- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Sông Tô Châu

14 Tháng Năm 201412:00 SA(Xem: 58998)


hoang_hai_lam-content
 Hoàng Hải Lâm -2013

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Hoàng Hải Lâm, sinh năm 1979, hiện đang sống và làm việc tại Quảng Trị, Việt Nam, đã có một số truyện ngắn đăng trên báo Văn nghệ, Lao động, Tiền Phong.... Với lối viết lạnh, khô khốc, truyện ngắn “Sông Tô Châu” của Hoàng Hải Lâm như vết cắt sâu về nỗi bất hạnh và đớn đau…Xin mời quí bạn đọc cùng chúng tôi đi vào không gian truyện "Sông Tô Châu".

Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

 

Sáng dậy, Thung không thể tự nhấc mình ra được khỏi giường nằm. Thân cô như rã nát sau đêm tân hôn mà có lẽ cả cuộc đời này Thung sẽ không bao giờ quên. Thung nghe khát, cổ họng cô rát bỏng bởi những cuộc làm tình của mấy gã đàn ông trong nhà này. Chồng của Thung đâu, Thung cũng không nhận ra được trong đám người kia ai là đức lang quân của mình. Họ gần như giống nhau với đôi mắt một mí, sóng mũi khoằm và tóc cắt đầu đinh. Họ có điệu cười khanh khách khi bước vào phòng Thung. Thung nghe lòng mình nghẹn đắng, cô không khóc vì nếu nước mắt rơi thì ở quê hương lòng mẹ cha chua xót. Sau đêm tân hôn mà như kết thúc một đời người, cô nghe đời mình tựa đám mây nhẹ nhàng trôi, không có gì đọng lại ngoài khuôn mặt cúi gằm xuống đất. Gã đàn ông thứ sáu và cũng là đứa cuối cùng nhảy lên người Thung trong đêm tân hôn đáng tuổi em Thung. Nó hơi rụt rè, vụng về và quấy quả nhưng sau đó chê bai Thung lỏng tuột. Nếu có đặt tên, Thung sẽ không biết gọi tên đêm hôm qua là gì. Một cuộc hiến xác tế thần hay là trò đời dâm đãng, đó cũng có thể là bài học đầu tiên của một ngôi trường làm tình tập thể mà thầy giáo không ai khác là Ôn Hùng chồng Thung và năm đứa em của hắn. Ở căn phòng này nhìn ra ngoài có thể thấy sông Tô Châu chảy miên man, ánh sáng sớm mai cũng đã chảy cùng nước sông bàng bạc. Thung nhớ sông Cửu Long sóng tràn bao mùa lũ, rồi những hạt phù sa nằm lại cho cây lúa tốt tươi.

Thung thuộc hàng con gái xinh ở miền sông nước, nhưng bị đớt nên không có nỗi một tình yêu. Còn nhớ chiều đó khi ra bờ sông ngắm lục bình trôi miên man trên dòng nước thì nhà Thung bốc cháy rừng rực cùng tiếng khóc của mẹ Thung. Ba Thung thiếu nợ người ta có đến mấy chục triệu đồng tiền ăn nhậu và bắt bóng đá, Euro 2012 rộn ràng với biết bao gia đình. Nhà nào cũng quẫn bất vì thiếu tiền ném vào bóng đá. Có nhà không thanh toán được nợ nần rồi tự sát bằng cách đâm đầu vào xe... Người ta đòi tiền ba Thung, lôi mẹ Thung ra rồi châm lửa đốt nhà Thung. Lửa bén tang thương như cuộc đời cô độc tự kết liễu. Họ đòi tiền, nếu không có tiền trả họ là họ giết chết cả ba Thung. Chúng bỏ đi khi ngôi nhà cháy hơn phần nửa. Hai hôm sau, bọn chúng quay lại nhận tiền từ tay Thung. Thung bước lên ghe đi với một người Hoa đến chốn thị thành, cô trở thành cô dâu người Hoa từ đó. Một cuộc hôn nhân với 7.000 nhân dân tệ, Thung bước đi xa xôi. Gió thổi, nước trôi, chợt nghe hoa điên điển tàn cả một khung sông buồn mang mác. Cô thôi nói tiếng mẹ đẻ. Thung lắng nghe những rách nát của cuộc sống qua những con người sống quanh cô.

- Cô chỉ việc nấu nướng, giặt giũ và tối về phục vụ cho sáu anh em chúng tôi.

Ôn Hùng nói tiếng Hoa nên Thung không hiểu. Ôn vào nhà lấy gạo cho vào nồi, sau đó lấy quần áo bẩn cho vào chậu rồi sau nữa lột trần quần áo của Thung rồi nhảy lên người Thung trước mặt năm đứa em mình. Ôn làm điều đó để minh họa cho việc Thung sẽ làm trong một ngày rồi ôn bước đi cùng năm đứa em thả lại những tiếng cười bì bõm nhấn chìm Thung vào trong vũng đời nhơ nhớp. Thung ngồi trân trối nhìn dòng Tô Châu. Dường như chính sông cũng không mang nỗi cơn bão tố của lòng Thung trong lúc này. Cô cố kìm lòng nhưng nước mắt vẫn tuôn rơi. Cánh lục bình trôi còn có lúc dừng lại, còn đời cô… mênh mông một chuyến xe người. Cô chở đời con ngựa cô cùng sáu anh em nhà họ Ôn bên dòng Tô Châu buồn lặng lẽ.

Thung có thai, con của ai đó trong sáu anh em của nhà họ Ôn. Cô chỉ vào bụng cô cho Ôn Hùng hiểu. Đêm hôm đó, không một người đàn ông nào trong gia đình này vào phòng của Thung. Họ ngồi ở nhà trên nói với nhau điều gì đó đến khuya mới đi ngủ. Dường như là một cuộc họp gia đình. Thung nghe có chút ấm ở trong lòng, chắc gia đình Ôn họp bàn lo cho đứa bé. Chỉ không đầy năm là Thung có con để bầu bạn, để có lý do sống tiếp quãng đời còn lại trong căn nhà ở bên dòng sông Tô Châu.

Mùa đông đến, tuyết trắng phủ đầy và sương giá mênh mang. Thung đẫm tay mình trong xô chậu để giặt quần áo cho một gia đình có đến bốn người là lính hải quân. Ôn Lâm, Ôn Đào, Ôn Phúc và người con trai út Ôn Dịch. Người kế anh cả Ôn Hùng là Ôn Thần. Hai người này bán vải sợi ở chợ gần Tô Châu. Bây giờ Thung đã biết đến tên của họ và thuộc lòng những nét mặt, những cử chỉ của con người trong gia đình này (bằng cách nhắm mắt lại và nhìn họ trong những hành động). Ôn Dịch gần hai tháng mới trở về nhà nhưng không bước vào phòng của Thung. Thấy vẻ lạ Ôn Hùng thắc mắc thì bị Ôn Dịch nói như tát vào mặt. Nhục! Dừng ngay cái trò đớn hèn trong căn nhà này lại. Lịch sử của Trung Hoa bị mấy người làm hoen ố mất rồi. Và Ôn Hùng giáng một cái tát vào mặt Ôn Dịch. Hoen ố à, đớn hèn à. Mày có tiền để đi cưới vợ riêng không… Thung đứng ở cửa, cô nghe được có từ vợ trong ngôn ngữ Trung Hoa. Chuyện liên quan đến cô nên Ôn Hùng và Ôn Dịch mới bất đồng. Thung lặng người phía sau tấm liếp nhìn Ôn Dịch. Hình như con người này thương cô, hay chí ít là đang làm một điều gì đó đấu tranh cho lẽ phải. Đến chiều thì Ôn Dịch lại xách gói ra đi, đoạn đi ngang phòng Thung Ôn Dịch có ghé ngang qua dặn dò có mấy điều vẻ kiệm lời cho Thung hiểu. Nhưng Thung không hiểu được những lời Ôn Dịch nói. Cô ấm ức mãi rồi thì nước mắt chảy tràn trên làn mi. Ôn Dịch khó chịu đến độ vày vò khuôn mặt của mình nhão nát. Đã bước chân lên cái đất nước này thì cô cũng biết thế nào là khốn nạn kiểu Trung Hoa chứ. Ôn Dịch đi, hôm sau Thung sảy thai đứa con đầu lòng. Máu chảy tràn xuống giữa hai bắp đùi Thung và ruột gan cô như bị cào xé. Hôm đó Ôn Hùng và Ôn Thần ở nhà nhưng hai người đó không hề vịn tay đến cô. Họ chỉ liếc ngang rồi cười khẩy nhìn cô khi thu dọn đồ để đi ra chợ. Và Thung ngầm hiểu những lời dặn dò của Ôn Dịch ngày hôm trước. Cô làm sao hiểu được trong bát cháo chân ba ba mà Ôn Hùng đưa cho Thung có những gì. Trời ơi con của mẹ! Cô nhoài người xuống và hót khúc ruột nhỏ bé của mình bỏ vào trong một ống nứa rồi cô lịm dần đi. Đến chiều tối tỉnh dậy, người Thung cứng đờ ra bởi muôn lớp máu khô dính quần áo vào da thịt. Và cả trên tóc. Từ chỗ Thung nằm máu khô trớt như một vũng nhựa cây soi ra dưới ánh sáng mặt trời. Cô cố nhoài người dậy nhưng không thấy cái ống nứa đâu liền bò lê tìm khắp trong nhà. Đến đoạn cô tìm thấy cái ống nứa ở gần chỗ Ôn Hùng, cô đưa tay với thì bàn chân của Ôn Hùng dẫm lên tay của cô. Ôn Hùng cúi xuống và nhặt ống nứa mang ra ngoài, có lẽ hắn mang đi chôn cái sinh linh nhỏ bé của dòng họ Ôn nhà hắn. Thung cố bò đến cửa quan sát từng bước đi của Ôn Hùng, đến đoạn chiếc cầu hắn liệng cái ống nứa xuống dòng Tô Châu. Thung ngồi nhìn trân trối cô như chết lặng, cái lạnh bạt ngàn của mùa đông bên xứ người ào ạt đổ về trong tâm hồn bé bỏng của cô. Trong cái phút giây đó Thung không gào thét, cô cũng không khóc, chỉ có cái nhìn trân trối đáp lại cho hành động của chồng cô. Ở xứ sở của hoa tuyết trắng lạnh, Thung nhớ hoa điên điển nở vùng sông nước Cửu Long trong mỗi mùa nước nổi. Cô nhớ cảnh hôm đứa con dì Thu mất. Trong cảnh biệt ly đó người mẹ khóc, người cha khóc, cả những người thăm đám cũng khóc theo. Có bao yêu thương bồng bế lên nhau khiến người ta vượt qua được nỗi đau cho lòng sống dậy. Ở đây, một mình Thung một tiếng khóc lạc loài. Cô nghe mình dần chết đi với lòng yêu thương con và sự bạc bẽo của con người. Ngày trước, khi chưa đến nơi đây ông lái thuyền nói nhà họ Ôn tốt lắm!

Thung mang thai đứa con thứ hai, lần này cô biết chắc là con của Ôn Hùng. Vì có hơn tháng nay Ôn Thần bệnh nặng cứ nằm ho khụ suốt ngày còn bốn người lính hải quân anh em của Ôn Hùng không được về nhà vì biển đông dậy sóng. Nghe nói tranh chấp lãnh hải với Việt Nam. Ôn Hùng vẻ vui hơn bất cứ ngày nào kể từ khi Thung làm con dâu nhà họ Ôn. Hắn chăm chút cho Thung nhiều hơn, hắn không để Thung ăn cháo hầm chân ba ba nữa mà thay vào đó hắn hầm gà ác gửi mua từ miền biên giới về. Lần đầu tiên Thung thấy hắn khóc khi sờ vào bụng cô, chỗ có cái bào thai đang lớn lên từng ngày trong cơ thể Thung. Hắn ra hiệu xin lỗi Thung và Thung biết, hắn chỉ muốn Thung sinh con cho hắn chứ không phải là đứa con của họ Ôn tập thể. Gia đình Trung Hoa là đây, ở chỗ Ôn Hùng. Cô dần biết những chiêu trò độc tôn trong dòng họ Ôn. Cô bưng bát cháo húp mà lòng nghe bao điều chua xót vì ở cánh cửa phòng bên cô nhìn thấy Ôn Thần nhìn xéo qua bụng cô rồi cười nghe ran rát hòa lẫn vào tiếng nôn mửa. Cô co rúm hai chân mình lại và buông bát cháo để hai tay giữ cái bào thai. Ánh mắt Ôn Hùng và Ôn Thần đụng nhau khó hiểu. Từ chiều hôm đó, phòng của Thung được đặt một ổ khóa, chỉ có Ôn Hùng mới vào được chỗ Thung. Tối đến, Ôn Hùng mở cửa cho Thung giặt đồ, nấu nướng rồi khóa Thung lại trong đó. Ôn Thần bị bệnh nằm ở nhà nhưng Thung vẫn thấy an tâm vì đứa con đã được bảo vệ. Cái thai lên ba tháng tuổi và Thung nghe hạnh phúc từng ngày. Mỗi tối, Ôn Hùng đều mang vào cho Thung một bát cháo bổ dưỡng nhưng Thung lại sẩy thai lần thứ hai. Ôn Hùng khóc nức nở rồi ghì sát đầu Ôn Thần vào tường đánh đến trọng thương. Mặt Ôn Thần nhuốm máu nhưng miệng hắn thì vẫn nở nụ cười màu sắc Trung Hoa. Thì ra hơn tuần hắn khỏi bệnh nhưng vẫn vờ khó ở nằm ở nhà để mục kích và tàn sát một sinh linh trong dòng họ Ôn nhà hắn. Một lần nữa nước mắt Thung rơi trên cái bào thai, Ôn Hùng bỏ đi không nói một lời nào. Thung lại cho cái bào thai vào ống nứa và rồi Ôn Thần liệng nó xuống sông trong con mắt của mùa đông quạnh vắng.

Tiết trời đang lập xuân, mưa bay lất phất và cỏ xanh dọc hai bên của dòng Tô Châu. Thung bước ra ngoài nhìn về cuối ngọn nguồn con sông. Đi hết con sông này chắc tới biển. Giờ đây cô ước mình là một giọt nước của con sông này để rồi một lần được về với biển. Ở đó, dù có rã nát cô cũng an lòng. Cô mong khi đến tận cùng của một sự sống là một sự sống khác (không phải là cô). Cũng sắp đến tết cổ truyền, dịp này nhà họ Ôn chắc sẽ tụ tập về đây đầy đủ. Cô nghe lạnh bởi suy nghĩ của mình chạy về trong sự rách nát của đêm tân hôn. Sáu người đàn ông đã rượu bước vào cuộc tàn và Thung trở thành đồ chơi tình dục. Nhưng rồi mùa xuân đến, biển đông vẫn dậy sóng nên có bốn người không về. Ở nhà lúc này chỉ có Ôn Hùng và Ôn Thần, Thung sẽ cố gắng làm vừa lòng họ. Nhất là đối với Ôn Thần, hắn ngấp nghé năm mươi rồi nhưng bờ vui thì sóng soãi. Không vừa lòng hắn đích thị Thung bị một trận đòn roi mà dù có đau lắm Thung cũng không kêu được Ôn Hùng cứu đỡ. Có lần bị Ôn Thần đánh trong cơn hoan lạc, Thung kêu cứu nhưng Ôn Hùng đến nhìn và nhếch mép cười. Cô biết mình là đồ chơi tình dục và là một cái máy đẻ chưa hoàn thành nhiệm vụ đối với dòng họ Ôn.

Thung mang thai lần ba thì những cuộc tình của lính hải khiến đứa bé không giữ được. Lần này chỉ một mình Thung biết, cô lẻn trong nhà đem chôn bào thai ở một góc vườn. Mấy hôm sau ở chỗ gốc cây gần mộ con Thung có hoa Ưu Đàm nở. Nhiều người xa gần ở Tô Châu đến xem. Hoa Ưu Đàm 3.000 năm mới nở một lần, điềm tốt cho anh bình trong thiên hạ. Thung cũng đến xem hôm đó, cô cố tình đứng che nấm mộ để khỏi có người dẫm lên đó. Nhìn Thung Ôn Thần vẻ dò xét, sáng hôm sau Ôn Thần đem bó nhang thắp chỗ có mầu đất mới. Hắn gạt lớp đất nhô lên và Thung hiểu vì sao hắn làm vậy. Hai lần trước những ống nứa chứa bào thai bị vứt xuống dòng Tô Châu rồi nên Thung hiểu.

Chiến tranh biển đông có thể xảy ra, ở trong nước bây giờ đang xảy ra cuộc nội chiến. Người ta lo lắng đủ điều, người dân đem tất cả tiền dự trữ để mua vàng miếng và chính phủ thì chuẩn bị để sẵn sàng cho một cuộc chiến ngoài biển khơi. Nghe nói đã có máu chảy ở biển đông và tàu chiến từng ngày tăng tốc trên biển. Những cái bắt tay và nụ cười diểu cợt của chính phủ khiến tình hình thêm căng thẳng. Tô Châu đã xảy ra mấy cuộc thanh toán lẫn nhau vì không chịu trả hết nợ nần. Gần chiến tranh rồi các khoản tiền phải thu lại và phía chịu nợ nhân cơ hội này chi đến 50 phần trăm cho bọn xã hội đen để thanh toán chủ nợ. Xác Ôn Hùng rơi tỏm xuống dòng Tô Châu trong ngày đó rồi kế đến là Ôn Thần. Thung mang thai đến tháng thứ tư nhưng cô giấu bặt. Cô tìm cách trốn khỏi Tô Châu trong một đêm, đi đến một đoạn khá xa cô bị cảnh sát tóm và trả về chính quyền Tô Châu. Sáng thứ ba thì Ôn Lâm và Ôn Đào đến nhận Thung về, nghe đâu Ôn Phúc chết bởi một lần giao tranh ở trên biển. Trên đường về Thung còn nghe chúng nhắc về Việt Nam rồi chúng đánh cô vào đầu. Đêm hôm đó, Ôn Lâm và Ôn Đào cùng lúc hành hạ cô và chúng phát hiện cô mang thai. Sáng hôm sau Ôn Dịch về, hai người anh bảo Ôn Dịch nấu chân ba ba với hạt ý dĩ cho Thung ăn rồi biến mất mấy ngày không thấy lại. Ôn Dịch nói được mấy câu tiếng Việt học lõm từ đâu đó. Thôi, trốn đi đừng để hai anh tôi thấy. Cái đó đừng ăn, hư thai… và Thung khóc khi Ôn Dịch đã bước đi.

Đêm về trên dòng Tô Châu vàng rưng rức, Thung bước nhanh dọc con sông đến bên cồn bãi thì bắt gặp hai bóng đen lù lù kéo tới. Ôn Lâm và Ôn Đào đứng trước mặt Thung. Dưới chân chúng là xác của Ôn Dịch. Cô thấy không, kẻ phản bội dòng họ Ôn đều có kết cục như thế này. Cô tính sao? Đào tẩu hả. Chúng cười rộ lên như người điên khiến Thung hốt hoảng. Thung chạy ngược lên cầu nhưng phía bên kia là Ôn Lâm còn phía bên này Ôn Đào đứng chắn. Thung nghe mình sắp gục ngã nhưng nhìn xuống bụng mình, Thung bước đến thanh sắt nối cầu. Cô bước chân lên đó và nhẹ nhàng rơi xuống dòng Tô Châu. Trong khoảnh khắc đó Thung còn nghe được tiếng cười hết sức sương giá của Ôn Lâm và Ôn Đào. Đoạn đó, có ai hát trên dòng Tô Châu nghe vang vọng

Thôi hết từ đây sương với khói

Mảnh hồn ai gọi tiếng Tô Châu

Sông chảy, người trôi đời vọng tưởng

Thương lòng dây buộc khói mênh mang

Không ai còn nhìn thấy Thung bên dòng Tô Châu, cuốn gia phả ngàn đời của họ Ôn bị đánh cắp. Một dòng uất hận cuộn lên trong Ôn Lâm và Ôn Đào. Họ phát tin tìm Thung khắp nơi nhưng không có ai tìm gặp cả. Người ta nói chắc xác Thung bị kìm ở đâu đó bên dưới dòng Tô Châu hoặc đã trôi ra đến biển và làm mồi cho cá. Ở Tô Châu, thi thoảng có một vài người Việt đến thắp hương bên sông tưởng nhớ về Thung qua mấy câu chuyện được ghi lại trên báo giới. Nghe nói tin tức về con dâu nhà họ Ôn bị lộ ra bởi cuốn nhật ký của Thung gửi một người hàng xóm. Đó là gia đình có thù với dòng họ Ôn.

Chiến tranh trên biển xảy ra, bất chấp những dòng dư luận lên tiếng về cuộc đời người con gái Việt làm dâu nhà họ Ôn. Ôn Lâm và Ôn Đào cũng được dẫn đầu một đám quân trên chiến sự biển. Có đến mấy năm không cải thiện được tình hình biển đông. Ôn Lâm và Ôn Đào trở về với vai trò người lính. Lúc giải ngũ về ngôi nhà bên dòng Tô Châu. Trên đường về họ bắt gặp một người thanh niên khoảng hai mươi tuổi và người đàn bà đứng trên chiếc cầu. Ôn Lâm và Ôn Đào bị hạ sát trên dòng Tô Châu. Người ta thấy người đàn bà và người thanh niên đó bước vào nhà họ Ôn. Trước bàn thờ dòng họ Ôn, người đàn bà châm lửa để đốt những tờ giấy được lôi trong một cái hộp vàng tựa hộp đựng gia phả nhưng người thanh niên đã giựt lại.

Sáng hôm sau, người ta nhặt được xác của một người đàn bà bên dòng Tô Châu. Cảnh sát báo đó là con dâu nhà họ Ôn bị mất tích cánh đây hai mươi năm. Mấy ngày gần đây có người nhìn thấy bà cùng một người thanh niên đi khắp Tô Châu lùng sục ai đó.

Nghe nói chàng thanh niên đó là con trai Thung tên Ôn Thục.

Một năm sau đó Ôn Thục chết trong chiến sự trên biển đông được nhà nước Trung Hoa suy tôn là liệt sỹ. Được biết đó là người cuối cùng thuộc dòng họ Ôn bên dòng Tô Châu ./.

HOÀNG HẢI LÂM
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1641)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1238)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1783)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1571)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1871)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1809)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1690)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1511)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2206)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2366)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9445)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16254)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15264)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15621)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1640)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1783)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1870)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2206)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4311)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6117)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5475)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6070)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1570)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1809)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2016)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1881)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1690)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1511)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1693)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1691)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12431)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28678)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35215)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35091)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9969)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12061)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1237)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1783)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2206)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2366)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2737)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7095)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6518)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8512)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.