- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Xương, Thịt Đời Sau, Máu Rất Buồn,

30 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 91192)

loden-blackscorpion-content
  Photo by Blackscorpion

“tưởng ai oan khuất vừa quay gót
“xương, thịt đời sau, máu rất buồn!”
(thơ dtl.)

 
1.

Những cột đèn lẻ loi, ốm nhom, cố lách mình khỏi những tàng cây du mập ú, xum xuê, liên lủy rắc mưa lên mặt đường đen. Gương. Nước. Khu parking bên kia lộ cụt, lác đác dăm chiếc xe kiên nhẫn đợi chủ. Tôi không biết mưa khi nào? Chỉ nhớ lúc ấy, khoảng chín giờ rưỡi. T. vừa rời Fountain Valley Regional Hospital về nhà - - Sau một ngày dài lầm lũi theo sau chiếc xe lăn, đẩy tôi từ khu Emergency Room, tới phòng chụp X-Ray, Cat-Scan…Trước khi hai securities chuyển tôi lên lầu hai. Phòng 258B. Nơi có một tấm kính trong suốt, chạy hết chiều ngang căn phòng. Ở đây, ngay khi vừa tới, tôi đã được chào đón bằng những hồi hú, gào man rợ của bệnh nhân giường ngoài! 
Tôi không hiểu có phải vì mưa đêm, dăm ngọn đèn đường, con lộ cụt, những chiếc xe không có khả năng tự đi tìm chủ và, sự tĩnh lặng tưởng chừng đông đá của cả một khu vực rộng lớn, bị những building mái bằng, vô cảm, trấn ngự, ném tôi vào góc khuất, lãng quên?
 Tôi hối thúc T. về, khi những xao xác của bữa cơm chiều đã qua. Cuộc đổi ca của các y tá trực đã xong. Những thủ tục thăm, khám, dặn dò cuối cùng dành cho bệnh nhân cũng hoàn tất. Hành lang lặng. Vắng chân người. Cảm giác lãng quên bị dìm sâu có cơ hội trồi lên. Như thể chính nó mới là kẻ bị loại bỏ, chứ không phải tôi.
 
2.

Gác chân lên thanh ngang của chiếc bàn ăn di động, tôi lọt thỏm trong chiếc ghế bành, với cây cột treo bình nước biển, trên cao. Tấm áo choàng bệnh viện mầu xanh chấm trắng. Quá khổ. Tôi và lãng quên nhìn nhau. Cá cược xem kẻ nào thực sự bị loại bỏ? Lãng quên lắc đầu. Không tiếng. Tôi chợt hiểu, giữa chúng tôi khó thể có một cuộc trao đổi hay, tranh luận dù ngắn ngủi - - Khi cơ thể đã bắt đầu cho tôi những cơn nôn thất bại và, những đau nhức thấy rõ, do đầu ống giây nylon để lại những đường xước ở mặt trong thực quản. Đó là lúc hậu quả sự cọ sát của ống giây nylon luồn từ mũi tôi, thọc sâu xuống thực quản. Xuống nữa. Xuống nữa. Xuống nữa… Trước khi nó phải dừng lại nơi đáy bao tử. Đó cũng là lúc hai cô y tá người Phi, thay nhau hối thúc tôi “Nuốt xuống! Nuốt xuống! Nuốt xuống!” Tôi không thể nghĩ, cuối cùng rồi đoạn nylon dài ngoằng, có đường kính tương đương một chiếc đũa cả nhà bếp, lại có thể chuồi hết vào thân thể tôi. Những cơn buồn nôn thất bại, các vết xước bắt đầu tấy sưng, tiếng rú, thét hoang dại của người bệnh giường ngoài, cơn mưa dưới thấp…cuối cùng, cho tôi nhiều cảm-thức không rõ mặt!
Nó không hề là nỗi ngậm ngùi của kẻ một mình, đợi chết. Nó cũng chẳng là những cảm-thức mất mát, đỉnh cao! Cô đơn đáy vực! Nó như dăm cột đèn lẻ loi, ốm nhom, cố lách mình khỏi những tàng cây du mập ú, xum xuê, liên lủy rắc mưa lên mặt đường đen. Gương. Nước. Hay chiếc xe tự biết không có khả năng đi tìm chủ!
Nhưng cách gì, tôi vẫn thấy mình đang bị đông đá trong nhận biết: Thời gian đã hoàn toàn ngưng đọng tự sớm mai, khi T. cương quyết bắt tôi nhập viện.
 
3.

Đó là ngày thứ ba, giữa khi lượng nước trong cơ thể tôi bị vắt cạn. Bụng tôi căng. Cứng. Tưởng chừng nếu ai gõ vào, nó sẽ bật kêu như…trống! Đó là lúc những chuyển động dữ dội của từng khúc ruột bị chấn thương, lồng lộn tìm đường đào thoát khỏi cơ thể. Food poisoning / ngộ độc thực phẩm…
Tôi hiểu, khi chấp nhận nhập viện, thời gian không còn thuộc về tôi. Kinh nghiệm bước tới mé bờ sinh / tử cách đây bảy năm, kéo dài nhiều tháng, nhắc nhở tôi: Chẳng những thời gian không thuộc về tôi mà, đời sống thực sự, bên ngoài căn phòng giam lỏng này, cũng thuộc kẻ khác. Tôi chỉ là con vật thí nghiệm, hoặc một thứ con tin trong cuộc giành giựt giữa y khoa và, thần chết. Tôi như đống thịt, xương bầy hầy, được phủ, che bằng tấm drap trắng muốt, chuyển dịch từ building này, tới building khác. Điều duy nhất tôi có thể dành lấy cho mình là nín lặng. Và tự nhủ, dẫu sao, ta cũng còn may mắn !?. 
Mới đêm trước, trong mê sảng, đôi lần tỉnh thức, tôi thấy rõ hai ngón cái và trỏ của tôi, nhiều lần chập vào nhau. Tựa chúng cố gắng nhặt giúp tôi một sợi tóc, một mảnh vụn gì đó, dính trên ngực áo. 
 Khi trực nhận đó là phản ứng mất kiểm soát của một người sắp chết - - Mà, cụm từ bình dân gọi là “tay bắt chuồn chuồn,” (như quá khứ từng trải qua,) thay vì lay tỉnh T., tôi trộm nghĩ, đằng nào thì cũng chết! Sao không để T. bình an với giấc ngủ của T., sau một ngày làm việc căng thẳng trí não?
 Tôi cũng không chọn niệm, đọc lục-tự, theo chỉ dẫn của kinh điển Phật giáo, để được chư Phật độ trì, như cơ hội sau chót, khỏi sa địa ngục… 
Trong bóng đêm quánh đặc, với những cơn rét từng đợt xuyên suốt cơ thể, cùng lúc mồ hôi tươm ướt trán và tóc, tôi dành những phút cuối kia, cho sự kết toán sòng phẳng, một lần, đời mình.
 Tôi đặt cho tôi những câu hỏi (với sáng suốt bất thường của ngọn đèn hết dầu, vụt sáng):
“Sau gần bảy mươi năm làm người, ta có phạm điều ác nào, khiến lát nữa đây, ta chết không nhắm mắt?”
 Câu trả lời đến với tôi thẳng thắn, nhanh chóng rằng, tự xét, tôi thấy mình có nhiều sai, quấy. Nhất là với những người phụ nữ đã đi qua đời tôi. Nhưng đồng thời, tôi cũng tự thấy, những năm, tháng gần đây, tôi đã có được cho tôi một cuộc sống bình an, phẳng lặng. Tôi đã tự chế được tôi trước mọi cửa ngỏ. Mọi cám dỗ của những trạng huống tình cảm bất ngờ, đến từ nhiều hoàn cảnh, cơ hội…
Tôi nghĩ, chí ít, cuối cùng, tôi đã sống đúng với một người! Với T. Tôi đã đền bù phần nào những chịu đựng, cay đắng, nhục nhằn mà T. gánh, nhận kể từ ngày chúng tôi có lại nhau.
 Tôi lại hỏi tôi, có ân hận, hối tiếc gì không?
 Câu trả lời vẫn là “không!”
 Nếu có điều gì đáng để gọi là ân hận thì đó là, tôi tiếc đã không thể sống khác đi sớm hơn! Để những người liên hệ với tôi, những ruột thịt, máu mủ, bằng hữu tôi bớt khổ, đau, lo lắng, ái ngại cho những phần đời dằn xóc, sốc nổi của tôi! 
 Trong bóng đêm, bên cạnh hơi thở đều đặn, xen kẽ những nói mớ của T., tôi cũng tự thấy tôi đã ngay thẳng với chính mình, khi câu trả lời đứt khoát là “không!”
Tôi hiểu trên dặm trường nhân sinh, tôi đã có quá nhiều điều sai, quấy. Dù hầu hết sự kiện, không do tôi chủ động. Chúng cũng chẳng đi ra từ một toan tính, khao khát thầm kín nào! Cái sai, quấy lớn lao nhất của tôi, là tôi yếu đuối(!?!)
Tôi không biết, có phải mặc cảm cô đơn, bất an từ thiếu thời là thủ phạm dẫn dắt tôi tới những lối, nẻo bế tắc?!
 Tôi cũng không biết, có phải thèm khát được chăm sóc, nâng niu, vuốt ve, ôm ấp, dỗ dành, là ám ảnh thành hình rất sớm trong tôi? Từ bàn tay có tật, tới hoàn cảnh sớm mất cha, lại thường xuyên thiếu mẹ…chúng đã cù rủ tôi, tới những lối, nẻo tai ương?! 
Tuy nhiên, riêng tôi, tôi biết, tôi đã chân thực biết bao trong những lốc xoáy mê sảng từng giai đoạn, đời mình.
 
4.

Tôi nghe một kẻ nào đó, trong tôi, cất tiếng, mách bảo, có tiếc, hận chăng là, tôi đã không còn đủ thời gian, khí lực để ngỏ lời cảm ơn những người đọc / nghe tôi. Những người làm thành tôi. Những tri âm không diện mạo. Tôi vẫn nói mỗi khi có dịp, ở nhiều nơi khác nhau rằng, nếu không có người đọc / nghe thơ, văn của tôi, chắc chắn sẽ không thể có tôi. Không thể có một sinh vật yếu đuối (và cô đơn,) mang tên Du Tử Lê!!!. 
Kẻ khác trong tôi bảo, có tiếc, hận chăng là, tôi đã không còn đủ khí lực, thời gian, để ngỏ lời cảm ơn bằng hữu. Những người bạn vô tình, thay mẹ tôi, nuôi, dưỡng tôi từ năm tôi mười ba, mười bốn tuổi. Năm tôi chính thức rời bỏ căn nhà số 1029, đường Trần Hưng Đạo, Saigon. Tôi bắt đầu bước chân vô định. Chỉ vì tự ái, ngông cuồng của khủng hoảng thời niên thiếu. Trong chỗ riêng tư, nhiều lần tôi nói với bằng hữu, bên cạnh tình yêu của những người nữ, sự sống tôi được gìn giữ, vun bồi bởi tình bạn. Không có tình bằng hữu bát ngát nắng, mưa kia, tôi đã cát bụi tự những ngày còn rất trẻ.
Tôi hiểu, những năm, tháng cuối đời, tôi còn nhận được thêm nhiều hơn nữa, thương, yêu từ bát ngát nắng, mưa ấy.
Kẻ khác trong tôi bảo, có tiếc, hận chăng là, tôi đã không còn đủ khí lực, thời gian, để ngỏ lời cảm ơn cả những kẻ thù ghét, nguyền rủa tôi - - Khởi tự tâm lượng vốn nhỏ hẹp, giới hạn hiểu biết, lại bị tính đố kỵ đóng xập mọi cánh cửa ý thức. Họ nhãng quên rằng: Tên tuổi, danh vọng, hào quang nào, rốt ráo cũng chỉ là hư, huyễn! Họ nhìn tôi như vật cản!? Họ thấy tôi như chiếc gai quá lớn trong mắt!
Tôi biết, tôi chỉ còn đủ thời gian, khí lực lặng lẽ đặt tay lên ngực T. Như bày tỏ (xác nhận?) cuối cùng rằng, cái thân tứ đại (đất, nước, lửa, gió) này, đang rã, tan. Những rã, tan vật lý. Một tiến trình trụ, hoại mà, sinh vật nào cũng phải đi qua. Nhưng định luật bất biến ấy, không có khả năng đứt đoạn, chia lìa tình, nghĩa đời riêng, chúng tôi. Tôi tin, rồi đây, mỗi khi nhớ lại, nhiều phần T. sẽ vui! Hiểu rằng, đấy là điều cuối cùng, tôi muốn T. nhận biết.
 Ý nghĩ này, giúp tôi an tâm, thanh thản chờ đợi cái chết xâm thực từng phần thân thể.

5.

Tôi có lại cái cảm giác của nhiều năm trước, lúc bị nhiễm trùng máu, chỉ ít ngày sau khi mổ, được cho về từ bệnh viện. Đó là cảm giác cái lạnh đi từ đầu ngón chân, men lần theo ống quyển…Tôi nghe được hơi thở ra của mình, tăng dần độ nóng. Và, phần không khí hít vào, mỗi lúc một sút giảm!
Dù tỉnh táo, tôi vẫn thấy không cần thiết niệm, đọc lục-tự. Tôi nghĩ, ngay cả khi tôi có bị đầy xuống địa ngục thì, lúc linh hồn tôi thoát khỏi đường hầm tối tăm, tôi tin, tôi vẫn được gặp lại thầy, me, các anh, các chị tôi trước nhất!
Tôi cũng tin, tôi sẽ được gặp cả những anh, những chị tôi chỉ nghe tên. Không biết mặt! Họ mất quá sớm! Nhiều chục năm, trước khi tôi được sinh ra…
Tôi chỉ không biết, đằng sau những máu mủ, ruột thịt của tôi, liệu có H.C.? Có T.N… chờ, đón tôi? Nếu có, tôi hỏi tôi, mình sẽ nói gì?
Không chắc lắm, nhưng nhiều phần, tôi sẽ xin H.C., xin T.N. tha thứ cho tôi. Như trước đấy không lâu, cùng với lời cảm ơn gửi mọi người, tôi cũng đã xin những trăng, sao, những mặt trời, những nắng, gió khỏa thân…hãy tha thứ cho tôi (dù tôi không thể ước, hẹn kiếp khác!)
 
6.

Trong khoảnh khắc hồi-dương trước khi chết, lúc khí lạnh lan tới bụng, tôi bỗng nghe được tiếng nói quen thuộc của mẹ tôi. Mẹ tôi nói từng câu ngắn. (Tuồng bà sợ tôi không kịp nghe hết): 
“Chưa chết đâu!”
“Chú chưa chết đâu!” 
Tôi luống cuống khua khoắng cánh tay còn lại! Tôi thấy cánh tay tôi chơi vơi. Không chạm đụng hình ảnh nào! Tôi nghe tim mình đập mạnh. Những lượng máu đâu đó, trong cơ thể, thình lình dồn dập chuyển.
Rồi, mẹ tôi hiện ra. Sống động. Đó là hình ảnh mẹ tôi giữa nguyên đán 1951. Mẹ tôi kể, trước khi chính thức được tin anh Uyển tôi đã bị máy bay Pháp bắn chết trưa mồng ba Tết, ở Nho Quan, bà trải qua những ngày ruột nóng như lửa đốt. Mẹ tôi linh cảm chuyện bất tường, xẩy đến cho anh tôi. Những người nghe chuyện mẹ tôi thuở đó, kết luận: “Thần giao cách cảm!”
Khi ấy, tôi lờ mờ hiểu rằng, đôi khi người chết rồi vẫn có thể “nói chuyện” với người sống, cách nào đó!
 Cũng thế, nhiều chục năm sau, khi tin đồn đãi tôi đã bị lạc đạn, chết tấp chân cầu xa lộ, ngày 30 tháng 4 - 1975, cuối cùng đến tai mẹ tôi! Tôi không rõ bà có bị bất ngờ? Hốt hoảng? Chỉ biết sau đấy, trong một lần nói chuyện với các dì, tôi nghe kể lại rằng, mẹ tôi đã quả quyết:
“Không. Chú ấy còn sống đấy! Chưa chết đâu!”
 Hơn nửa năm sau, khi lá thư đầu tiên của tôi, từ Hoa Kỳ, được chuyển về Saigon cho mẹ tôi, qua ngả Paris, xác nhận bà nói đúng!
 
7.

Khác hơn lần trước, lần này tuy T. vẫn cho tôi nhập viện bằng lối ngõ Emergency Room, nhưng tôi lại không thấy mình chấp chới rơi, lăn trên con dốc thần chết. Tôi không nghĩ vì bệnh viện, như ốc đảo lạnh lẽo cuối đáy con đường cụt, Mountain Hope, Fountain Valley, là nơi tôi từng tới, lui nhiều lần. Quen thuộc. 
Tôi nhớ, mới tuần trước thôi, tôi vào thăm Đỗ Hùng, người bạn năm lớp nhì, trường Hàng Vôi, Hà Nội, cũ. Một ngày sau, Hùng được xuất viện. Bạn tôi chấm dứt những ngày hè xám ngoét. Thất thần bay về DC.
Tôi nhớ, cũng building này, cũng tầng lầu này, tôi lui, tới nhiều lần thăm Khánh Trường. Lần sau cùng, xuất viện, cách đây khá lâu, Khánh Trường vẫn ngồi xe lăn - - Nhưng đã cầm cọ, vẽ lại.
Tôi nhớ một số bằng hữu khác của tôi, như Đào Quý Châu, Thảo Trường…cũng lui tới building này, nhiều lần. Nhưng họ sẽ không phải một lần thêm, trở lại. Họ đi xa. Những đi xa sẽ bị thời gian ăn khuyết từng phần trong trí nhớ nhiều người!
Tuy nhiên, lần này, cảm-thức bơ vơ (như vật bị bỏ quên,) cho tôi nỗi buồn mới. Nỗi buồn lớn, cao trên cái hữu hạn tới vô nghĩa của kiếp người. Nỗi buồn của một sinh vật mang tên con người: Khi cái chết tới, cuối cùng, nào hơn gì con vật?!. 
Và, tôi hiểu, nếu không đêm nay thì, cũng đêm mai, tháng sau, năm tới… tôi sẽ phải chia, lìa chính tôi, trước nhất!
Tôi chỉ không biết, khi ấy, tôi có còn đủ tỉnh táo, thời gian, khí lực để đặt tay lên ngực T. Như bày tỏ (xác nhận?) cuối cùng rằng, cái thân tứ đại (đất, nước, lửa, gió) này, đang rã, tan. Nhưng đó là những rã, tan vật lý…
 
Bis.
Mấy ngày đầu, khi các bác sĩ ký giấy cho tôi xuất viện, T. chuyển cho tôi điện thư mới nhất của Trang Ng. Thư Trang Ng. viết từ một bệnh viện ung thư ở Singapore.
 Có dễ đó là lá thư buồn nhất trong thâm tình mười mấy năm giữa chúng tôi. Thư có đoạn:
“… (Bệnh viện) Ung Bướu VN đã làm một điều quá tàn nhẫn với em là chuẩn đoán sai và phẫu thuật cẩu thả. bây giờ, mỗi khi nhìn xuống ngực mình là em rớt nước mắt. không biết nó đã cứu em hay đã giết chết em bằng 1 cách nào đó. em rất muốn gặp 1 người phụ nữ mất ngực để hỏi xem bằng cách nào mà họ vượt qua nỗi đau đó mà sống yên vui. em chưa thể...”
Từ chỗ nằm gần như suốt ngày đêm, thư của Trang khiến tôi bật dậy. Ngồi trước màn hình computer, với lá thư được in ra giấy, tôi những tưởng mình có thể viết ngay, viết liền một thư dài cho Trang. Trong đầu tôi, ý tưởng hăm hở xô, đẩy nhau, như những đợt sóng không có một khoảng lặng tối thiểu.
Tôi nghĩ, tôi sẽ nói với Trang, một trong vài người bạn nhỏ thân thiết và, tin cậy nhất của chúng tôi nhiều năm qua rằng, có thể Trang không biết, tôi cũng mới nhập viện. Mới từ nhà thương về. Có thể Trang không biết, trong đêm, tôi đã lặng lẽ nói lời chia tay T...
Nhưng, cũng như Trang, giữa những-tưởng-ung-thư-tuyệt-vọng, Trang có cha và, bốn em vây quanh giường bệnh, xứ người - - Tôi có T. và thường xuyên Orchid, chăm sóc.
Nếu tôi có may mắn hơn Trang vì, tôi được gặp những lương y như Lê Tâm, như Vũ T. Khải, như Lê Trần Hoàng… Và, mới nhất, là Phương D. Dương, một Registered Nurse của Fountain Valley Regional Hospital - - Thế hệ thứ hai - - Cô tiên nhỏ với đôi đũa thần là, nụ cười và, lòng tận tụy nghề nghiệp.
Dẫu vậy, tôi cũng sẽ nói với Trang rằng, không phải vì bị “…chuẩn đoán sai và phẫu thuật ẩu tả” của ai đó, nơi bệnh viện ung thư Saigon mà, Trang không thể “vượt qua nỗi đau đó mà sống yên vui.”
Tôi nghĩ, tôi sẽ nói với Trang, với người bạn nhỏ thân thiết, tin cậy của chúng tôi rằng, tôi hiểu (rất hiểu) quan trọng biết dường nào, bộ ngực của người nữ dù ở phương Tây hay phương Đông. Nhưng, không phải vì không còn ngực, hay không còn tay, không còn chân (thậm chí không còn cả đôi tay, mất trọn cả đôi chân)…mà, người ta không thể vượt qua và sống an vui!
Ý nghĩa tận cùng của cuộc sống, theo tôi, nằm nơi bộ óc và trái tim. Bộ óc cho chúng ta phân biệt đúng, sai; trách nhiệm với kẻ khác. Trong khi trái tim là nơi ươm giữ và, xiển dương tình yêu.
Nó là ngôi đền thường trực lung linh những ngọn nến ơn nghĩa ruột thịt. Gia đình. Bằng hữu.
Nó là nơi lưu trữ và, không bao giờ ngưng, dứt tiếng hát ngợi ca thiên nhiên. Ngợi ca thời tiết nắng, mưa… (Luôn cả đêm tối, bão bùng, lốc xoáy…)
Tôi nghĩ, tôi sẽ bảo Trang, hãy đọc lại thơ Trang Ng. đi! Có phải những dòng thơ của Trang Ng. cũng ắp đầy những ngợi ca khổ đau / hạnh phúc / thiên nhiên / bất toàn / và, thảm kịch?
 Nếu tôi có may mắn hơn Trang (nhiều phần không chắc,) ngoài vợ, con, gia đình, ruột thịt, tôi còn có được khá nhiều thương yêu từ bằng hữu. Như một ngày trước khi phải nhập viện, một người bạn, ĐPP, bất ngờ ghé thăm tôi. Trong ánh sáng nhờ nhợ của buổi chiều đã xế, với những đám mây ủng nước từ sớm mai, vẫn chưa chịu buông tha bầu trời, trên giường, tôi kể P nghe, vắn tắt vài dữ kiện xẩy ra cho tôi, đêm trước…Tôi kết luận, có thể đó là những dự báo chắc tôi sẽ phải “đi” sớm.
“Tuy nhiên, tâm tôi bình an, thanh thản lắm P.!”
 P. nghe chăm chú. Căng thẳng.Thình lình, P. nhoài người đặt tay lên trán tôi, thốt kêu:
“Tốt lắm!Không sao! Không sao!”
Rồi cũng thình lình, P. ôm tôi. Bật khóc.
Tôi không biết P. khóc vì vui mừng, tin tưởng nơi cảm nhận riêng của P.? Hay P. linh cảm một điều gì khác? Chỉ biết ngay sau đấy, dường P. cho rằng biểu lộ của mình, không được đàn ông lắm, P. ngay người lại. Quay mặt. Tôi cũng không dám nhìn P. Tôi không có chọn lựa nào khác! Ngay khi ấy, tôi hiểu, cách gì thì, nước mắt cũng đã gọi nước mắt. (Tối thiểu, điều đó cũng đúng, với trường hợp của tôi.)
Tôi muốn kể Trang nghe chuyện ấy, chỉ để nhắc nhở Trang: Hãy sống tử tế, chân thành, chan hòa với bằng hữu. Chúng ta sẽ nhận lại nhiều hơn những gì cho đi.
 Tôi định. Định. Định…sẽ nói với Trang nhiều điều. Nhiều chuyện. Nhưng khi T. bảo tôi, vào lại thư của Trang. Sẽ thấy mấy tấm hình mới nhất của Trang. Với cha và các em.
Tôi trở lại internet. Bỗng thấy, không cần thiết nữa, phải viết thư cho Trang. Hình ảnh Trang Ng. trong bệnh viện Singapore là một Trang Ng. mới! Một Trang Ng. ốm hơn. Xinh đẹp hơn. Chiếc mũ len che kín đầu trọc. Cặp kính cận. Nụ cười trẻ thơ. Trước mắt tôi, Trang đã là một người khác. Trước mắt tôi, một câu thơ của Trang hiện ra, “Bởi bàn chân chưa bước khỏi hôm qua!” Nhưng, tâm hồn, trái tim Trang, đã là tâm hồn, trái tim một…ni cô. Một ni cô hồn nhiên. Thanh thản. Tách lìa khỏi thảm kịch dữ dội đời mình.
Tôi trở lại giường nằm với ý nghĩ, thong thả. Hãy thong thả. Lá thư viết cho Trang, sẽ không còn là thư viết cho “Con Trang” (ký tự cuối mỗi thư Trang viết cho T.) Mà, nó sẽ là “Thư gửi một Ni Cô.” Một loại thư tôi chưa từng một lần viết, trong đời mình.
Hôm nay, sau nhiều ngày cân nhắc, tôi nghĩ, chắc tôi sẽ phải nhờ T. mất thôi!
Một việc quá dễ với T.(?) So với những chuyện “tày trời,” T. từng làm cho tôi. Có phải? 
 
Du Tử Lê

(Hợp Lưu 117)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 96619)
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 109797)
...Trong hoàn cảnh hiện nay, người làm văn học, trong hay ngoài nước, đặc biệt là giới trẻ, đang có cơ hội và khả năng tạo một sinh khí cho xã hội VN, giúp giảm thiểu những phá sản tinh thần đang xẩy ra. Muốn vậy, rất cần có sự đam mê, học hỏi, và lòng can đảm nói thật, viết thật. Không có nền văn học có giá trị nào được xây dựng trên sự giả dối và tránh né.
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 123349)
LTS: Nguyễn Hạnh Nguyên sinh năm 1985, tốt nghiệp thạc sĩ khoa học ngành Ngữ Văn. Hiện sống và làm việc tại Hạ Long, Quảng Ninh. Năm mới, bài viết mới lần đầu đăng ở trang mạng Hợp Lưu như một món quà xuân gởi đến quí văn hữu và bạn đọc đầu năm Tân Mão 2011. TCHL
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 109574)
Bài viết này duyệt lại huyền thoại trụ đồng Mã Viện xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ IV-V, nhưng không hề có dấu vết trên thực địa hay trong quốc sử Hán. Những dã sử về số lượng và vị trí trụ đồng chẳng những thiếu cơ sở, mà còn di động, từ châu Khâm tới Hà Tiên-An Giang—không ngừng nam tiến, giống như tấm bản đồ biển Đông Bắc Kinh mới công bố năm 2009, ấn chứng của “thực dân xã hội chủ nghĩa” [Han social-colonialism ], vò đựng mới cho tinh thần Đại Hán phong kiến.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 100542)
Vichto Olegovich Pelevin sinh ngày 22.11.1967 tại Moskva, trong một gia đình quân nhân. Năm 1989 Pelevin thi vào trường đại học năng lượng, từ 1989-1990 học hàm thụ trường đại học viết văn Maxime Gorki. Pelevin bắt đầu sáng tác vào giữa những năm 80, mười năm sau, chưa đầy ba mươi tuổi, có trong tay hơn chục tiểu thuyết, truyện vừa và năm-sáu tập truyện ngắn, anh đã trở thành "hiện tượng bí hiểm nhất và nổi tiếng nhất trong thế hệ các nhà văn hậu Xô Viết".
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 122262)
Nhân viên trực phòng xác bật đèn. Ánh sáng xanh nhợt gây thêm sự lạnh lẽo. Hai bàn tay Sinh nắm chặt lại trong túi áo khoác. Gã nhân viên liếc nhìn Sinh, rất nhanh. Sinh tưởng như hai người kia cũng nghe được tiếng tim đập của mình. Gã nhân viên kéo chiếc hộp sắt hình quan tài nằm sâu trong vách tường. Nhẹ nhàng, cẩn thận như thể gã cũng ngại làm người nằm bên trong thức giấc.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 112550)
...Anh là cơn gió chướng của đời em. Anh là nỗi ám ảnh không mặt mũi, nhưng tồn tại mãi trong ngăn kéo ký ức em. Em đọc được trong mắt anh ước muốn hoan lạc của một tình yêu với một thân xác. Một sự hoà hợp nhịp nhàng như sấm sét và mưa. Cho anh tan chảy như trăng trong ngõ ngách đêm.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119247)
... Thiếp không muốn về, cũng không muốn ngồi lên, cũng chẳng hề thấy lạnh. Thiếp chỉ muốn nằm đó, với chàng, muôn kiếp muôn đời gặm nhấm niềm yêu. Khởi đầu chỉ là những mưu toan mà trời ơi, sao người ta cứ phải dùng những tấm thân liễu yếu, sao người ta vẫn cứ phải nhờ vả chút nhan sắc bọt bèo.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 107029)
Alexandre Lucien Abel de Rhodes mang gương mặt thống khổ và si mê của oan hồn chưa hề biết đến tình yêu. Những ai bắt gặp giáo sĩ những năm thánh chiến, thảng thốt nhận ra bóng ma mang nỗi buồn chín thối ruột gan của một người đàn ông chưa toại nguyện thân xác. Hôi thối đến nỗi những người lính Marốc của tiểu đoàn 10 Tabor tăng cường cho trung đoàn 3 Lê Dương phải bịt mũi trước xú uế nồng nặc bốc toả từ nhà thờ chính toà Cao Bằng.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 132215)
Tôi đưa nàng đi, như mộng du, ra khỏi thành phố. Ánh đèn đường và ánh sáng trong các loại nhà ở hai bên quốc lộ loáng thoáng hắt vệt ra. Chúng tôi chỉ còn vài giờ ở bên nhau. Trước mặt tôi, vài chục cây số nữa là vài ngọn đèo lớn, một cung biển đẹp, tôi biết đưa nàng đi đâu để không hoang phí vài tiếng đồng hồ quý báu này. Chuyện gì sẽ xảy ra với cô gái tên Thu Sắc và chàng trai bị gọi là Thiền Sư. Hay chính nàng mới là Thiền Sư còn tôi đang sôi sục toàn thân nỗi nôn nao làm thú.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19661)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18630)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1630)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1788)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2304)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2409)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1458)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2210)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1950)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1995)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1369)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2411)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2623)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 246)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 807)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1007)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6408)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15897)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38862)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1482)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10694)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9883)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10011)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10814)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3457)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11153)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10356)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi