- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mộ Hoang

22 Tháng Chín 20141:40 SA(Xem: 55674)


MO HOANG

2014

Không gì mau giàu bằng buôn bán mộ phần. Giọng đàn ông lải nhải như tranh cãi và thuyết phục. Gió từ đâu giật mạnh. Cát mịn tung trắng nghĩa địa. Thời gian trôi. Ký ức trôi. Chỉ vẹo đất trắng này vẫn vậy. Một bóng người tha thẩn đếm từng tấm bia. Bóng dừng lại trước ngôi mộ có vẻ lâu ngày vắng chủ. Cỏ mọc tràn lên cả nấm mộ. Tường xi măng rệu rã, lộ cả đất bên trong. Bóng thào thào đọc chính tên mình trên bia. Đặng Long tạ thế năm 1969. Cha mẹ đồng phụng lập. Hai giọng đàn ông ồ ồ lần lượt cất lên. Đặng Long vấn đáp Đặng Lân. Đã bốn mươi lăm năm. Bốn mươi lăm lần tiết thanh minh có mấy lần chạp mộ. Cơn gió nồng khác lại đến. Hàng phi lao run rẩy dưới ánh trăng. Loáng thoáng hai dấu giày hằn rõ trên cát. Đặng Lân bật dậy, hú xé màn đêm như con sói cô độc. Xẻng và đá dội lên không trung những âm thanh khô khốc. Lân điên dại, hoang dã…đào mộ. Thúy hốt hoảng chạy đến, dừng tay anh… Nhìn tấm bia, rùng mình, Lân nhớ năm Kỷ Dậu.

1969

 Mẹ chuyển dạ. Song thai. Cha và chú gánh mẹ băng làng về huyện. Nhịp chân vồn vã theo tiếng súng cùm cắc. Người chết đầy đường. Cuộc chiến đang leo thang. Họ men theo đường tắt, tránh xa cái chết, giành giật sự sống, nhưng tiếng súng vẫn không buông tha. Họ băng trên hòa bình mà đi. Hòa bình không còn máu và xác người. Nghịch lý, máu và xác chết mang hòa bình về. Tiếng súng đã ngăn một mầm sống. Một thai chết trong bụng mẹ. Thượng đế chỉ chọn một người. Đặng Lân khóc thét và tồn tại.

2014

 Ba trưởng lão họ Đặng, Phạm, Lê trố mắt, vểnh tai nghe tay trưởng dự án thao thao bất tuyệt về nghĩa địa Thiên Hà. Một kẻ không cao, dư kí, vòng bụng dài hơn chân, nhưng lời tuôn ra chắc nịch như khắc vào đá. Gã tên Tiền họ Đồng.

- Dù nước sông có chảy ngược dòng, mồ mả tất tần tật phải dời khỏi nghĩa địa làng vào cuối tháng.

- Nếu không di dời. Trưởng lão Đặng dè dặt hỏi. Tiền chưa kịp trả lời, lão khẳng khái. Tôi quyết không dời mộ cụ tổ. Nếu anh dời, nhớ gọi tôi ra nhặt hài cốt.

- Chính tôi sẽ giúp quí vị dời mộ qua làng bên. Tiền đền bù chắc hao hụt đôi chút.  Trên mảnh đất này, sẽ xây một nghĩa địa bề thế đúng tiêu chuẩn quốc tế. Các trưởng lão được bồi thường một gang tay xấp tiền toàn bạc năm trăm ngàn.

Câu này gã lên giọng đột ngột. Ba ông già nín thở. Vài tiếng lao nhao, nhiều, khiếp. Gã tiếp.

- Đồng tiền phải hiếp đồng tiền đẻ ra lợi nhuận. Tôi hứa cấp cho ba lão miếng đất đẹp nhất để dành hậu sự.

Trưởng lão Đặng quay lại chì chiết Lân. Chính Lân đã kéo Đồng Tiền về làng phát triển dự án Thiên Hà. Dòng họ Đặng phất lên như diều, chắc chắn, mộ tổ tiên đã kết. Mộ ông tổ an vị địa thế sơn thủy hữu tình, hổ chầu rồng phục. Phía sau có con sông đào uốn quanh. Phía trước, ba ngọn đồi ẩn hiện sau hàng phi lao. Núi nghênh thủy, thủy in bóng núi. Đất tốt. Dời mộ e rằng thất sách. Lân là cổ đông nhỏ, bàn ra chẳng ai nghe. Một mét tới đất mộ giá hàng chục triệu. Lân hiểu. Thời buổi này kẻ ngu mới bỏ tiền đầu tư xây nhà, xây chung cư. Kinh tế suy thoái. Nhà cửa đóng băng. Cứ đất nghĩa địa mà làm.

1996

Chỉ tấm bằng kinh tế lận lưng, Lân vẫn có ma lực hút tiền làm giàu. Kinh doanh quan trọng mưu, đón đầu, quan hệ. Bạn bè sốc khi Lân hỏi. Có thằng nào tốt nghiệp kinh tế bằng đỏ mà giàu? Thúy không thoát được vòng ma lực ấy. Thúy vẫn mê Lân dù tính cách chàng hơi quái. Lân thất thường, thay đổi như sắc da kỳ nhông. Tự tin, lo lắng, tự kỷ, bất an. Trầm lặng người lớn tuổi, nhí nhảnh bốc đồng trẻ con, bạo dạn như sếp. Loạt tính từ vẽ nên bức tranh toàn cảnh về Lân. Một tập hợp hỗn mang mà Thúy ngỡ ngàng từ ngày cưới. Hai vợ chồng đã mòn gót chân các phòng mạch bác sĩ trong phố. Uống hết mấy lọ thuốc trầm cảm mà vẫn không khỏe. Lân biết rõ mười mươi mình không thể bị trầm cảm. Thúy đùa anh mắc bệnh thời cuộc theo giá nhà đất èo uột.

2014

Lắm kẻ giàu có ngắm nghía vẹo đất trắng nghĩa địa này. Trưởng lão Đặng chép miệng. Về phong thủy, đất làng ta còn đẹp hơn cả đất Kim Long của triều Nguyễn. Lân ở phố, làng cách phố chỉ ba mươi phút xe hơi, năm khi mười họa mới về làng ăn giỗ. Lân chỉ biết hai ngôi mộ: Đặng Long- anh em sinh đôi và Đặng Bân-quan võ duy nhất của dòng họ. Già gần xuống lỗ, trưởng lão Đặng chẳng mê tiền. Chỉ sợ có tội với tổ tiên.

- Giấy phép đã ký. Tiền bồi thường đã duyệt. Đồng Tiền gằn giọng.

- Tiền, mày nhớ ngày xưa lão cứu bố mày khỏi chết đuối không? Trưởng lão Phạm mớm lời, năn nỉ.

-Chuyện bố chuyện con, khác nhau lão ạ. Tiền cười nhạt.

Trưởng lão Lê e hèm… nhận bồi thường. Họ Lê làng này cả đời làm nông, chẳng vị nào học cao. Trong túi lúc nào cũng đầy đất, làm quái gì có tiền. Nay tiền về, sao phải chối từ. Lão giật phắt xấp tiền từ Đồng Tiền, ký cái rẹt. Rồi lia mắt nhìn trưởng lão Đặng khinh khỉnh.

Một giọng nói người già ồ ồ cất lên. Dân làng ngơ ngác. Hôm nay giọng thằng Lân lạ quá. Chắc nó bệnh. Lân nhìn xuyên qua Đồng Tiền. Cái nhìn vô định không quen biết. Lân chém mạnh tay lên mặt bàn gỗ mốc thếch. Phản đối. Tiền bồi thường quá thấp. Nhất định họ Đặng không di dời mộ. Đầu cuộc họp Lân hô hào họ Đặng di dời mộ. Nay phản đối. Bà con xì xào. Thành viên của ban dự án đó. Trưởng lão Đặng phì cười. Cái thằng ba phải. Cả họ Đặng ùa lên như cơn lũ quét ban dự án chạy tán loạn. Lão Đặng xĩa cây gậy vào mặt Tiền. Mắng. Mày đừng hòng bán tổ tiên. Dân làng lục tục biến. Còn lại Đồng Tiền chơ vơ với đống tiền.

Rời cuộc họp, hai ông cháu tha thẩn hai hướng khác nhau. Lân lang thang ra bãi tha ma còn lão sờ từng gốc cây, nghía từng bến nước. Lân từng học chung cấp ba với Tiền ở huyện. Tiền ở làng bên, làng trũng nghèo. Nghịch lý, gia đình Tiền giàu ngầm, bố làm thủ kho. Nhưng Tiền không thích kiểu có tiền như bố. Chẳng quang minh chính đại gì. Tiền thường bảo Lân, phải giàu mày ạ. Họ Đặng nhà mày mang tiếng học cao mà chưa giàu. Phí. Tiền bĩu môi. Nói dóc mãi cũng chán, hai thằng ra nghĩa địa bắt kỳ nhông. Một lão già da vàng cháy, râu bạc dài phủ rốn, vai quẩy bị sách, bước thấp bước cao, lè nhè chào hai đứa.

- Lão là ai, sao lạc bước chốn tha ma. Tiền cung kính hỏi.

- À, lão…mê thơ, thơ thẩn, khổ thế này. Hai đứa có rượu không?

- Nếu có, đổi lại cháu được gì.

- Lão biết được tương lai.

- Được đó, mong cụ xem cháu có giàu không.

Lão nhắm mắt, thè lưỡi tận đáy ly rượu hạt mít, hút thật mạnh. Ly rượu trống rỗng. Hai đứa tái mặt. Ở đời, chắc không có kẻ thứ hai hút rượu bằng lưỡi. Lão thò tay vào bị sách, mắt nhắm nghiền, khoắng ra một cuốn sách điển tích xưa cũ sờn gáy. Lão bảo Tiền lật ngẫu nhiên một trang sách, đọc lên cho lão đoán.

“ Thời xa xưa ở phương bắc, thịt người rất cao giá. Vua, quan lại thích ăn. Thiên hạ canh chừng giết lẫn nhau. Anh chàng nọ nhà nghèo, sức yếu, chẳng thịt được ai. Mẹ già đã chín mươi bảo con trai. Ta già lắm rồi, sống cũng như thác. Con cứ lấy thịt ta mà bán kiếm tiền. Anh con trai lặng lẽ làm thịt mẹ đem bán. Rồi xây lăng to đùng ngày ngày thắp hương khấn vái khóc thương. Thiên hạ khen anh ta có hiếu, nhắc con cháu lấy gương đó mà soi”.

- Số con sau này rất giàu. Tướng ngũ đoản mà, nhưng nghiệp lại vướng víu xác người. Lão nhà thơ nhắm mắt, vuốt râu bẩn, gãi rốn, phán.

- Vậy phải giết…Tiền ngập ngừng…

- Cháu dại quá. Ý ta, công việc của cháu liên quan đến người chết như ma chay ,mồ mả chẳng hạn.

Lão nhà thơ vẫn nhắm mắt bỏ đi. Bụi nắng vàng tung tóe khét lẹt dưới mỗi bước chân. Nghĩ chuyện thịt người, Lân lè lưỡi, tao chịu, không dám. Đồng Tiền im lặng, gật đầu khoái trá.

Trưởng lão Đặng tê tái. Ngồi thịch dưới gốc cây đa đầu làng, lão thẫn thờ nghĩ vẩn vơ. Không thể không di dời mộ. Nhìn giấy phép với con dấu đỏ loét đỏ lòm, phận dân đen đã chết khiếp. Đành răm rắp theo lời những kẻ giàu mua đất. Sang năm tết thanh minh, có lẽ, lão phải đạp xe lốc cốc qua làng khác chạp mộ. Mà lão cũng chưa biết dời mộ tổ tiên đi đâu. Đất làng bên trũng, mảnh đất chó ỉa như các cụ thường gọi. Lão không dại đem thân xác tổ tiên ngâm nước phèn. Cây đa, bến nước, sân đình còn đó, nhưng nghĩa địa làng không còn. Lão thấy mất mát phần tâm linh. Không được thờ phụng tổ tiên trong mảnh đất cha ông ngàn đời nay. Tủi. Lão nhìn xéo qua chiếc cầu gỗ sơn đỏ bắt ngang con sông đào. Tổ tiên họ Đặng kiến tạo tất cả trong những ngày đầu lập nghiệp ở làng này. Họ Đặng tạo nên mảnh đất phong thủy. Cuối cùng, vì phong thủy, mộ tổ tiên không được an táng trong làng. Mai mốt, ngang nghĩa địa Thiên Hà, chỉ thấy người dưng. Buồn. Đau còn hơn bị trục xuất ra khỏi làng.

Trưởng lão Lê quên lời hứa. Trưa qua khề khà mấy ly cuốc lủi, ba lão cùng thề không dời mộ đến cùng. Thế mà…Lâu nay hai họ Đặng, Lê chẳng thích nhau. Mỗi dịp cúng đình làng. Họ Lê ít chữ đành lo giết bò, mổ heo, dựng rạp, lui cui dưới bếp. Họ Đặng chữ nghĩa tinh thông chỉ lo cúng tế, rồi rung đùi mâm trên cổ đầy. Thuở nhỏ, ngay con sông này, hai lão Đặng Lê hay chơi trò ngụp lặn. Lần nào lão Lê cũng uống nước đầy bụng phải bỏ cơm. Chẳng qua lão Đặng già hơn Lê năm tuổi, đủ trí khôn để ngậm ống nhựa lặn lâu hơn. Lão thấy một nhành cây khô trôi trên sông, vướng mắc đám bèo, xoay vòng vòng. Cuối cùng, nhánh cây vẫn trôi theo dòng chảy. Lão thở dài. Lão xoạc chân muốn đo đất với trời. Bệnh thấp khớp làm lão nhăn nhó. Thời trẻ, hơn năm tuổi là lợi thế. Về già, hơn năm tuổi lại thất thế. Lão biết lão chẳng làm được gì. Trong mắt bọn trẻ, lão hâm.

Gió mát. Lão thấy lão đang bay tận chín tầng mây. Trước bụng lão mang một bình sứ to chứa tro cốt tổ tiên. Lão bay đến miền xa xăm. Chẳng có cách nào phản kháng bọn nhà giàu đầy ắp dự án nghĩa địa, ngoài cách bỏ làng mà đi. Lão mơ.

2012

Bệnh Lân trầm trọng. Thức ăn đầy cốp xe, nhưng Lân không hề nhớ mình đã đi chợ. Thúy đưa chồng đến bác sĩ giỏi hơn. Lân lọt thỏm trong căn phòng trắng toát. Bác sĩ trầm ngâm nuốt từng lời kể phận đời bạc bẽo của Lân.

1976

Năm ấy trời mưa dồn dập. Nước thượng nguồn ùa về tàn nhẫn. Lụt. Nước giăng giăng tứ bề. Rác, cặn bã xã hội ngập đầy. Cả nhà Lân trôi vô hướng trên chiếc bè (kết cục) như thuyền Noah trong kinh thánh. Lụt thành lũ. Bè vỡ. Chỉ mình Lân còn sống với một túi gạo ẩm. Cứ thế Lân trôi theo sông, theo dòng đời bầm dập.  

Rồi năm năm ở đợ. Những trận đòn của bọn tự xưng ông chủ làm Lân lầm lì co rút trong vỏ ốc. Vết hằn ngang dọc như tấm bản đồ ma mị trên lưng. Di chứng tinh thần suốt đời ám ảnh Lân. Đôi khi Lân tồn tại trong thân thể nhưng Lân không còn là Lân. Lân không kiểm soát được Lân. Lân lặng lẽ ngắm bản thân, quan sát tâm trạng của một kẻ mang tên Lân. Lân xòe bàn tay sần sùi chai sạn. Biết bàn tay ấy nhưng Lân không có cảm giác tay mình đang sờ vạn vật. Chàng tự xẻ thân thành trăm mảnh. Gắng tìm mảnh nào hoàn hảo nhất mà đứng dậy. Nhút nhát nhưng Lân học giỏi. Lân nhỏ nhẹ như con thỏ, đôi khi hung dữ như chúa sơn lâm.

2012

Cảm thông qua đôi kính cận dày, bác sĩ nhẹ nhàng hỏi Lân. Anh có bao giờ nghe bệnh rối loạn đa nhân cách chưa? Bác sĩ mở cửa đưa Lân qua phòng khác. Lại căn phòng trắng. Phòng khám này toàn những căn phòng trắng kết dính nhau. Phép chữa bệnh thôi miên sẵn sàng. Cứ tưởng tượng anh đang đi, đi mãi xuyên qua các căn phòng đến cõi vô tận. Bác sĩ nói. Cuối phòng chững lại cánh cửa màu vàng. Cứ đi tiếp nhé. Lân rùng mình, người co cứng, ngồi khép nép chân. Giọng nói trong trẻo vang lên. Bác sĩ hỏi anh là ai. Giọng trẻ con trả lời. Tôi là Đặng Long. Người anh em sinh đôi với Lân. Chúng tôi sinh đôi khác trứng. Lân là em. Tại sao anh muốn điều khiển Lân? Không, tôi chỉ muốn bù đắp tình anh em. Tôi không muốn Lân bị ruồng bỏ. Tôi sẽ chia tình máu mủ, tình người. Bác sĩ muốn nói chuyện với Lân. Long từ chối. Lân cần nghỉ ngơi. Bác sĩ hỏi dồn dập. Ngoài Long ra còn ai bảo vệ Lân nữa không? Long nhát gừng. Không phải việc của bác sĩ. Tại sao tôi phải trả lời. Bác sĩ đổi giọng. Tôi cũng bảo vệ Lân. Giọng trong trẻo của Long thoắt biến thành giọng ồ ồ. Bác sĩ hỏi tiếp. Ông là ai? Vẫn giọng người già ồ ồ ấy. Ta là quan võ Đặng Bân triều Nguyễn, họ Đặng trao quyền cho ta bảo vệ cháu Đặng Lân. Hãy để Lân tồn tại trong bình yên. Lân đi lại hiên ngang trong phòng khám, hai tay khuỳnh khuỳnh như con nhà võ. Rùng mình, Lân trở lại con người thật. Mệt mỏi và không nhớ gì hết.

2014

Đồng Tiền cao giọng. Làm gì có mộ kết trong nghĩa địa này. Các lão cứ vô tư dời mộ. Mắt Lân mở lao tháo đến tận hai giờ sáng. Không hiểu tay Tiền ý gì. Chỉ có tiền mới điều khiển được Tiền. Lân nhớ rõ lời tiên tri năm xưa của lão nhà thơ trong bãi tha ma. Lân trở mình, đêm nay khó ngủ. Tiếng ễnh ương uôm uộp đêm vắng nghe não lòng. Vài giọt mưa đồm độp rơi trên lá môn bên hè như kéo thời gian ra vô tận. Lân bật dậy, lặng lẽ xuống bếp chuẩn bị mấy chén cơm, trứng luộc, hương đèn, xẻng búa. Cứ thế âm thầm đến nghĩa địa như hồn ma.

Ánh trăng nhễ nhại chảy tràn vùng cát trắng bàng bạc. Dấu tích của đáy biển hàng triệu năm trước. Lân giơ cao chiếc búa tạ đập nát thành mộ. Chiếc búa nhịp nhàng theo quán tính như đang bay. Người bất động, tay cứ vung. Giờ này chỉ có những người hốt cốt mới ra nghĩa địa. Thúy hiểu Lân không đủ dũng khí làm việc này. Lân đang hành động trong nhân cách Đặng Bân. Để vượt qua nổi sợ hãi (di chứng tháng ngày roi vọt ở đợ), Lân xù lông nhím qua vỏ bọc cụ tổ dòng họ Đặng. Giọng già Bân ồ ồ qua cổ họng Lân. Cứ đập, cứ đào. Trước sau gì ta cũng dời mộ. Chi bằng xem thử mộ có kết hay không? Phải nhìn tận mắt. Qua lớp cát trắng, lại lớp cát trắng khác. Nếu mộ kết, đất lớp dưới phải đen, xốp và thơm. Hố đào càng sâu. Lân lọt tỏm dưới hố. Chẳng thấy vốc đất đen nào, toàn cát trắng nhạt nhẽo bạc lòng. Không vết tích gì của xương cốt, gỗ quan tài, quách… Lân ngỡ ngàng, hét lớn. Mộ hoang. Chẳng có gì dưới ngôi mộ hùng vĩ kia. Dù ngôi mộ được mối ùn lên to tướng.

Thúy chạy, miệng hét khản cổ. Lân vẫn đào vô hồn như người máy. Thúy vỗ mạnh vai chàng. Lân rùng mình rồi khụy người dưới huyệt mộ. Thúy dìu Lân về. Trưởng lão Đặng, Phạm giơ cao xẻng, búa dẫn cả làng rồng rắn ra nghĩa địa. Tiếng đập, tiếng đào, tiếng la hét tràn lan. Dân làng ngập tràn vẹo đất trắng. Đèn pin, đèn dầu, ánh sáng lóe điện thoại, đuốc, ánh trăng. Một bức tranh siêu thực. Cả làng òa khóc. Bia còn rành rành nhưng dưới nấm mộ trống rỗng. Trưởng lão Đặng tái mặt. Hay gã Tiền đã di dời tất cả hài cốt sang làng bên. Người chết đi đâu. Hồn ma đâu. Người sống sẽ về đâu khi không còn tổ tiên.

Đứng trước mộ cụ tổ, trưởng lão Đặng khấn vái lào thào trong miệng. Lão hét vang. Mộ chạy chứ không phải mộ hoang. Đào rộng thêm một mét, chếch sang hướng Đông Nam. Những vỉa đất đen dần dần lộ diện. Lão trèo xuống huyệt. Tay run run chạm vào khúc cây lớn chạm trổ tinh vi. Quan tài đây rồi. Lão cười. Người xưa đục cây gỗ quí để chôn cất. Mùi thơm trầm bay là là đáy huyệt. Lão thận trọng mở áo quan. Da thịt cụ tổ Đặng Bân vẫn còn nguyên. Tia nắng đầu ngày ló dạng. Chỉ vài phút sau, áo mão, da thịt người chết biến mất vào không gian. Trơ trọi trong quan tài chỉ còn bộ xương. Lão bật khóc. Ba giọt nước mắt rơi trên hài cốt chuyển thành màu đỏ như máu. Lão kinh hoàng. Xếp đặt tất cả vào áo quan mới. Trưởng lão Đặng dẫn đầu dòng người, khiêng quan tài cụ tổ đi về hướng mặt trời. Đoàn người mất hút trong sắc màu đỏ quạch của bình minh.

 

KẾT

Thúy thức giấc. Nắng mai chiếu thẳng đứng vào mắt. Trời nắng Thúy vẫn thấy lạnh. Nhà lạnh. Người lạnh. Thúy không dậy nổi. Cả người rã rượi vì đêm qua thức trắng ngoài nghĩa địa. Lân không còn nằm bên. Thúy vịn tay vào tường, lần xuống bếp. Bếp lạnh tanh. Mọi người đi đâu hết. Thúy tha thẩn qua nhà bên. Cả làng bốc hơi. Thúy hốt hoảng đi từ đầu làng đến cuối làng. Miệng lẩy bẩy anh Lân ơi. Nhà hoang. Làng hoang. Ngay cả súc vật cũng biến. Không còn dấu vết của sự sống. Không còn tiếng sủa, tiếng ục ịch, tiếng gà gáy. Không còn làn khói rơm thơm ngát mùi cơm trắng.

Thúy hoang mang trở ra nghĩa địa. Đất trắng lổn nhổn, hố đào khắp nơi, cuốc xẻng nằm la liệt như bãi chiến trường. Xa xa Đồng Tiền đang cắt băng khởi công dự án nghĩa địa Thiên Hà. Miệng gã cười toét loét, tay trái vẫy vẫy Thúy. Nàng nhìn tướng ngắn cũn cỡn của Tiền mà cười không nổi. Mười mấy năm trước cả Lân và Tiền đều trồng cây si trước cửa nhà nàng. Ngày ấy giữa hai người đàn ông, nàng đã rất khổ để quyết định chọn Lân. Thúy quay ngoắt. Nụ cười của Tiền tắt vội như sao xẹt trên dãi ngân hà.

Trưởng lão Lê khúm núm đứng bên, tay nâng xẻng cho gã hất nấm đất tượng trưng cho ngày khởi công. Sắc mặt lão Lê hồng hồng sảng khoái. Lão tự nhận mình khôn. Một tay lão âm thầm đắp vài ngôi mộ gió, kiếm thêm tiền đền bù. Lão cũng tâng vài nắm đất khởi công. Nắm đất này chứng kiến họ Lê đứng nhất làng, thay họ Đặng ăn trên ngồi trước trong mâm cỗ.  Nắm đất này chứng giám lão từ nay thành người đại diện dời mộ cho Đồng Tiền. Chà, lão tự sướng, mình phải in danh thiếp thôi.

 Bỗng mây đen tứ phía kéo về. Sấm. Chớp. Mưa nặng hạt rơi từng chùm. Mưa thối đất thối trời. Đám đông lố nhố rồi bỏ chạy tán loạn. Nước mưa tràn cả nghĩa địa. Hàng trăm con kỳ nhông rời khỏi hang, nhìn ngơ ngác, bò tụ tập trên gò cao. Mưa bình địa tất cả. Nghĩa địa như bãi cát trắng phẳng lì đau đớn.

Người không còn, xây nghĩa địa cho ai?

THÁI BẢO

Ý kiến bạn đọc
11 Tháng Mười Một 20149:38 CH
Khách
Toi khong sao dien ta duoc tam trang cua minh khi doc cau truyen nay ,that hap dan ,loi cuon ,voi ngoi but sac ben tac gia Thai Bao mieu ta tu nhan vat ket cau voi noi dung that chu dao hoan chinh ,that la mot tac pham tuyet voi
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Năm 20159:40 CH(Xem: 60091)
Chúng tôi lên Thăng Long Tết Ất Mùi, mặt hồ Dâm Đàm mỏng như ý nghĩ khoa cử trong đầu Kiệt. Kinh sư đầu triều Lý mang sắc đẹp bán khai dữ dội của những cánh rừng bàng chưa phát quang. Kiệt hay đứng ở bờ nước, mắt dõi theo những cuống sen già trôi quả quyết về hướng Cấm Đình. - Nay mai đỗ đầu tiến sĩ thì ngồi nhà mát ăn bát vàng.
14 Tháng Năm 20159:34 CH(Xem: 55388)
Trong số mười người chúng tôi bị bắt bởi chiến dịch khủng bố mùa thu tháng 9 năm 2008 thì Ông Nguyễn Kim Nhàn là người duy nhất hiện vẫn đang còn bị tù đày. Tôi thường gọi những người dân oan như ông, như chị Trần Ngọc Anh, chị Phạm Thị Lộc, vợ chồng chị Cấn Thị Thêu... là “dân oan hóa dân chủ” vì họ đã không chỉ dừng lại ở việc đòi quyền lợi chính đáng cho bản thân và gia đình mình, mà đã tham gia vào các công việc, các phong trào đấu tranh vì Nhân quyền, Tự do và Dân chủ.
14 Tháng Năm 20155:55 CH(Xem: 56163)
Là những người viết văn đã nhiều năm tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam (HNVVN), đã góp sức xây dựng Hội qua thời chiến cũng như thời bình, đã đau xót trước sự xuống cấp ngày càng nghiêm trọng của Hội trong những năm gần đây và tích cực góp ý với Hội để khắc phục tình trạng ấy; đến hôm nay, nhận thấy tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi nhiều điều căn bản trong điều lệ và tổ chức của Hội để Hội thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản;
14 Tháng Năm 20155:36 CH(Xem: 58097)
Ngày 05.05.2015 nhà văn Võ Thị Hảo đã tuyên bố từ bỏ hội Nhà văn Việt Nam, cùng ngày tổ chức này gạch tên 9 nhà văn khác đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh trong phiên họp bầu đại biểu đi dự đại hội toàn quốc. Dân Luận (DL) đã trao đổi với nhà văn Võ Thị Hảo (VTH) về vấn đề mà chị coi là một vụ Nhân Văn Giai Phẩm mới...
14 Tháng Năm 20153:44 CH(Xem: 58148)
Trong phiên bỏ phiếu bầu đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc diễn ra ở TP. HCM ngày 5/5, lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) đề nghị những người tham dự gạch tên chín người sinh sống ở TP. HCM và tham gia Văn đoàn độc lập. Những tưởng hành động này là "đòn giáng mạnh" vào các hội viên của Văn đoàn độc lập, tuy nhiên nó đã gây một hiệu ứng ngược khi hàng loạt những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng khác Tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn VN (DL)
13 Tháng Năm 20155:54 CH(Xem: 59060)
Với Nguyên Ngọc và Văn đoàn Độc lập, vấn đề còn nguyên. Làm gì với tự do đã giành lại sau khai trừ rồi ly khai? Làm gì với mục đích độc lập tách rời ra khỏi Hội? Ra khơi, lên đường, hay lo ngại “phạm pháp” sẽ khiến nhòa nhòa trong vận hành của hệ thống? Tháng 5-1954, hai chữ “Độc lập” thét vang trong lồng ngực của năm mươi ngàn binh sĩ chiến thắng trận Điên Biên, để cuối cùng là một nền độc lập hà khắc trong toàn trị. Tháng 5-2015, “vì một nền văn học Việt Nam tự do, nhân bản” in đậm trên trang web của Văn đoàn Độc lập. Công chúng trông chờ câu trả lời.
13 Tháng Năm 20154:31 SA(Xem: 59479)
Qua tháng tư rồi Anh có trở về ngày bình thường Như đi bác sĩ, làm tình và các thứ Mình lại hẹn nhau mùa điên năm sau
13 Tháng Năm 20154:22 SA(Xem: 52965)
LTS:Cận cái chết, nhìn cái chết ... một tâm trạng đau buồn, ray rứt. Những ra đi vĩnh viễn, mất mát và bấu víu vào mất mát. Nuối tiếc. Trịnh Duy Kỳ đến với Hợp Lưu lần đầu với 28,5 với những cái trên. Xin giới thiệu đến độc giả.
13 Tháng Năm 20154:18 SA(Xem: 56031)
Mấy tay bạn trai của Nga nhiều lúc cũng âm mưu, đưa Nga vào những chỗ nhạy cảm, rồi đòi hỏi này nọ, nhưng Nga cương quyết từ chối. Không phải là Nga không thèm muốn. Thì thịt da ai chả là người. Nhiều lúc ở bên các chàng chuyện trò tâm sự. Rồi chân tay đụng chạm, ôm ấp hôn hít, cũng rực hết người lên. Những muốn mặc kệ cái sự đời…
13 Tháng Năm 20154:12 SA(Xem: 57685)
Tin nhắn chú Tư e không qua khỏi đêm nay làm Nhiên đờ đẫn. Nhiên đóng cửa phòng mạch, chạy chẳng kịp chào ai. Đường vào nhà chú ngoằn nghèo rắc rối tựa ma trận. Sau rốt Nhiên vẫn đến được theo quán tính. Sự âm u lạnh lẽo cô buồn bàng bạc khắp nhà. Một vùng cấm mấy chục năm nay không hề có bóng đàn bà. Chú cấm tiệt. Cấm luôn thằng con trai duy nhất, không được có bạn gái.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16681)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1043)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5144)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7102)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6414)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29509)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35652)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3296)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7692)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7033)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9699)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.