- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TRẦU CAU TÂN TRUYỆN

17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 62882)

trau_cau


 

“Vua vạch lá trèo lên nhìn khắp mọi chỗ và sai một người trèo cây hái quả xuống nếm thử. Vị chát không có gì lạ. Nhưng khi nhai với lá cây dây thì một vị là lạ đến ở đầu lưỡi: nó vừa ngon ngọt, vừa thơm cay.

Vua sai lấy cả ba thứ nhai lẫn với nhau thì bỗng người thấy nóng bừng như có hơi men, môi đỏ tươi sắc mặt hồng hào tươi đẹp. Vua bảo:

- Thật là linh dị! Đúng là họ rồi! Tình yêu thương của họ thật là nồng nàn thắm đỏ.”

 

 

Khi em vừa lên 7 tuổi, anh Hai anh Ba tròn 15 tuổi, nghề trầu cau Nam Phổ hầu như suy tàn, đã qua thời kỳ cực thịnh. Vườn cau xưa san sát nhau vắt vẻo nhìn trời xanh đã thưa thớt, hàng cau già khẳng khiu trong gió. Cảnh thương lái thu mua tấp nập vào mùa cau rộ chỉ còn lại trong những câu chuyện kể chen lẫn tiếng chắt lưỡi thở dài như thạch sùng đeo dính thân cau của vú Mười hàng đêm.

 

Mỗi lần trời nắng trong, bên bốn gốc cau hồng, loại tứ quý cuối vườn, trên tảng đá xanh to bằng cái bàn lớn, anh Ba nằm ngửa cổ nhìn vòm trời, em ngồi chèo queo trên thảm cỏ đậu phộng nở hoa vàng rung rinh như ngón tay út, em lại nèo nẹo:

- Anh Ba, kể chuyện làng cau mình xưa cho em nghe đi!

- Ờ, thôn mình ri là Tây Phổ nằm bên kia sông Lợi Nông, là một trong năm thôn của làng Năm Phổ. Em không nghe vú Mười hay ru em như ri :

 

Ru em em théc cho muồi

để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

mua vôi chợ Quán, chợ Cầu

mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

 

Từ Tây Phổ ri mà đi qua Phổ Đông, Phổ Trung, Phổ Nam, Phổ Thượng phải qua một con sông một cái cầu mới tới được chợ Mai, Chợ Dinh, Chợ Gia Lạc.

Đếm mùa cau rộ, trong nhà ngoài sân hàng chục nhân công ngồi xếp lớp róc vỏ cau , tiện chum sạch sẽ rồi bổ ra thành miếng tám, miếng sáu, miếng tư xếp vào những cái xề lớn đường kính hai sãi tay người lớn. Cau tươi gửi đi xuống chợ lớn được đóng vào những giỏ tre đan như cái bội gà lớn sau khi lót tơi lá cau và mo cau cho thật kín. Cau khô thì hong trên những chảo than hồng phủ tro được vây kín lại bằng cái bồ bằng cót đan khít mắt. Ngày đó cau khô nhà mình chứa trong mấy bồ cót to kín hết mấy gian nhà.

Anh Ba lấy tay quẹt vào má em, cười thành tiếng:

- “Con gái Nam phổ, ở lỗ trèo cau”, may cho mi nhé bé, chừ mi lớn đã hết cau, lấy đâu cho mi ở lỗ mà trèo!

-Răng mà cau Năm Phổ mình lại ngon nổi tiếng hả anh?

-Thì nhờ con sông Lợi Nông mà thôn mình được cái thổ nghi trồng cau bánh dầy, hội đủ tiêu chuẩn bốn sao “Mỏng vỏ, Nhỏ xơ, Tơ lòng, Trong ruột”.

-Trời, chi mà nói hay rứa anh hè?

- Anh chắc là không có cau mô mà ngon như cau phổ thôn mình cả, vỏ thì mảnh dẻ , ruột lại non xơ dai dai giòn giòn, hạt cau gân đỏ li ti như huyết mạch, bổ tư , bổ sáu ra ruột cau trong veo mọng nước. Bé hiểu chưa? –bao giờ anh Ba cũng kết thúc câu chuyện bằng cái cốc nhẹ lên đầu em.

- Còn em? Vú Mười nhặt được em ở mô?

- Thì ngay tảng đá này nè, dưới gốc cây cau hồng tứ quý. Em nằm trong bọc lụa đỏ, da trắng như bẹ cau thơm ngát như hoa cau, tiếng khóc to như còi tàu hỏa. Vú Mười nói chắc em là con gái của bà Cau Chúa.

 

Em vùi tóc vào lòng anh Ba nũng nịu:

- Anh kể cho em nghe chuyện cổ tích Trầu Cau đi mà!

-Trời phật, ngày nào cũng hành hạ anh bắt kể đi kể lại có chừng nớ thôi- miệng thì cằn nhằn nhưng tay anh Ba vẫn gãi nhè nhẹ vào sống lưng còm nhom thiếu sữa mẹ của em, vừa thủ thỉ kể:

- Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai sinh đôi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em. Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu ngau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước….

 

Câu chuyện mới quá nửa, em đã ngoẹo đầu ngủ say trong lòng anh Ba. Anh Hai sầm sầm bước tới, cau trán:

- Đã nói mi đừng kể mấy chuyện lăng nhăng như rứa cho hắn nghe!

Rồi nhẹ nhàng xốc em trên tay, đi vào nhà, đặt xuống mặt phản gổ mít nhẵn bóng. Em chần chừ nấn níu hồi lâu chưa chịu rời buông vòng tay quanh cổ anh, lẩm bẩm trong cơn ngái ngủ:

- Anh Ba, anh Ba…

 

Một hơi thở dài lướt qua trên tóc em, ẩn ức, nặng nề.

 

 

Anh Hai và anh Ba là hai anh em sinh đôi. Vừa sinh hai anh em ra là mẹ Cả qua đời, tuổi thơ hai anh em trôi qua trong khu vườn u tịch, hàng cau cũng u tịch, niềm u tịch len lỏi vào trong không gian. Cha ở vậy nuôi hai con trai, cô độc đứng sừng sững như hàng cau cứng cỏi vươn cao vắt vẻo tới trời xanh, chỉ trong đêm tĩnh lặng, mới nghe tiếng thở dài của hàng cau.

 

Đêm Huế tĩnh mịch đến nỗi nghe cả tiếng hàng cau trở mình thở dài, tiếng tàu lá chuối rách bươm xác xơ xào xạc, tiếng chim Từ Quy lẻ bầy kêu thương chao chác, tiếng tàu cau rụng giật mình như bước chân ai trở về, tiếng ru ví dầu xa xôi, tiếng kẽo kẹt võng não lòng. Vú Mười nói không có đêm ở mô buồn như đêm Huế, đêm Huế buồn não ruột!

Từ khi vú Mười nhặt được em ở vườn cau, Huế của hai anh và cha mới trở nên khác. Bận bịu hơn, nôn nóng hơn, ấm áp hơn vì phải chăm lo cho một đứa bé èo oặt như con mèo hen thiếu sữa mẹ. Nước cháo gạo hoa cau, lon sữa bò đặc pha loãng và hơi ấm của 3 người đàn ông đã thổi em lớn lên từng ngày.

 

Tuổi thơ của em là khu vườn xanh mướt hàng cau, em đã vịn vào thân cau, vịn vào anh Hai, anh Ba, vịn vào vú Mười mà tập đi. Tuổi thơ của em không biết sông Hương, núi Ngự Bình, cầu Đập đá ở nơi mô, chỉ thấy bốn bề là thân cau cao vút tới trời, là tàng cau đan thành một khoảng trời xanh riêng, một bầu trời mướt xanh ngoài bầu trời màu cánh vạc cho em. Thỉnh thoảng, cây cau rơi xuống cho tuổi thơ em chiếc tàu cau thần tiên, để em sung sướng ngồi lên mo cau cho anh Ba kéo đi vòng vòng quanh thế giới vườn, vừa đi vừa thổi còi tí toe như từ Đông Ba mà qua Gia Hội, như từ Đập đá về cửa Thuận An, đi cho tới khi chiếc mo cau rách bươm, đi cho tới khi em chán chê, thân hình hai anh em trùm trong bùn đất mới thôi…

 

Tuổi thơ của em không có mẹ, nhưng em chưa biết buồn nỗi buồn của tàu cau phải rụng khỏi thân cau xa lìa nguồn cội. Em vui niềm vui của trẻ thơ khám phá thế giới quanh mình lớn lên từng ngày. Niềm vui theo câu hát của vú Mười:

 

Măng giang nấu cá ngạnh nguồn,

Tới đây xin hãy đổi buồn làm vui.

 

Nào biết cá ngạnh nguồn là con cá chi, chỉ biết con bống thệ kho khô cong, con cá chuồn nấu mít non, con tôm tép tươi hơn hớn sông Truồi ủ với cơm nắm ủ trong mo cau, con hến dưới cồn, con nghêu ngoài Sịa cùng gạo thơm Phú Vang, Phú Lộc, Phú cam nuôi em lớn phổng phao, mắt môi biết cười từng ngày. Đến khi anh Ba nhìn em biết ngây người, nín thở, anh Hai nhìn em thở dài, em hay mình đã lớn rồi!

Tóc em cũng dài rồi, từng sợi mướt ủ hương hoa cau, ủ mùi mít chín, mùi trái sim tím thẫm sườn đồi, mùi trái vã, mùi thị, mùi ổi hồng đào chín cây, cho đến một ngày anh Ba gội đầu cho em phải la thầm:

- Tóc em có hương của khu vườn mùa hè.

 

Em cười hồng má và biết mình đã lớn.

 

Hai anh không còn cưng chiều em như xưa, em hết được nằm trong lòng anh Ba vừa nghe kể chuyện vừa được gại lưng, anh Hai cũng không bế xốc em vào giường phản mỗi tối, em thôi vòng tay qua cổ anh, ngái ngủ gọi nhầm tên anh Ba .

Chỉ khi ngái ngủ, em mới gọi lầm tên hai anh. Vì ngoài vú Mười ra chỉ có em nhận ra được ai là anh Hai và ai là anh Ba.

 

Cũng đôi mắt sâu dưới hàng lông mày đậm xếch hình lưỡi mác, kiểu mắt đen đa tình của đàn ông xứ Huế, khuôn mặt chữ điền, xương quai hàm cứng cỏi của người miền Trung mưa dầm, nắng hại nhưng mắt anh Hai có màu xám lạnh như màu núi, tia nhìn sắc nhọn như cánh cửa đóng kín , trong khi đồng tử mắt anh Ba nâu trong veo, bình yên như mặt nước sông An Cựu. Cùng cặp môi dầy dặn nhưng cái cười của anh Hai sao mà ngạo nghễ lạnh lùng, cái cười không tròn, kiểu cười nhếch nửa miệng làm người ta sợ hãi, anh Ba có nụ cười hiền, nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt, làm người ta mềm lòng. Từ nhỏ em đã quen nể sợ anh Hai mà quấn quít quyến luyến anh Ba.

 

Năm em tròn 15 tuổi, Cha đột ngột qua đời. Một sáng sau cơn bão lớn năm Thìn nặng nhọc kéo qua vườn, một trận giông gió đã quật đổ cây cau cổ thụ già nhất vườn. Từ ngày đó cha không gượng dậy được nữa. Thì ra như thân cây đã héo khô từ bên trong, cha vẫn gắng gượng đứng sừng sững là chỗ dựa cho ba anh em. Đến ngày cây cau cổ thụ mất đi, khoảng trống trải quá lớn sau bóng cây làm người ta hụt hẫng, choáng váng.

 

Ngay lập tức em cảm nhận nổi hụt hẫng đó đầu tiên.

 

Từ lâu vườn cau không đem lại hoa lợi nào nữa, ngoài trừ bóng mát và ký ức của một thời huy hoàng xưa. Nhiều nhà đã đốn vườn cau để trồng loại cây khác có lợi ích kinh tế hơn, nhưng cha nhất định không chịu bỏ vườn cau, nơi đã gắn bó quá nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời và ký ức, hai anh em đành xoay sở đủ nghề, đánh cá làm nông để sinh sống. Khu vườn cứ thế mà hoang phế, già đi mỗi ngày.

Đêm giỗ đầu của cha, dưới ánh trăng 17 đỏ quạch, em núp sau gốc cau ứa nước mắt chứng kiến anh Hai và anh Ba dằng co vật lộn :

 

- Anh Hai, anh không được nhổ cọc vườn đi bán! Đó là kỷ niệm của cha. Cha chỉ mới nằm xuống!

- Kỷ niệm có nuôi mi sống được không? Mi có cạp ký ức ra mà ăn không? Mi để mặc tau!

 

Tiếng cọc sắt va vào nhau, cứa vào tim chát chúa.

Tờ mờ sáng, em chạy dọc theo bờ sông, một triền sông dằng dặc chìm trong sương mờ trắng đục, em vừa chạy vừa khóc, có khi mắc vào gốc phượng, rể tre vấp té chúi nhủi rồi bò lóp ngóp đứng dậy chạy tiếp:

 

- Anh Hai ơi, anh đừng đi! Anh Hai ơi, anh về đi!

 

Tiếng gọi yếu ớt của em chìm trong màn sương dày đặc, chỉ thấy bóng con đò chập chờn lúc ẩn lúc hiện, rồi mất hẳn. Nhiều năm về sau này nữa, cơn ác mộng đó luôn trở về, trong giấc mơ em chỉ thấy mình chạy mải miết suốt một triền sông dằng dặc trắng xóa sương và tiếng em yếu ớt thảng thốt như tiếng khóc của chim Từ Quy:

 

- Anh Hai ơi, anh đừng đi!

Tuổi thơ êm đềm của em bên vườn cau Nam Phổ đã chấm dứt từ đó!

 

 

 

"Mấy ngày đường, Lang tới bờ một con sông lớn nước chảy xiết. Lang quyết không chịu trở lại, cúi gục trên bờ, ôm mặt khóc. Chàng khóc mãi, khóc mãi, đến nỗi những con chim đi kiếm ăn khuya vẫn còn nghe tiếng nức nở. Sáng hôm sau, Lang hóa đá."

Sau hai năm bỏ đi, anh Hai lại trở về.

 

Trong hai năm đó tin đồn về anh Hai chờn vờn khắp thôn Tây Phổ nhỏ bé, rằng anh Hai đã thành trùm buôn lậu sắt vụn, lính của anh thu mua sắt vụn khắp rẻo đất miền Trung chở kình kình về Hà nội mỗi ngày. Rồi số sắt phế liệu đó đi đâu nữa không ai rõ.

Anh Hai trở về một buổi sáng, râu quai nón rậm rì trên mặt, đôi mắt xám lạnh nay lẫn màu sắt gỉ đục mờ. Anh vứt một bó tiền trên bàn hất hàm:

 

- Chuyến này tau vào Sài gòn luôn, tau kêu người bán mảnh đất vườn rồi chia hai, tau cần một nửa tiền để đi buôn lớn.

- Không được, đây là đất hương hỏa của ông bà để lại, không ai được bán. Tui không để ai đặt chân vào vườn cau này đâu!- anh Ba rên lên, thất thần.

- Mi có cần tau nhắc lại không? Không ai cạp đất ra mà ăn được. Nghề trồng cau không thể làm giàu- Mặt anh Hai sắt lại- Tau muốn làm giàu. Tau thề là tau sẽ giàu. Tau mà quyết định rồi thì không ai cản được! Mi có một năm để rao bán hoặc là nguyên cả mảnh vườn, hoặc chỉ là 1 nửa của tau. Tau sẽ trở lại lấy tiền.

Anh quay sang tôi, đôi mắt đen thẫm lại:

 

- Bé đi với anh, anh sẽ lo cho bé ăn học đàng hoàng. Ở nơi quê mùa này em không ngóc đầu lên nỗi đâu. Mà em cũng phải cần cứng cáp lên, yếu đuối hay mủi lòng như anh Ba thì cả đời nghèo khổ.

- Em không nỡ bỏ vườn, em không bỏ anh Ba mà đi đâu! – em lí nhí.

- Em cũng thề là trong vòng một năm em sẽ phục hồi vườn cau! Bé đi với anh Hai đi, anh Hai cần bé hơn- Anh Ba chỉ lặng lẽ nói có vậy rồi quay lưng đi.

 

Em ngơ ngẩn cầm theo một chậu dây trầu không, và cứ như vậy mà ra đi khỏi Nam Phổ

 

 

***

 

 

“Anh à, có nhiều đêm em giật mình thức dậy, vẫn còn nghe hương hoa cau thơm thoang thoảng trong vườn, nghe tiếng gió bấc nghiến thân cau, nghe tiếng nước mưa chảy từ máng tàu cau vào bể nước. Em nhớ vườn, nhớ cau, nhớ Huế quá!”

 

“ Anh à, bây giờ em biết em vịn vào nỗi nhớ để mà sống, như ngày xưa em đã vịn vào thân cau, vịn vào tay anh để mà lớn lên. Ngày mưa em ngơ ngơ đi tìm tàu lá chuối rách, ngày nắng em đi tìm tiếng dế kêu trong vườn. Sài gòn mãi không là quê hương thứ hai của em, em chỉ có một quê hương là Huế, nơi nào cất giữ tuổi thơ của mình, nơi đó mới là quê hương”…

 

“ Anh à, khi em đi xa rồi, em mới biết tâm hồn mình lưu trú ở đâu. Ở Sài gòn chỉ là nơi tâm hồn em lưu lạc. Anh và vườn xưa Nam Phổ mới là nơi tâm hồn em lưu trú. Người ta làm sao có thể lìa bỏ được nơi tâm hồn người ta đã lưu trú?”

 

Trong lá thư nào gửi cho anh Ba, em cũng viết đi viết lại về nỗi nhớ. Ba năm ở Sài gòn, mỗi tuần một lá thư. 144 lá thư. Chỉ viết về một nỗi nhớ vườn.

 

Ba năm trời, em đã tốt nghiệp đai học ngữ văn. Em trở thành cô giáo dạy Văn. Cái môn chẳng thể dạy thêm kiếm tiền ở thành phố.

 

Ba năm trời anh Hai đã kịp trở thành ông trùm của ngành hóa chất. Từ một người bán hóa chất lẻ cho các cửa hàng ở chợ Kim Biên, nhờ biết phát triển các mối quan hệ làm ăn, networking, như cái cách người Sài gòn hay nói, anh Hai đã trở thành đầu mối cung cấp hóa chất cho các nhà máy lớn của thành phố. Cái đầu lạnh biết tính toán nhanh hơn người và chính xác hơn người làm người ta nể phục anh Hai, đôi mắt lạnh làm người ta sợ anh Hai, những ràng buộc mềm mại của tiền, quyền và “chân dài” cột chặt người ta với Anh Hai. “Đó là bí quyết đơn giản để thành công” Anh Hai thường giơ 1 ngón tay cái lên ngạo nghễ nói.

 

- Và tiền cứ đẻ thêm ra tiền, đất đẻ thêm ra nhà, ra biệt thự.

 

Sài gòn có loại cau nào, nhà anh Hai có loại cau đó, ngày đầu tiên anh Hai dọn về nhà mới, xe tải mấy lượt chỉ ùng ùng chở về đổ xuống bao nhiêu là cây cau: cau đỏ tía trái đỏ son, cau kiểng, cau lùn, cau bụng bự, cao bonsai, cao non bộ… Chỉ có thiếu cây cau Nam phổ trái cau bánh dầy, hoa trắng tươi thơm ngan ngát là không tìm đâu có được. Dây trầu không em mang theo ba năm trước vẫn xanh ngắt 1 góc vườn.

 

Nhà có 3,4 người làm, anh Hai không muốn em đụng tay đến bất cứ việc gì nặng nhọc nữa. Nhưng con gái Nam Phổ sao có thể chịu ngồi không. Hết gói bánh lá, chả tôm, rồi nấu chè đậu ván, nấu bánh canh, chè bắp hột, bắp trái. Bánh canh Năm Phổ khác bánh canh Sài gòn , nấu bằng bột gạo, có pha một ít “bột năng” nên rất trong và mềm. Nhụy thuần tôm tươi, nhưng không phải tôm gân mà tôm càng, vỏ dày, khi luộc có màu đỏ tự nhiên, tôm giã nhuyễn mà không bị xơ, cũng không nát. Lúc múc vào tô, nhụy tôm mới được rải trên mặt, nhụy tôm tươi hồng, thêm vài cọng ngò rí xanh rì, tô bánh canh như một bức tranh nồng nàn màu sắc. Có những lúc anh Hai ngồi thần người trước tô bánh canh Nam Phổ nhụy tôm đỏ tươi, khóe mắt ướt nhòe rất nhanh rồi tắt ngúm, sắt lạnh.

Quanh năm em chỉ vò một ấm chè tươi, đập dập thêm miếng gừng tinh tắn, khách đến nhà cũng chỉ mời một loại nước chè ấm hương gừng. Em giữ nguyên nét nhà quê Nam phổ.

 

Đêm nay trời Sài gòn sau cơn mưa trong vắt, trăng 16 mọc muộn, gần nửa đêm vầng trăng tròn nhợt nhạt mới lên tới giữa bầu trời. Em giật mình thức dậy, sau cửa sổ, bóng tàu cau và ánh trăng vương vãi khắp khu vườn. Tàu lá chuối lênh loáng ánh trăng và sương mưa, hương hoa lài, hoa ngâu, dạ lý gần như cùng một lúc theo ánh trăng ùa vào trong phòng . Hơi tĩnh lặng của đêm gần như đêm tịch mịch của Huế, mơ hồ một tiếng kêu rất khẻ lúc xa lúc gần, rung rinh trong không gian:

 

- Bé ơi, về đi em, anh nhớ em !

 

Em rùng mình, như có ai cứa vào tim. Em phải trở về thôi, em phải trở về với anh, về với vườn cau, về với Nam phổ.

Vừa lúc đó, anh Hai loạng choạng sau buổi tiệc đêm về. Đôi mắt xám lạnh ngầu đỏ. Anh gõ cửa phòng em rầm rĩ:

- Bé, anh khát quá, cho anh ly nước chè xanh.

 

Em ngồi đối diện với anh, không nhận ra anh Hai ngày tuổi nhỏ, khuôn mặt lầm lì lớp cơ mặt chảy xệ, vòng bụng nặng nề và đôi mắt mệt mỏi. Mắt anh chỉ ấm lại khi ủ hai tay vào ly nước chè xanh ấm sực.

- Mùi chè thơm quá bé à, không có chi bằng uống ly nước chè quê mình.

 

Em chỉ chờ có thế, em nói nhanh:

- Anh Hai à, cho em về quê, em không thể ở Sài gòn được nữa.

Anh trở lại lầm lì:

 

- Về làm gì? Có chi đâu chốn đó mà về? Đi bao nhiêu năm nay mà chưa vứt được cái gốc quê à?

- Em nhớ quê lắm, em nhớ anh Ba, em nhớ vườn. Em không thể sống ở đây được nữa, em phải về! Mai em về liền!

 

Anh lồng lộn như hóa điên:

- Anh cấm em ra khỏi nhà. EM ở đây! Ở đây là nhà của em! em không được đi đâu hết!

- Em lớn rồi, anh không có quyền chi với em mà cấm em !- Em cũng gào lên, nỗi nhớ và tuyệt vọng đã làm em như hóa điên theo- Mà anh cũng đâu cần có em, anh có tất cả mọi thứ, tiền bạc, nhà cửa, gái đẹp vây quanh, đêm nào anh cũng đi đến khuya, nhậu đến khuya. Em chỉ ở nhà một mình!

 

Anh đột nhiên ôm xiết em vào lòng, kề khuôn mặt đỏ lựng sát khuôn mặt của em:

- Em ăn nói chi khùng điên rứa? Anh chẳng có chi cả, em là tất cả của anh. Không có em anh không có sống nỗi, Anh không cần Nam Phổ, vì em là cả Nam phổ của anh. Em đừng bỏ đi! Anh xin em! Em đừng bỏ đi!

 

Anh áp môi vào môi em, tha thiết:

- Lần đầu tiên anh bỏ nhà ra đi, Đêm nào anh cũng mơ thấy em chạy chân đất theo anh dọc bờ sông, em gọi anh “anh Hai ơi, về đi”. Anh không đi đâu được với giấc mơ đó, anh phải về với em. Anh phải có em!

 

Trong cơn hoảng loạn, nước mắt anh ứa ra tràn trề trên khuôn mặt nhàu nhò, mùi rượu mạnh xộc vào mặt em tê dại. Toàn bộ thần kinh của em tê dại, nước mắt của đàn ông, nỗi tuyệt vọng thê lương của anh làm em tê dại. Người đàn ông này, người luôn có sức mạnh khuất phục khôn lường, đang quỳ gối trước mặt em, đang khóc vì em. Em nhắm nghiền mắt, một nỗi xót thương đau đớn tràn ngập tâm hồn.

Sau cánh cửa mở tung, giông gió tràn vào nhà. Giông gió quăng quật từng hồi trên tàng cau.

 

Sáng ra, khu vườn tan tác ngập tràn lá rụng.

Anh Hai đã bỏ đi từ rất sớm. Trên bàn chỉ còn dằn lại một lá thư ngắn ngủn, viết vội:

- Em hãy trở về với Nam Phổ! Suốt đêm qua, em lại gọi nhầm tên anh!

 

***

 

Làng Cau Năm Phổ đã sống lại.

Lời hứa ba năm về trước của anh Ba đã trở thành sự thật.

Từng đàn chim chào mào, chim sáo, chìa vôi, chèo bẻo lại bắt đầu rủ nhau về ríu rít trên tàng cau vào tháng 4 tháng 5 mùa buồng cau chín rộ. Âm thanh tràn đầy. Rộn rã.

 

Mùa cau chín không chỉ còn quanh quẩn tháng hè mà đã kéo dài cho trái cau chín muộn ra quanh năm, tăng giá cau gấp mấy lần lúc mùa vào rộ. Ngoài vườn xanh san sát hàng cau già khẳng khiu, chen lẩn hàng cau mới mập mạp, cau con làm giống chạy từng luống dài tít tắp. Người mua kẻ bán ra vào tấp nập, rộn ràng. Hương cau ngan ngát hồi sinh, như gió thổi luồng sinh khí mới lan khắp thôn Tây Phổ.

 

Nghề cau đã có đất sống, đây đó, khói trắng lò sấy cau vướng vít trên tàng lá cau, vươn tới trời xanh. Trái cau không quẩn quanh mấy thành phố lớn mà xuất rầm rộ sang Trung quốc, Đài Loan nơi cau được ưa chuộng và gia công thành nhiều sản phẩm, nhiều mặt hàng chất lượng cao.

 

Nhiều đêm anh Ba vẫn rủ rỉ với em, "anh biết là cau xuất cho người ta chế biến lại thành phẩm giá cao gấp năm lần. Biết vậy mà phải chịu cắn răng xuất cau thô thôi. Anh ước gì mình biết cách chế biến thì đâu có để tài nguyên của Nam Phổ chịu chảy máu ra nước ngoài như vậy!"

 

Trong bóng đêm mượt như nhung của vườn cau, em nằm ôm bụng cười thầm. Hạnh phúc tràn trề như ánh trăng loang loáng trên tàng cau, rớt xuống tàu lá chuối, len vào tận cửa phòng . Anh xoa lên cái bụng tròn vo của em, mới năm tháng mà to gấp đôi người cùng tháng bình thường làm anh hớn hở chờ một cặp sinh đôi.

- Trời thương mình cho một trai một gái, chắc anh thành người hạnh phúc nhất trên đời!

 

Em hốt hoảng lấy tay bịt miệng anh lại.

- Cái miệng ăn mắm muối của anh, hư thì thôi. Trời cho sao biết rứa đi, ai lại được voi đòi tiên!

 

Anh vùi vào tóc em, cười thành tiếng:

- Ờ, tội lỗi của anh hết, được em rồi còn đòi tiên thần chi nữa.

 

Dường như đã xa lắm rồi những ngày xa cách tối tăm tuyệt vọng.

Mổi sáng anh theo bạn hàng đi thu mua cau từ sớm, em ngồi ngong ngóng trên tảng đá xanh đầu vườn, bên cạnh bốn cây cau tứ quý lúc lĩu trái chín màu gạch son thơm lừng, hoa cỏ đậu phộng vẫn nở vàng như những ngón tay út rung rinh trên thãm lá mượt xanh.

Nắng từng đốm nhảy nhót trên lối đi rải sỏi.

 

Có tiếng giày giẫm trên đường sỏi lạo xạo, một bóng người to lớn đổ trùm xuống em. Và giọng trầm ấm quen cất lên:

- Nhìn em kìa, hồng hào như trái táo!

- Anh Hai!- tiếng kêu thảng thốt nghẹn lại trong cổ họng em. Anh Hai gầy guộc, xanh xao, hàm râu quai nón rậm rì hằn thêm nét khắc khổ. Tia nhìn dịu dàng vuốt ve chiếc bụng căng tròn của em.

- Con được mấy tháng rồi em?

 

Không đợi em trả lời, anh nhìn quanh vui vẻ:

- Vườn thay đổi quá, coi bộ khấm khá hơn xưa nhiều.

- Anh Ba vẫn đợi để trả tiền đất lại cho anh. Tụi em đã dành dụm đủ tiền- em lí nhí.

- Anh không về đây để đòi tiền, em biết là anh chả cần tiền! Tiền của anh đủ để mua cả làng cau Năm Phổ. Anh về đưa em đi lên thành phố. Em sắp sinh rồi, ở thành phố mới đủ điều kiện tốt nhất cho em.

 

Em co người lại, hoảng hốt:

- Không, em không đi lên thành phố. Anh Ba muốn con của tụi em phải sinh ra và lớn lên ở đây, ở Năm Phổ. Bao nhiêu bà mẹ đã sinh con được ở đây, em cũng làm được!

 

Anh ngẩn ngơ nhìn em, hai mắt bạc đi, xa vắng:

- Em nói Con của tụi em! Con của em và anh Ba?

- Dạ đã được năm tháng rồi, em nghĩ là song sinh- em mỉm cười xoa chiếc bụng tròn âu yếm, không để ý đến vẻ hoảng loạn thê thiết trong giọng nói của anh.

 

Anh bỗng bật cười gằn, tiếng cười lạnh lẻo thê lương dội lại âm u trong vườn cau.

- Anh phải đi đây- anh quay lưng- em nói đúng, em nên ở lại đây. Anh Ba cần em hơn anh.

 

Em ngồi ngẩn ngơ nhìn bóng anh xa dần, đôi vai rụt xuống cổ mệt mỏi. Lòng tràn xót xa.

Vú Mười từ trong nhà bước thấp bước cao đến bên em, cười te tái:

- Vú nghe tiếng ai như tiếng cậu Hai, cô nờ- Rồi không đợi em trả lời, vú sà xuống bên cạnh em, nựng nịu cái bụng của em chầm bập- chà, nhỏ mau lớn như ri! Cậu Ba có được đứa con là phước lớn lắm cô nì. Vú đã tưởng hắn không bao giờ có con được. Hồi nhỏ hắn bị bệnh quai bị nặng lắm, một tay vú nuôi, vú biết mà...May nhờ, hắn ăn ở hiền lành, ông trời còn có mắt, mới có được như ngày hôm ni!

 

Cả bầu trời xanh chao đảo úp chụp xuống em, cả tàng lá cau trên đầu cũng quay cuồng. Tiếng cười thê lương u uất của anh Hai vọng lại, kéo dài u u như tiếng khóc.

Tự dưng, vú Mười kéo em vào lòng, giọng ru mượt mà ngân nga, lúc xa lúc gần:

 

Ước gì anh hóa ra vôi

Em hóa trầu lộc tốt tươi lại nồng

Anh thương em trầu hết lá lươn

Cau hết nửa vườn cha với mẹ nào hay

 

Trên bầu trời, những đám mây của Huế vẫn chín mọng thơm lừng như trái cây chín tới gió thổi bay lang thang từ cửa Thuận An dừng lại trên tàng cau xanh mướt, Nắng mới hồng hây hây.

 

***

 

Chàng đến bờ con sông thấy em đã hóa thành đá. Tân đứng bên cạnh hòn đá khóc mãi cho đến lúc chết và hóa thành một cây thân mọc thẳng lên trời, bên cạnh hòn đá.

Vợ Tân chờ mãi không thấy chồng về, cũng bỏ nhà đi tìm. Nàng cũng tới con sông khóc cạn cả nước mắt và chết hóa thành một cây dây quấn quanh lấy cây kia.*

 

UYÊN LÊ

 


 

 




Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 8001)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 6996)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 6565)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 7709)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 7109)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 7417)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 10229)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3849)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1639)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2318)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2422)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1463)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1959)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2002)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1374)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2629)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2382)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 248)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1010)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1124)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32156)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38864)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1487)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10024)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10830)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3460)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10362)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi