão đã đến đấy xem, nhìn mặt gã này thật khả nghi, nhưng gã ta đã chết.

 

*

 

Sáng nay lão ghé ngang một đền thờ lớn. Người ta đi cúng lễ. Những bàn tay chắp lại lạy như bổ củi, đứng lúc nhúc đầy bên dưới sân, phía sau ồ ạt chen lấn. Tiếng kêu la oai oải. Lạ thật. Người ta lạy và khấn rì rầm. Có câu nào họ cầu chúc sức khỏe cho ơn trên đã phù hộ cho họ không nhỉ. Họ cứ lạy và cúi đầu, chẳng bao giờ ngước lên. Hình như họ sợ, đúng rồi, họ vừa ngu vừa sợ vừa ngại vừa tránh né. Ôi, trần gian mấy ngàn năm văn hiến mà như những mớ vỡ vụn và đứt gãy được các bồi sử tô chuốt đắp dựng đục đẽo ra những gương mặt đền chùa cúng vái giống nhau tới mức quái đản. Chúng đang báng bổ cội nguồn. Những vuông chữ Tàu vẽ vời trên những tấm vải đỏ đang treo khắp mặt đền. Cả những tấm vải đỏ có hình cái búa của lão, nó đang bị móc vào cái lưỡi liềm cong vòng sát khí. Hình như nó đang bị yểm bùa. Một thứ ma thuật từ máu. Lão buột miệng cười, khà khà, phen này ông mà tìm ra được chiếc búa thì chúng mày biết tay ông.

“ Này ông kia, lại đây, ở đây không có chỗ cho ăn xin nhá, ra ngoài kia đi!”, gã dẹp trật tự mặc đồng phục màu xanh bộ đội vừa nói tới tấp vừa cầm tay lão kéo ra.

Lão trố mắt nhìn hắn, mặt hắn đang phừng phừng, hình như hắn vừa được uống tiên tửu, lão nghĩ vậy. Lão nói: “nó đâu, cho tôi một ngụm, ở đây ngột ngạt bức bối quá”

“ Gì, lão nói cái gì, lão vừa xin cái gì ?”

“Ta xin rượu đấy, tiên tửu, cậu có không cho tôi xin một ngụm”, lão nhắc lại.

“Ông này điên dữ, thôi ra ngoài kia đi, tôi mà thấy ông còn léng phéng ở đây thì không xong với tôi đâu”.

Tệ thật. Giá trị ở đây đảo lộn hết cả chẳng biết đường nào mà lần. Lão đã được mấy ngàn tuổi rồi mà bị cái thằng oắt con mắng đuổi. Mắt lão mờ đi, lão thấy uất nghẹn cả cổ, lão phải tìm gấp cái búa để bay về trời.

 

Ngoài đường vẫn đang phần phật những lá cờ nhuốm màu đỏ máu. Phía Tây đang chớp giật.

Tiếng than khóc, mùi tử khí mỗi lúc một nặng nề, giăng mắc thiên la địa võng. Lão thấy vô vọng. Không ai thấy manh mối nào về chiếc búa của lão. Lão không thể về trời. Lão phải ở lại đây cho đến khi nào tìm ra nó. Lão thấy nỗi sợ hãi đang chảy rần rật trong huyết quản. Lão sợ tiếng khóc la, tiếng oán hờn của bao người khuất mặt.

 

Đùng… đùng…đoàng… phía Đông đang có chớp giật, sấm sét lại vang, chúng bủa vây tứ phía. Gió rủa. 

 

Lão chạy vòng quanh. Lão hỏi. Lão hét lên. Nó ở đâu. Bặt vô âm tín. Người ta đã cất giấu nó ở nơi nào thật bí mật. Lão chỉ thấy được âm thanh của nó với mùi tử khí bay lên nồng nặc.

Lão sà vào đám thanh niên, lão ngồi với họ, ngật ngà men tiên tửu. Phiêu diêu…phiêu diêu…lão đang bay với cả đám thanh niên ấy. Lão thấy chúng thỉnh thoảng lại vật nhau, đổ máu rồi lại cười nhe cả hàm răng màu đỏ, rồi choàng vai bá cổ nhau, những đôi mắt đỏ nhức nhối.

 

*

 

Lão trở thành gã tiều phu tử tế một cách bất đắc dĩ. Lão phải ở trọ lại chốn trần gian này để tìm cái búa, nó là vật bất ly thân, là tánh mạng của lão, hơn nữa, nó là danh dự của lão. Đêm lão ngủ một giấc say, ngày lão chăm chỉ vào rừng đốn củi. Có một thứ đã an ủi lão rất nhiều, nó làm lão đỡ sợ, đỡ đau đớn hơn cả là tiên tửu. Lão uống suốt bốn mùa, không chiều nào mà lão không uống. Mỗi lần lão ghé quán, lão lại cười: “khà khà, lão sắp được lên thiên đường đây”. Lão chủ quán lại lắc đầu cười mỉm.

Tối, lão được một giấc bay lên tiên, cảm giác lâng lâng, những cô tiên bên cung Hằng đang quây quần bên lão. Họ vuốt ve mơn trớn. Thỉnh thoảng lão đưa tay lên cao với với rồi cười khà khà. Tối nay, lão ghé ngang cổng Trời, lão không thể vào được. Lão ngó nghiêng, lừng thừng, không lẽ mình tha hương cả khi đang đứng cổng nhà của mình ư?. Lão thảng thốt, ứ nghẹn. Lão khóc. Trần gian lấm tấm mưa. Rồi ào ạt, thác lũ xoáy tràn những con mương, cuốn xô bờ kênh, nước tấp những xác người lềnh bềnh từ đại dương trở về với đất.

 

Mỗi sớm mai, lão lại bật dậy và điều đầu tiên mà lão nghĩ là về chiếc búa. Nó vẫn bặt vô âm tín.

Đùng…đùng…tiếng sấm dồn dập hơn. Mùi tử khí. Lão lại chạy vòng quanh. Lão hết hơi. Tiếng khóc ai oán vọng lại khắp nơi. Mặt lão nhăn nhúm lại, lão khóc. Trời bắt đầu đổ mưa. Thác cuộn.

Vẫn không ai lộ cho lão một manh mối về kẻ trộm. Trần gian rộng lớn nhưng lão đã đi tìm khắp hang cùng ngõ hẻm. Lão nghi lắm. Không lẽ nó đang nằm ở trong cái hộp được canh gác cẩn mật cùng với cái xác chết của gã kia. Tai lão dỏng lên. Đùng…đùng…. Âm thanh vọng ra từ hướng ấy. Gió bủa vây. Mùi cháy khét lẹt. Mùi tử khí lại bốc lên. Lão choáng.

 

Lão ân ận. Lão dằn vặt. Tại lão cả, tại lão ham vui mà ngủ quên. Lão phải trả giá, lão phải bù đắp…,lão cứ lẩm bẩm suốt ngày như vậy. Lão kiên nhẫn đợi. Lão vẫn phải là một gã tiều phu chăm chỉ và tử tế để trọ lại ở đây. Cứ đến chiều lão lại đến cùng với tiên tửu để tiễn đưa mặt trời. Dù sao ở trần gian một  năm chỉ là một ngày ở Thiên đường. Khà khà, lão lại cười, mắt rướm lệ, sẽ có một ngày ta tóm được ngươi, ngươi đừng giả chết như vậy. Mùi tiên tửu lại thơm sực nức trên mũi, lão ngửa cổ nuốt ực, đêm nay ta lại được nhìn thấy cổng nhà. Huyết quản lão lại chảy rần rật. Gió từ đâu bỗng thỏi manh, nhanh, gấp, lão dỏng tai

 

Đùng…đùng…mùi khét lẹt, mùi tử khí lại xông lên. Lão khóc. Lão lại hớt hải chạy quanh đi tìm. Trời đang đổ mưa.

 

18.4.2015. H.H

 

 

 Hải Hạc

Loài Hải Hạc được sinh ra sau một cơn đại hồng thủy. Chúng là những đứa con không hôn thú. Chúng sinh ra từ nỗi sợ hãi của mẹ Âu Cơ. Chúng bay ra từ ánh mắt thất thần của nàng – người phụ nữ xinh đẹp kiều diễm đã bị con rồng biển chín đầu phương Bắc dùng sức mạnh mà cưỡng bức. Đôi mắt đẹp của nàng lúc này đã biến thành một cái hồ, người ta gọi nó là Hồ Ma. Một cái hồ màu đỏ chết chóc nằm giữa thung lũng sâu, bao quanh là những dãy núi đen thẫm. Theo truyền thuyết, người ta nói rằng, Hồ Ma mang lại điều ác mộng cho muôn loài, nếu sinh vật nào nhìn trực diện vào nó thì ngay lập tức bị chúng biến những bộ hài cốt màu trắng bạch. Nếu ai đó lỡ cơn khát uống nhầm giọt nước mắt của Hồ Ma sẽ chỉ còn vài phút để sống, sau đó vĩnh viễn trút làn hơi tàn mà chưa kịp thấy đau đớn. Nhiều ý niệm khủng khiếp bắt đầu hình thành từ cái màu đỏ chết chóc của Hồ Ma ấy. Người ta muốn bỏ chạy mà không được, đành phải tự tử. Những thây xác vừa trút làn hơi cuối vội biến thành những hài cốt cứng như đá vôi, quắt queo cả lại trong chớp mắt. Người dân nơi đây nói với nhau rằng: “Hồ Ma đã bị một lời nguyền của loài quỹ dữ”, nếu không làm thế thì những đứa con Hải Hạc của nàng sẽ rời xa, vĩnh viễn biến mất khỏi thế giới này.

Hồ Ma là khắc tinh của muôn loài. Cứ trời chạng vạng thì nó phát ra một thứ ánh sáng ma quái, xanh nhợt nhạt cả núi rừng, mặt hồ máu thẫm đen. Các loài sinh vật bị nhòa bởi thứ ánh sáng ma quái ấy nên không tìm được lối về. Chúng vừa dừng chân lại thì ngay lập tức bị bất động và hóa đá. Những bức tượng sống của chúng la liệt khắp nơi. Tượng khi chúng vừa chợp mắt ngủ, khi chúng vừa há miệng uống nước, tượng chúng đang rỉa cánh, tượng bà mẹ đang mớm cho đứa con còn đỏ hỏn, tượng khi chúng còn nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương….Tất cả co rút lại. Méo mó. Hãi hùng. Quái dị đến mức không làm người ta sợ hãi mà làm người ta cứ nhìn trân trối cho đến chết.

Những đứa con Hải Hạc của nàng hàng ngày vẫn làm tổ trên những đụn cát chứa đầy những chước quỷ ác độc. Nàng đang cố bảo vệ chúng. Thời tiết ngày càng khô và khắc nghiệt. Hải Hạc luôn khát, khát rất nhanh, cơ thể luôn bị mất nước. Hàng ngày chúng phải sà xuống uống nước mắt của mẹ, chỉ trong chớp mắt, chúng biến thành những bức tượng hài nhi thật đau thương. Nàng khóc thật nhiều. Nước mắt nàng rơi xuống những bức tượng bằng xương khô. Chúng rã cả ra, tan rất nhanh trong đất. Hôm sau, lúc bình minh vừa dậy, lũ Hải Hạc đã lên đường đi kiếm ăn. Chúng bay đi rất xa, cả mấy trăm km về hướng Tây địa cầu. Chúng bay thành từng đàn, loài này rất thương yêu nhau, không có con nào bị bỏ rơi lại trong đói khát.

Chúng bay lên, từ trên cao, chúng nhìn thấy ở bên dưới: những hình hài bất động của đồng loại đang phơi trắng lóa quanh miệng hồ. Đường bờ vòng quanh, không có lối thoát nào cả. Chúng nhìn thẳng vào mắt của mẹ: “con mắt ấy không còn con ngươi”. Tử huyệt của mẹ đang nằm gọn trong bàn tay của con quái thú phương Bắc ấy. Chúng bất lực, khẩn cầu. Bộ lông của chúng ngày càng đỏ hồng rực rỡ, nhất là khi chúng xòe đôi cánh ra và cất lên những giai điệu mang bóng dáng của mặt trời trầm tử lúc hoàng hôn. Màu đỏ hồng của chúng tựa như loài san hô tuyệt vời từ đại dương. Khi mặt trời vừa tắt hẳn thì màu san hô đỏ ấy bị hòa tan theo những dòng cuộn trào của thủy triều đỏ - cơn cuồng thú của con rồng ác độc. Những dòng máu chảy cuộn trào dâng cao thành những cái cột lớn. Hồ Ma lúc này một màu đen thẫm. Những hình hài lại tiếp tục gieo mình xuống hồ và ở lại ở đó vĩnh viễn. Những bộ xương co rút, những bức tượng méo mó kì dị lại mọc lên. Tất cả chúng không nhớ gì về nỗi đau đớn trước khi đi vào cõi chết. Người ta bảo: “ cái chết ở đây êm ái nhất hành tinh, đó là một thiên đường của sự chết chóc”. Dưới đáy hồ vẫn cuồn cuộn những lời tung hô hả hê mừng cho những hình hài hóa thạch mới. Không một tiếng hú mang dại nào để báo hiệu cho sự chết. Mọi thứ nơi đây đều tuyệt đối diễn ra trong yên lặng, kể cả tiếng rên rỉ vì yêu thương.

Loài Hải Hạc vẫn tiếp tục sinh sôi trên những đụn cát nóng bỏng chết chóc. Chúng tiếp tục kiếm ăn, chúng có thể ăn bất cứ cái gì có thể: tảo đỏ, xác chết của loài chuột dơi, đại bàng , bồ câu hay là loài mèo chó từng rất thân thiện với chúng. Chúng vẫn uống nước mắt của mẹ ở Hồ Ma và hóa thành những bức tượng đài vĩnh cửu màu trắng bạch giữa mặt hồ màu đỏ.

17.4.2015. H.H

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Tư 20251:36 SA(Xem: 26656)
Em hiền như ly nước mát / Đơn giản như nụ cười không son / Là quả trứng buổi sáng, là tô canh rau buổi chiều / Là cơn mưa thì thầm trên thềm khuya / ** Em là xếp của nhớ thương / Em oai như nữ tướng / Em tính toán rạch ròi / Em rất bao dung
18 Tháng Tư 20256:00 SA(Xem: 25531)
Dưới màu hoa, như lửa cháy khát khao / Anh nắm tay em, bước dọc con đường vắng / Chỉ có tiếng ve, trong trưa hè yên tĩnh / Không cho lòng ta yên
16 Tháng Tư 20259:59 CH(Xem: 21361)
Em hoa quỳnh nở về đêm / Tôi thằng trộm đứng bờ phên ngập ngừng / Hương một làn bỗng thơm lừng / Tôi hoàn lương chỗ đã từng lưu manh
16 Tháng Tư 20259:16 CH(Xem: 19288)
PHIM “ĐỊA ĐẠO” của Đạo diễn BÙI THẠC CHUYÊN “Từ sau 1975 đến nay, Địa đạo Củ Chi được tô vẽ thành một biểu tượng chiến thắng và kích động lòng yêu nước trong nhân dân bằng văn chương, phim ảnh, mô hình, du lịch… nhằm mục đích tuyên truyền; và phim “Địa đạo…” có thể nói là một đỉnh cao của chiến dịch tuyền truyền đó góp phần tạo ra “Huyền thoại Địa đạo” ít có sự thật lịch sử, và đồng thời cũng tạo ra “cơn sốt” truyền thông” ghê gớm, tựa một “huyền thoại truyền thông” chưa từng có trong lịch sử điện ảnh Việt… Có thể nói, đó là điều đáng tiếc đáng kể đối với một bộ phim “bom tấn” được thực hiện nhằm chào mừng ngày 30 tháng 4 và 50 năm Thống nhất Đất nước. Với bộ phim “Địa đạo…”, những điều đáng tiếc nói trên cũng là sự thất vọng cho tài năng của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, đồng thời gửi gắm hy vọng anh sẽ có những sáng tạo nghệ thuật xứng đáng với nguồn lực khổng lồ mà nhân dân và quân đội dành cho những bộ phim lịch sử lớn mà anh đang ấp ủ!” TRẦN KHẢI.
16 Tháng Tư 20255:33 CH(Xem: 20647)
Ngày 29 tháng 4, tôi nhờ chú em con bà cô chở ra bến Bạch Đằng, Saigon xem tình hình và thấy rất nhiều tàu kể cả chiếc Việt Nam Thương Tín, Trường Xuân, Tàu Hải Quân, trong số này có một số tàu đánh cá của một công ty Đức, to rộng rãi và bằng sắt đàng hoàng. Trở về nhà, tôi hối Ba đi trước với chú em. Hai chú cháu lọt được vào căn cứ Hải Quân và đi theo họ. Riêng tôi còn lần khân ở lại, hy vọng đến phút chót có thể gặp lại được Quỳnh Hoa, người yêu đầu đời của mình, nhưng phép lạ không xẩy ra.
16 Tháng Tư 20254:33 CH(Xem: 21261)
miên man nắng dọi qua đèo / đường sông mấy nhánh hoa leo vào lòng / nhủ thầm đừng có mùa đông / kẻo lưng em đậy kín bưng tóc dài
16 Tháng Tư 20253:38 CH(Xem: 21940)
Tuổi đã về chiều. Cải tuổi dần hiểu đời sâu đậm hơn trong tháng ngày còn lại bên đời, để biết mình không còn trẻ nữa và thời gian ngắn dần lại. / Năm ngày trước. Buổi sáng thức dậy tôi bỗng bị choáng váng cả đầu. Có lẽ là do huyết áp tăng sao?/ Tôi cố nhớ, mình đã không ăn thức ăn nhiều đạm và nước chấm mặn quá thì không thể do huyết áp. / Nhưng tôi cũng uống một viên huyết áp, cộng một viên trợ tim, rồi cho rằng mình ổn nên đi ra đường cùng con cháu. Khi về nhà tôi nấu cơm cho các cháu, tôi giặt và phơi đồ rồi lau nhà và bưng chậu, đem hoa đi phơi, đi tưới. Tôi nghĩ chắc sẽ không sao đâu! / Cho đến khi tôi thắp hương lạy Phật thì đầu óc bỗng quay cuồng và tôi té xuống dưới đất bất lực không ngẩng lên được, phải điện thoại cho con gái về. Và nó đưa tôi đi bịnh viện.
16 Tháng Tư 20253:29 CH(Xem: 22970)
Tiếng chuông nhà thờ đã chìm sâu vào giấc ngủ / để lại những khoảng trống / đầy vết bụi thời gian / những giọt nước mắt hòa chung dòng máu Thánh nơi đây / giờ chỉ còn rêu xanh phủ kín / mọc từ vết thương xưa
16 Tháng Tư 20252:23 SA(Xem: 25334)
Em vẫn đợi hoài, mà chẳng thấy… Thơ của anh . Chắc khó lắm sao ? Người ta bảo : làm….thơ dễ lắm ! Anh làm…đi ! Hãy cố lên nào .
15 Tháng Tư 202511:27 CH(Xem: 20958)
Tôi đã trở lại Mỹ vừa tròn một tháng, sau chuyến về thăm quê hương dài ngày. Cưỡi mây lướt gió, tổng cộng hơn 20 tiếng đồng hồ, suốt chặng đường dài nửa vòng trái đất, chỉ một lần chuyển máy bay ở Đài-Bắc, Đài-Loan. Với tuổi đời khá cao, giờ giấc khác biệt, nên tôi cần một thời gian điều chỉnh để sống lại đời bình thường. Quê hương tuy xa rồi nhưng vẫn còn đó. Những ghi nhận, những suy tư, cảm xúc; những tao ngộ khó quên; những ước mong đã thành hiện thực; vẫn còn đây, còn trong trí tưởng, chưa phai mờ. Lòng tôi chất đầy luyến lưu thương nhớ khi rời xa và hòa quyện với những niềm vui khó tả. Đôi lúc tôi tự trách: đã một tháng trôi qua mà đầu óc còn mơ mơ màng màng, mgười bồng bềnh như đi trên mây, ngẩn ngơ ngơ ngẩn; đáng tiếc nhất là chưa ghi lại một dòng chữ nào, chưa đem tâm tình trải dài trên trang giấy.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3814)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13279)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19646)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18619)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1607)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1758)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2275)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2395)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1439)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2199)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1935)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1986)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1350)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2385)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2594)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2360)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 230)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 788)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 988)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1098)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6396)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15878)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38853)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1468)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6891)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10661)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9863)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9991)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10782)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3434)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11142)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10349)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi