- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG THẾ GIỚI SONG HÀNH TRONG "ĐỐI CỰC" CỦA TRẦN ĐỨC TĨNH

18 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 54328)


tranductinh-doicuc-content

Mở đầu cuốn Những cuộc đời song hành, Plutarque viết: “Sossius Sénécion ạ, khi miêu tả Trái đất, các sử gia đẩy ra sát mép bản đồ của họ những vùng đất mà họ không biết và chú ở bên cạnh: “vượt qua ranh giới này chỉ còn là sa mạc hoang vu và thú hoang nguy hiểm” hay “đầm lầy u tối” [1,75]. Hẳn rằng, nếu như không có sự ảnh hưởng trực tiếp, thì Trần Đức Tĩnh đã viết Đối cực (Nxb Trẻ, 2014) cũng với một cảm hứng gần như tương đồng với Plutarque trên góc độ quan niệm có những thế giới song hành, khác biệt nhưng lại tương tác nhân quả lẫn nhau. Trong đời sống văn chương đang khá trầm lắng, đặc biệt là những sáng tác của các cây bút trẻ hiện nay chủ yếu quanh đi quẩn lại với những mối tình ướt át, lãng mạn, nhưng thiếu đi tính suy tư về bản thể của tồn tại và thế giới, thì tiểu thuyết Đối cực của Trần Đức Tĩnh là những “con chữ không đồng hành” (từ dùng của Đỗ Lai Thúy). Đối cực là một tác phẩm mang nhiều “cái khác”, vì nó vừa kết hợp chất suy tư, chiêm nghiệm, nhưng lại không nặng nề và thuyết lý, mà lại viết dưới hình thức một tác phẩm hình sự với không ít những thủ pháp, “gia vị”, “chiêu trò” ăn khách thời thượng như bạo lực, tính dục, phi lý, miêu tả thế giới ngầm, xã hội đen. Tuy nhiên, theo chúng tôi, tất cả những “gia vị” ấy chỉ là cái vỏ bọc hình thức bên ngoài, nhằm giúp tác giả triển khai cái cấu trúc và quan niệm nghệ thuật sâu xa về những thế giới song hành, tức là, có tồn tại những thế giới khác, hiện thực khác, tồn tại dưới cái thế giới và hiện thực mà chúng ta đang sống. Cái thế giới ấy là siêu thực, là hư vô, nhưng nó mang ý nghĩa cho thực tại, giúp chúng ta truy tầm bản ngã và chiêu tuyết cho những giá trị nhân bản bị đánh mất trong thực tại. Ai dám vượt qua ranh giới thực tại siêu thực ấy, sẽ được đắm mình trong thế giới mà Plutarque từng miêu tả: “vượt qua ranh giới này chỉ còn là vùng đất của những con quái vật và những truyền thuyết, nơi trú ngụ của các thi sĩ và các nhà viết huyền thoại, không thể chắc chắn về điều gì hết” [1,75].

Đối cực là một cuốn tiểu thuyết tham vọng, khi tác giả vừa muốn triển khai câu chuyện cả trên hai nền thế giới: thế giới của hiện thực và thế giới của cõi âm ty, như thế, câu chuyện vừa có tính chất hiện thực, lại có tính chất huyền ảo. Hai thế giới này không tương thông trực tiếp, cái huyền ảo không xâm lấn, tham dự vào thế giới hiện thực, nhưng nó lại giúp giải nghĩa và giải thoát cho nhau. Cả hai thế giới đều viết về hành trình nhân sinh của nhân vật Trần Thạch Sơn. Nếu trong thế giới hiện thực là quá trình tha hóa của Sơn, thì trong thế giới huyền ảo ở chốn âm ty, đó là quá trình hồi thiện, chuộc lỗi và phục hồi nhân tính của nhân vật này. Ngay mở đầu cuốn tiểu thuyết, tác giả đã viết về cái chết của Trần Thạch Sơn, khi nhân vật này gieo mình từ giàn giáo cao xuống cọc nhọn, để chết cùng đối thủ truyền kiếp là tay trùm xã hội đen Huy Philip. Câu chuyện được mở đầu bằng cái chết của nhân vật chính, tạo ra sự tò mò thú vị. Từ đó, hai câu chuyện viết về hai thế giới, hai cuộc hành trình được tái hiện. Nếu như câu chuyện trong hiện thực là một sự hồi cố, quay ngược lại quãng đời sinh viên của Trần Thạch Sơn, nhằm lí giải cho câu hỏi: con người đã bị tha hóa như thế nào? Hay là, chính xác hơn, hoàn cảnh nào đã xô đẩy khiến một cá nhân tha hóa? Thì câu chuyện trong cõi âm ty siêu thực lại là một cuộc hành trình về phía tương lai, nhằm truy tìm bản ngã, sám hối tội lỗi, khôi phục nhân vị và đầu thai tái sinh làm người. Thành công của Trần Đức Tĩnh đó là anh đã xây dựng rất thành công hai câu chuyện, hai thế giới nghệ thuật chỉ trong một tác phẩm. Nếu trong thế giới hiện thực, tác giả đã thể hiện rõ cái nhìn quan sát hiện thực tinh tế, nguồn tri thức phong phú về thế giới ngầm, các băng nhóm xã hội đen, các chiêu ám sát, thanh toán, trốn chạy, buôn bán ma túy, thì trong thế giới siêu thực ở âm ty, Trần Đức Tĩnh đã thể hiện một óc tưởng tượng bay bổng, phóng vượt đầy ám ảnh. Hẳn chúng ta khi đọc cuốn tiểu thuyết này sẽ ấn tượng với những hình tượng siêu thực, phi lý như: đàn sâu nhiều khủng khiếp đến nỗi khi chết đi biến thành nước suýt ngập chết Thạch Sơn trong hang đá, lũ quỷ hút máu người, con trăn đứt đôi người vẫn nuốt chửng được người để rồi nạn nhân chui ra từ phía thân bị đứt, người đàn bà phát dục điên cuồng, các nhóm ăn thịt người… trong thế giới âm ty. Tác phẩm như vậy, vừa có nét phảng phất của truyện kiếm hiệp, chưởng, lại có chất hình sự, trinh thám, lại đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật. Đối cực là một cuốn tiểu thuyết không dễ đọc, có thể vượt ngưỡng tâm lý của một số người đọc thông thường, nhưng lại là một tác phẩm dung hợp nhiều thể loại khác nhau, một tác phẩm nằm trên những lằn ranh thể loại.

Trong thế giới hiện thực, Đối cực kể lại quãng đời từ khi còn sinh viên cho đến khi cái chết của Trần Thạch Sơn diễn ra. Vốn là một sinh viên nghèo, chăm chỉ, có tình bạn bè tương thân tương ái, nhưng cũng vì khó khăn khốn quẫn mà anh phải tham gia bốc vác làm thêm ban đêm tại chợ đầu mối cùng người bạn sinh viên cùng phòng tên Đức. Được anh Hào giúp đỡ, công việc ban đầu suôn sẻ, nhưng Sơn lại không ngờ đó lại là điểm khởi đầu khiến anh trượt sâu vào trong thế giới của tội ác. Từ mối quan hệ với Hào, Sơn quen chị Hoài và được chị mời làm bảo vệ cho quán của chị, trong quá trình làm việc, Sơn với bản tính nghĩa hiệp, hảo hán đã xảy ra ẩu đả với nhóm xã hội đen của Huy Philip, khiến chúng truy sát đến mức phải bỏ học, sống chui nhủi ở nhà chị Hoài. Trong quá trình trốn ở đó, Sơn đã quan hệ tính dục với chị Hoài, sau đó do mọi chuyện bại lộ, Sơn lại phải chạy đến tá túc tại nhà anh Ngọc, rồi lưu lạc lên bãi đào vàng, bị bọn Hạnh gấu truy sát phải bỏ chạy vào rừng sâu. Trong rừng, Sơn và người bạn tên Tân gặp một “người rừng”, vốn là một tay tội phạm truy nã đang lẩn trốn nhằm trồng thuốc phiện. Tên “người rừng” chết, Sơn và Tân ra khỏi rừng rồi sa vào đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy của Phương Hoa. Đường dây bại lộ, bị công an truy nã, Sơn may mắn thoát chết, từ đó hắn xây dựng đường dây buôn ma túy cho riêng mình, bước chân vào thế giới ngầm dưới danh nghĩa những công ty buôn bán bất động sản và kinh doanh du lịch, với những mối quan hệ thân thiết với các chính trị gia, mà tiêu biểu là Hùng chim cút – một người bạn cũ thời đại học. Đối cực đã phơi bày ra những ngõ ngách thâm sâu, tàn bạo, nhiều zic zac dây mơ rễ má nhất trong thế giới ngầm. Ở đó, con người là nạn nhân của chính nó, và một khi đã bước chân vào thế giới tội ác, sẽ chỉ có cái chết mới giúp giải thoát số phận.

Quan niệm về sự tha hóa của con người trong thế giới hiện thực trong Đối cực có nhiều điểm đặc biệt, cho dù không hẳn mọi chi tiết nghệ thuật, diễn biến tâm lý và lựa chọn hành vi đã thực sự thuyết phục người đọc. Trần Thạch Sơn là một nhân vật tha hóa điển hình, hắn từ một sinh viên chăm chỉ, có tương lai sáng lạn, đã trượt dài trong tội ác và tệ nạn. Ban đầu là quan hệ với gái điếm, sau đó là quan hệ xác thịt không cần tình yêu với Hoài, tiếp đến là máu điên cuồng chém giết tại quán của Hoài và tại bãi vàng, sau đó lên đến đỉnh điểm với sự kiện giết người diệt khẩu khi đã là ông chủ khu du lịch. Có thể nói, trong mọi tội ác mà con người có thể mắc phải, Trần Thạch Sơn đã không thể tránh được bất kỳ một kiếp nạn tha hóa nào. Tuy nhiên, điểm đặc biệt của Đối cực đó là tác giả mặc dù miêu tả về kẻ xấu, nhưng không phải để phê phán, mà là để thể nghiệm một cá nhân có thể tha hóa đến mức nào, hoàn cảnh gây ra sự tha hóa, và đâu là nét thiên lương còn lại trong một con người tha hóa. Trong mọi quá trình sa ngã, chúng ta có thể thấy Sơn hoàn toàn là nạn nhân của hoàn cảnh, ví dụ nhằm bảo vệ quán của Hoài, ra tay nghĩa hiệp nên anh mới đánh lại bọn xã hội đen Huy Philip, để cuối cùng bị chúng truy đuổi. Việc quan hệ xác thịt với Hoài là do chị chủ động, cám dỗ. Việc chém giết tại bãi vàng là do hoàn cảnh tự vệ và ước muốn bảo vệ công sức lao động khổ nhọc, việc buôn bán ma túy ban đầu là do không ý thức được thực chất Phương Hoa mướn anh vận chuyển hàng gì, việc giết hai tên nghiện ăn trộm tại khu du lịch là do ngộ sát giết người và nỗi lo sợ tất cả việc làm ăn bại lộ… Trần Đức Tĩnh như thế có cái nhìn nhân đạo về hiện thực, tác giả từ chối chấp nhận sự thất bại của con người trước cái ác, bởi đằng sau tất cả những tội ác, lỗi lầm phạm phải, Trần Thạch Sơn luôn canh cánh giấc mơ thoát ra khỏi vòng danh lợi, sự sám hối luôn thường trực trong lòng, và cuối cùng Sơn đã chấp nhận chết nhằm cứu vớt thiện ngã cuối cùng trong lòng mình. Cuốn tiểu thuyết vì thế, dù nói nhiều đến cái ác, miêu tả kĩ những thủ đoạn trong thế giới ngầm, cũng như sự tàn ác tận cùng của bạo lực, nhưng luôn thấm đẫm chất nhân văn, có thể dẫn dắt con người làm quen cái thiện. Tuy nhiên, có thể cũng vì tính giáo dục đó, mà cuốn tiểu thuyết xuất hiện một vài chi tiết, nhân vật khiên cưỡng, thiếu thực tế và cũng chưa thật logic. Các nhân vật đó đầy lòng tốt và sự chính trực như Trung úy Hưng, chị Hoài, anh Hào, mà đặc biệt là nhân vật võ sư già ở cuối truyện. Tất cả các nhân vật này hầu như không có tính cách cụ thể, số phận mập mờ và chỉ phục vụ cho ý đồ thuyết giáo, luận đề của tác giả.

Thế giới âm ty trong Đối cực lại làm chúng tôi thú vị và chú ý hơn. Có thể nói, tác giả đã gần như dành mọi dự phóng sáng tạo, với trọn vẹn cả ý thức triết học và vô thức tính dục nhằm kiến tạo nên thế giới này. Đọc đến những đoạn viết về thế giới âm ty trong Đối cực, chúng ta như lạc vào một thế giới khác, như thế giới huyền ảo của Tây Du Ký, của Thần khúc, của Ngàn lẻ một đêm. Linh hồn của Trần Thạch Sơn sau khi chết đã bị đày xuống âm ty, phải đi qua rất nhiều chặng đường gian nan, đối mặt với vô số kẻ thù, cửa ải thử thách và những kiếp nạn khủng khiếp. Người đọc, nhất là người đọc dưới 18 tuổi theo chúng tôi không nên đọc Đối cực, bởi trong thế giới âm ty có quá nhiều những hình tượng, hành động ám ảnh bạo lực và nhục dục. Hẳn rằng những hành vi như giao hợp với xác chết (nàng Bạch cốt), giao hợp với động vật (nàng ngựa cái), hình tượng lũ quỷ hút máu, đàn sâu khổng lồ chết biến thành nước ngập người, cảnh anh Hào bị lũ trâu phanh thây, gã yêu tinh đầu chó… là những dự án tiếp nhận không dễ dàng, đòi hỏi người đọc phải có một tầm đón nhận và cơ sở lý thuyết văn học cơ bản để có thể thông hiểu tác phẩm. Những hình tượng và cửa ải kiếp nạn trong thế giới âm ty nhìn chung phức tạp, tồn tại dưới dạng những hình tượng chìm sâu trong vô thức tập thể, đó là những hình tượng có tính chất biểu tượng, là những mẫu gốc hơn là những hình tượng cụ thể. Do vậy, việc giải mã hệ thống hình tượng này là không hề dễ dàng.

Chúng tôi quy các hình tượng trong thế giới âm ty thành ba nhóm cơ bản, nhằm hiểu rõ dụng ý nghệ thuật của tác giả. Nhóm thứ nhất là những hình tượng liên quan đến tính dục và tình yêu, mà tiêu biểu là nàng Bạch cốt, nàng ngựa cái và người đàn bà hứng dục có chồng bị lũ dã man thợ săn hại chết và ăn thịt. Nhóm thứ nhất biểu thị cho cái Id (cái ấy) trong con người, nó là những hình tượng được kiến tạo nên từ vùng tối bản năng tính dục. Những hình tượng này có tính chất thử thách con người trước bản năng, cảnh báo con người trước nguy cơ sa ngã bởi bản năng, và là sự thử thách bản ngã của Trần Thạch Sơn sau những lỗi lầm tính dục mà anh đã mắc phải trên dương gian. Trần Thạch Sơn hay chính xác hơn là linh hồn của anh đã khẳng định được giá trị của mình trước tính dục, anh đã có một tình yêu thuần khiết và cao cả với nàng Bạch cốt, đã từ chối những cơn hứng dục của người đàn bà đồng hành, nhưng anh cũng không chối bỏ bản năng qua việc ái ân với ngựa cái. Hình tượng ái ân với ngựa cái xứng đáng là hình tượng thử thách khó khăn nhất trước những thiết chế đạo đức và tầm đón nhận dẫu phóng khoáng nhất của người đọc, bởi làm tình với động vật là hành vi lệch lạc tính dục bậc nhất trong phân tâm học. Nhưng trong tác phẩm, đặc biệt là thế giới âm ty, nàng ngựa cái là một nhân vật, chứ không phải một động vật thuần túy, sự lệch lạc tính dục của Trần Thạch Sơn, nếu có, chỉ nhằm chỉ ra sự cô độc kiệt cùng của con người trước thế giới, nó vừa có tính ngẫu nhiên, lại vừa có tính bi kịch. Nhóm thứ hai là những hình tượng liên quan đến bạo lực và sức mạnh dã man như đàn sói và cảnh tàn sát đàn sói, đàn sâu, con hổ, lũ đà điểu, lũ yêu tinh, con yêu tinh đầu chó, lũ trâu, con trăn, con lợn lòi, cảnh tra tấn bằng cách luộc chín tù nhân… Nhóm hình tượng này biểu thị cho bản năng tàn phá, bản năng chết (Thanatos) trong sâu thẳm vô thức của con người. Trần Thạch Sơn là một kẻ quen dùng và có sở trường dùng bạo lực trong thực tại. Nhưng trong thế giới âm ty, anh đã dùng bạo lực và khả năng tàn phá của mình nhằm bảo vệ cái thiện, bảo vệ cái yếu và biết chế ngự cái ác trong lòng mình một cách tối đa có thể. Anh từ chối đánh trả linh hồn anh Hào, anh chỉ giết đàn sói, hổ, đàn trâu rừng, con trăn… là nhằm tự vệ và bảo vệ bạn bè, anh đã giúp cho Tướng quân xây cung điện, giúp cho Chủ tướng đánh tan quân thù bằng kế Lục phương hợp nhụy, anh đã vượt qua thù hận với linh hồn Huy Philip, từ chối dùng bạo lực khi đi vào một ngôi làng dù đã rất đói… và như thế, Sơn đã vượt qua được ải bạo lực, gột rửa được tội ác đã mắc phải ở nhân gian. Nhóm thứ ba là những vị thần, phật cai trị dưới diêm vương như Đô Thị Vương, Bình Đẳng Vương, Chuyển Luân Vương, Tần Quảng Vương, Địa Tạng bồ tát, vị sư phụ ở vô cực đã ban cho Trần Thạch Sơn binh khí đại đao… và những thế thân của họ như Chủ tướng, Tướng quân. Đây là nhóm hình tượng đại diện cho cái siêu tôi (sur moi) trong vô thức con người, đó là hệ thống hình tượng có tính cổ mẫu trong văn hóa dân gian, nằm ở tầng vô thức tập thể, lại vừa tồn tại trong vô thức cá nhân mỗi người như những cảnh giới ngăn ngừa con người làm điều ác. Trần Thạch Sơn đã luôn thần phục và hỗ trợ cho những vị thần và bồ tát, nhưng anh không cúi đầu trước họ, mà chỉ hướng theo chính nghĩa. Anh sẵn sàng quát lớn vị trụ trì (do Địa tạng bồ tát hóa thành): “Nhà ngươi là ai mà có mắt như mù?… Ta thấy ngươi ngồi trên ngai vàng mà vô vị. – Tôi chỉ tay vào vị ngồi trên ngai vàng nói… Thế ngươi có biết lũ lâu la ở trên núi xuống bạo hành dân chúng thế nào không?” [2,399].

tranductinh-chandung-content


Về mặt hình thức nghệ thuật, chúng ta có thể thấy Đối cực có một kết cấu dựa trên hai câu chuyện, kể về hai thế giới, và chiều thời gian nghệ thuật của hai câu chuyện này là ngược nhau. Câu chuyện trong hiện thực là hồi cố, bởi ngay từ khi câu chuyện bắt đầu, tức ở điểm hiện tại, thì nhân vật Trần Thạch Sơn đã tự sát và sắp sửa đón nhận cái chết. Câu chuyện ở âm ty là sự phát triển tịnh tiến đến tương lai, sau khi nhân vật đã chết, từ khi mới chết vài ngày cho đến mốc 49 ngày và cả sau đó. Cả hai câu chuyện dù ngược chiều thời gian, nhưng lại cùng chung một đích đến, đó là giải thích (câu chuyện trong thực tại) và giải thoát (câu chuyện dưới âm ty) cho thực tại. Tác phẩm cũng có hai người kể chuyện, người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “tôi” và người kể chuyện ngôi thứ ba có tính toàn tri. Tuy người kể chuyện thứ nhất xưng tôi chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cần tinh ý rằng, “tôi” này là tôi đã chết, tức là một linh hồn đang kể chuyện, chứ không phải cái tôi đang sống trong thực tại. Về thực chất, cái tôi đang sống chỉ hiện hữu trong vài dòng ngắn ngủi ở đầu truyện. Việc sử dụng nhân vật tôi – tức người kể chuyện là một kẻ đã chết hẳn có dụng ý nghệ thuật của tác giả, cái tôi này như thế vừa phần nào mang tính toàn tri (vì nó đã chết và là một linh hồn hồi cố), lại vừa tạo tính tương thông giữa hai thế giới: hiện thực và âm ty. Nó là một cái tôi chiêm nghiệm trong một thế giới hỗn độn, gấp gáp và xoay vòng trong bạo lực.

 Trần Đức Tĩnh - Ảnh Hà Giang

Trần Đức Tĩnh là một nhà văn trẻ sinh năm 1976, điều đáng ngạc nhiên đó là anh là một sĩ quan quân đội, nhiều năm làm chỉ huy tại Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 trước khi công tác tại Nhà xuất bản Quân đội, là một nhà văn quân đội, nhưng anh đã dũng cảm dấn thân trong sáng tạo nghệ thuật, không ngần ngại bất cứ những giới hạn và taboo nào trong sáng tạo. Đối cực là cuốn tiểu thuyết đầu tay, tuy còn nhiều điểm trong cốt truyện chưa thật hợp lý, tính chất tư tưởng cần thâm sâu hơn, tránh lộ liễu như ở cuối truyện, nhưng chúng tôi cho rằng, bất chấp những hạn chế ấy, Đối cực vẫn là cuốn tiểu thuyết đáng đọc và suy ngẫm nhất hiện nay của các cây viết trẻ trên văn đàn nước nhà. Chúng tôi cũng tin rằng, Đối cực chỉ là một thể nghiệm ban đầu cho sự nghiệp sáng tạo đường dài đầy nội lực của nhà văn ở phía trước.

YẾN THANH

Tài liệu tham khảo

 

  1. Plutarque (2007), Những cuộc đời song hành, Nxb Tri thức, Hà Nội.
  2. Trần Đức Tĩnh (2014), Đối cực, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 116085)
Trên trang văn hóa báo Le Monde hôm nay có bài giới thiệu về một cuộc triển lãm ảnh của phóng viên ảnh chiến trường người Pháp Henri Huet về cuộc chiến tranh Việt Nam với Mỹ qua bài viết: "Chiến tranh Việt Nam : Những hình ảnh, bạn hữu và cái chết".
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112168)
C húng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Tết Giáp Tuất. Tôi về sống ngôi nhà của Quý, phía nam phần lục địa. Trái đất xoay như thỏi đá cứng, những cạnh gai góc cắt vào chốn vô hình. Mỗi trưa, tôi với Quý và Chiến - cũng một người bạn ở nhờ - bầy những tiệc rượu đón bắt những vô hình mà cả ba đều linh cảm rất rõ, theo sóng của cây rừng tràn đến tận thềm. Cả một triền núi lươn lướt tắp đến bàn rượu. Cơ ngơi của Quý to lớn sừng sững.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 107859)
H ồ Đình Nghiêm, sinh ở Huế. Làm thuyền nhân trôi giạt qua Hồng-kông năm 1979. Định cư ở Montréal từ 1980. Viết lai rai cho hầu hết các tạp chí xuất bản tại hải ngoại, cộng tác với Hợp Lưu ngày từ số ra mắt. Đã in bốn tập truyện ngắn...Chưa hề trở lại cố quận đìu hiu.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 140228)
Đừng đánh thức giấc mơ tôi trong lúc ngửa mặt lên trời hứng những giọt mưa đêm tháng chạp với hình ảnh duy nhất là đôi mắt em.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 104703)
Ernest Miller Hemingway (21 tháng 7, 1899- 2 tháng 7, 1961) là một nhà văn, nhà báo Mỹ. Cách viết văn riêng biệt - biểu thị qua đặc điểm lối mô tả khiệm lời và khiêm nhường - cũng như những cuộc phiêu lưu và hình tượng công chúng của ông đã tạo nên nhiều ảnh hưởng cho nền văn chương hư cấu của thế kỷ thứ 20.
23 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 117253)
Chương trình phát thanh tiếng Việt hàng ngày của đài BBC, Anh Quốc, quen thuộc với người Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, sẽ chính thức ngưng hoạt động sau buổi phát thanh cuối cùng vào Thứ Bảy 26 tháng 3 từ 14 giờ 30 đến 14 giờ 45 giờ quốc tế hay từ 9 giờ 30 đến 9 giờ 45 phút giờ Việt Nam.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 94333)
Hoàng Chính chuyển ngữ từ Peeling trong tập truyện "The Fat Man in History" của Peter Carey. Peter Carey, tiểu thuyết gia người Úc, sinh ngày 7 tháng 5, 1943, hai lần đoạt giải Man Booker với các cuốn "Oscar and Lucinda" (1988) và "True History of the Kelly Gang" (2001). Hiện Peter Carey dạy đại học tại New York.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 110998)
Những cái chết sau quá khứ về sau vẫn tiếp tục tiếp diễn mãi cho đến tận bây giờ. Những cái chết trên biển, bên kia biển, và bên này đất liền.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 136633)
Tháng Mười chơi trò xếp đặt Những con rồng được tạc bằng xương người Những con rắn cong khô trên bếp than cời Dưới nền trời xám và khô Phố phường mạ bằng vàng mã Người người ướp lạnh.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 103553)
T rước năm 1975, mỗi dịp Tết âm lịch, văn gia và dân chúng miền nam thường làm lễ kỷ niệm chiến thắng Tết Kỷ Dậu (31/1/1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Đây là một trong những võ công vệ quốc lịch sử của dân tộc Việt chống lại âm mưu thôn tính của bắc phương từ ngày giành được độc lập năm 939–sau khi Ngô Quyền (898-944) phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (theo Nguyễn Trãi, còn gọi là sông Vân Cừ), khai sinh ra một vương quốc mới, tức Đại Việt (từ năm 1054) hay Việt Nam (từ năm 1804). (1)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7623)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14736)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13518)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14060)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1950)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2128)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2104)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1252)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2239)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1567)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2055)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1424)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2223)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2788)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4381)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1217)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1323)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1810)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2377)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26698)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33303)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33321)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8014)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10378)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3339)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3299)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3168)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3512)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4966)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4515)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5855)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.