- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,267

Thung Lũng Mù

25 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 87340)

 

 tay_spham-content

Tuyết bắt đầu rơi ở Echo Summit. Con đường bất ngờ thu hẹp. Nhàn ghì tay lái, cố giữ cho xe cua sát lằn kẻ trắng chia con đường núi thành hai chiều lên xuống. Bên trái Nhàn là rừng thông tuyết phủ trắng toát, bên phải là bờ vực chênh vênh đổ xuống thung lũng. Nhàn đã nhiều lần nhìn xuống thung lũng bên dưới trong lúc Phil giữ tay lái. Lũng sâu hút, ngọn thông đâm tua tủa lên từ dưới đáy. Nhàn rùng mình tưởng tượng cảm giác nhẹ hẫng khi xe lao xuống vực. Phil không có ở bên để ghì tay lái cho nàng. Lúc nãy khi ngừng ở trạm xăng, Nhàn đã giật mình tự hỏi tại sao nàng lái xe một mình trên con đường núi quanh co trơn trợt? Có phải vì giọng Phil qua điện thoại ảo não như không thể thiếu nàng? Tối qua Nhàn còn ngắm chiếc nhẫn đính hôn của Phil, vẫn còn bảo cho em thời gian suy nghĩ. Thế mà chiều nay, nghe tin khí tượng báo trời mưa mù, Nhàn đã bỏ vội vài bộ quần áo lạnh vào túi xách và rời thành phố. Nhàn đeo chiếc nhẫn lóng lánh vào ngón tay áp úp, hình dung đến không gian ấm áp bên Phil trong ngôi nhà nhìn xuống mặt hồ lặng.

 

Tuyết xuống càng lúc càng nhiều. Từng cụm tuyết đổ ào xuống kính xe. Nhàn bấm nút cho quạt xe chạy hết tốc độ. Tiếng gió hú lẫn trong tiếng quạt nước xào xạc bên ngoài mặt kính càng làm nàng bồn chồn. Nhàn hối hận đã không gọi điện thoại cho Phil lúc ở trạm xăng. Giờ thì không còn cách nào khác. Điện thoại di động của Nhàn mất sóng khi xe bắt đầu leo dốc. Mặt trời đã lặn bên kia núi. Nhàn thoáng thấy những đốm đèn vàng ấm áp hắt ra từ những ngôi nhà gỗ rải rác trên sườn đồi. Mọi người đã trở về mái ấm của mình. Rừng thông chìm dần dưới ánh mặt trời mùa đông vừa ngả. Nhàn mở máy sưởi, tăng thêm độ nóng, vừa để lớp tuyết mỏng đậu trên kính xe tan mau hơn, vừa để hơi ấm phà lên đôi bàn tay lạnh cóng. Khi Phil lái xe, Nhàn luôn để bàn tay của mình trong tay anh. Tay Phil to, ấm và đầy mê hoặc.

 

Trời đã tối hẳn. Hai vệt sáng ở đầu xe tỏa mờ mờ một khoảng đường phía trước. Tuyết rơi mù mịt, phủ lên lòng đường làm biến mất lằn kẻ trắng. Nhàn lầm lũi lái theo chiếc Volkswagen màu đen. Người lái xe chắc phải là dân địa phương, thuộc lòng lối đi như những đường chỉ tay. Chiếc Volkswagen chạy với tốc độ chậm nhưng đều, đường đèo quanh hay thẳng vẫn giữ ở ba mươi dặm một giờ. Nhàn nhìn đồng hồ trong xe sốt ruột. Cứ theo tốc độ này, dễ đến nửa đêm nàng mới đến nơi. Vài lần, đến đoạn đường có thể vượt, Nhàn đã thử. Đường tối mịt, Nhàn không thấy gì ngoài vòm ánh sáng yếu ớt của hai bóng đèn ở đầu xe. Nhàn giảm tốc độ chỉ còn hai mươi dặm một giờ, như thế nàng chạy chậm hơn khi theo sau chiếc Volkswagen. Nhàn đành rút lại phía sau, để chiếc Volkswagen dẫn đường. Khi chiếc Volkswagen ra dấu quẹo vào Rest Stop, Nhàn cũng đành vào theo.

Người đàn ông mặc áo lạnh dầy, ủng cao đến đầu gối bước đến xe Nhàn. Ông gõ lóc cóc lên mặt kính. 

“Cô cũng vào quán chứ? Chờ bớt tuyết mới đi tiếp được.”

Nhàn có chút hoảng hốt khi người đàn ông đến, nhưng nàng trấn tĩnh lại được ngay. Người đàn ông đã biết nàng lái xe theo ông cả giờ đồng hồ, Nhàn phải vào quán để cảm ơn ông. Nghĩ thế, Nhàn tắt máy xe, đội mũ, quàng khăn lên cổ. Người đàn ông mở cửa xe cho Nhàn. Tuyết ngập đến ống quyển. Mỗi lần nhấc chân là Nhàn lại lao đao chực té. Người đàn ông đưa tay cho Nhàn bám để đi vào quán.

 

Quán vắng. Vài người khách im lặng đọc báo trước lò sửa đang cháy bừng. Cây thông ở góc quán vẫn còn quấn những ngọn đèn Giáng Sinh li ti nhấp nháy. Không gian ấm áp trong quán làm Nhàn bớt căng thẳng. Không còn chỗ ngồi gần lò sưởi, Nhàn theo người đàn ông chọn chiếc bàn cạnh cửa sổ, nhìn ra bãi đậu xe phía trước. Người đàn ông tháo đôi găng tay và cởi mũ đặt trên bàn. Những bông tuyết đã tan thành nước, lấm tấm trên nền mũ dạ đen. Ông đưa tay khoắng lên mái tóc bạc phơ nằm rạp trên đầu. Ngọn đèn trên trần quán phủ xuống một khuôn mặt vuông, đôi mắt sâu và làn da tái lấm tấm đồi mồi. Người đàn ông bắt tay Nhàn, tự giới thiệu tên Paul. Nhàn lí nhí cám ơn ông đã lái xe chậm để Nhàn theo.

“Thấy cách lái xe của cô tôi đã biết. Tôi cố ý chạy tốc độ vừa phải để cô có thể theo kịp. Cô đi đâu?” 

“Tôi đến Pope Beach.”

Đường lên Pope Beach dốc và khúc khuỷu lắm. Nhàn biết. Nhàn đi với Phil con đường này nhiều lần mùa đông năm ngoái. Nhưng Phil luôn là người cầm tay lái. Nhàn chưa bao giờ lái một mình. Tuyết rơi mù trời thường làm Nhàn mất phương hướng.

“Cô có thể lái theo tôi đến đó, nhưng phải chờ cho tuyết bớt bớt mới đi được.”

Nhàn nhìn đồng hồ. Năm giờ chiều. Nhàn mới chỉ lái xe hơn hai giờ mà nàng tưởng chừng như đã lâu lắm.

“Tôi xin một ly café đen.” Ông Paul trả lời khi Nhàn ngỏ ý mời ông uống nước.

Nhàn mua một chai Perrier và ly café đen cho ông Paul. Hai người ngồi uống, lặng lẽ ngắm tuyết bay bên ngoài. Gió thổi nghiêng ngả những nhánh sồi ngoài bãi đậu xe. Tuyết đã phủ kín khắp nơi. Những bông tuyết không rơi lất phất như lúc nãy mà đâm xiên vào cửa kính như tên bắn. Nhàn thầm cám ơn ông Paul đã dẫn nàng vào quán. Còn trên xa lộ chắc nàng kẹt ngay giữa đường, tiến thoái lưỡng nan.

Trận tuyết năm ngoái cũng đã làm Nhàn và Phil kẹt lại ở một Rest Stop. Đường đóng, xe ủi tuyết không làm việc. Nhàn và Phil tìm khách sạn ngủ lại qua đêm. Căn phòng ấm áp với lò sưởi tí tách nhưng Nhàn không thể nào ngủ. Lạ giường, nàng trằn trọc. Phil hâm cho nàng một ly sữa nóng, ủ nàng thật chặt dưới tấm chăn lông ngỗng mềm mại. Phil vuốt lên sống lưng, lên vai, lên ngực Nhàn dỗ nàng ngủ. Bên ngoài, tiếng xe ủi tuyết gầm gừ. Nhàn nghe thật rõ tiếng bánh xe ép xuống mặt đường, tiếng cạo băng rào rạo. Đèn xe nhấp nháy thắp sáng khoanh cửa sổ. Nhàn thấy những sợi tuyết bay ngang, trắng loá. Nhàn nhắm chặt mắt. Trong bóng tối, bàn tay Phil bỗng to lớn dị thường. Những ngón tay có phép thuật làm bụng nàng co thắt. Lưng nàng sâm sấp, hơi thở đứt đoạn, mồ hôi rịn ra khắp thân thể. Nhàn với. Toàn thân Phil như sắt nguội. Lặng ngắt. Nhàn víu. Khoảng đêm trống rỗng, lạnh toát. Rồi một trời tuyết bất thần ập xuống. Nhàn trôi bồng bềnh trong tiếng tuyết đêm rơi rơi. Nhàn nằm bất động trong bóng tối, dưới tấm chăn lông ngỗng mềm ấm. Chung quanh nàng không một âm thanh, chỉ còn hai bàn tay to lớn dị thường của Phil mê mải.

 

Tuyết đã ngừng rơi. Bên ngoài cây cối lặng, chỉ còn vài bông tuyết mỏng bay lơi. Một lớp tuyết phủ lên nóc xe của Nhàn và cả của ông Paul. Những cột đèn đường phả xuống bãi đậu xe từng vùng sáng vàng nhạt. Nhàn thấy người đàn bà trong xe ông Paul vẫn ngồi yên từ lúc nàng vào quán. Người đàn bà ngồi dựa lưng vào ghế, đầu gục sang một bên. Chiếc mũ len che gần hết khuôn mặt.

“Sao bà không vào? Tuyết rơi nhiều vậy, ngồi trong xe lạnh chết.” Nhàn hỏi.

“Bà nhà tôi bị bệnh mất ngủ. Tôi không bao giờ đánh thức. Bà ấy đang ngủ say lắm.” Ông Paul nhìn về phía chiếc Volkswagen. Đôi mắt già nua bất chợt đờ đẫn. “Chúng tôi vừa mừng kỷ niệm bốn mươi năm thành hôn.” Ông nhìn ra bên ngoài, ánh mắt xa xăm. Ông nói nhỏ như thể nói với chính mình. “Ngày ấy, tuyết phủ trắng lắm, màu tuyết có pha sắc hồng, không, đỏ chứ. Từng khoanh tuyết đỏ loang lổ khắp cánh đồng. Cô có thấy màu phẩm đỏ thấm vào tuyết trắng chưa?”

“Giống si-rô dâu trộn với đá bào không?” Nhàn nghĩ đến cái lạnh của đá bào và vị ngọt của dâu thấm vào lưỡi.

Ông Paul ném về phía Nhàn tia nhìn sắc nhọn.

“Cô còn quá trẻ để hiểu.”

Nhàn gom mấy trang báo mở dở dang ở bàn bên cạnh. Ngay trang nhất, cái tít lớn gợi sự tò mò của Nhàn.

FBI đang truy nã một người đàn ông Mỹ gốc Đức tên là Ray Adlerr. Ông Adlerr có thời từng tham gia vào quân đội Phát xít Đức trong chiến tranh Thế Giới thứ II. Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho biết Ray Adlerr đã bắn vào dân Do Thái khi họ trốn chạy. Ông cũng đã bị buộc tội tham dự vào kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái bằng các lò hơi ngạt. Ray Adlerr đã phủ nhận tất cả, nói rằng ông chỉ là một người lính gác trong thời gian đó. Chính phủ Mỹ đã ban lệnh trục xuất Ray Adlerr. Ông Alderr vừa qua sinh nhật 86 tuổi, sức khoẻ yếu kém…

“Cô đọc tin gì mà chăm chú thế?” Ông Paul uống xong ly café, đang nhìn vào trang báo Nhàn mở trên bàn. Nhàn tóm tắt tin trong bài cho ông Paul nghe.

“Cô nghĩ sao về việc đó.” Ông Paul hất đầu hỏi Nhàn.

“Tôi đọc cuốn Đêm của tác giả Elie Wiesel, thấy cảnh giết người khủng khiếp quá. Tôi không thể tưởng tượng được.”

“Tôi muốn hỏi cô về việc trục xuất kìa.” Ông Paul hươi mắt nhìn vào trang báo, giọng chậm rãi. “Cô nghĩ có nên trừng phạt ông già gần đất xa trời kia không?”

“Đâu phải cứ già thì được sạch tội. Ít nhất ông ta cũng đã có cơ hội sống đến tuổi già, còn những người Do Thái vô tội, họ bị giết từ lâu rồi, người lớn và cả những đứa trẻ con đầy tương lai.”

“Ấy, đó là điều tôi muốn nói. Việc đã qua thì cho qua đi. Người Do Thái chết đã lâu rồi, không thể nào dựng họ sống lại được nữa, dù ông già kia có ăn năn hối lỗi. Tại sao người ta lại đem một việc xảy ra từ thời tám hoánh ra xét xử, rồi kết tội lung tung. Họ biết gì về Nazi chứ? Cô là người nước nào?”

“Tôi đến từ Việt Nam.”

“Việt Nam à. Thế cô biết gì về chiến tranh Việt Nam?”

Nhàn chẳng biết gì về chiến tranh Việt Nam ngoài mấy bộ phim nàng xem trên tivi và tâm sự của Phil thời niên thiếu. Chiến tranh Việt Nam đối với Nhàn đã thành những trang lịch sử cũ. Của riêng Nhàn. Nhưng với Phil, đó là một khoảng đời say mê đầy nhiệt huyết. Phil mười lăm tuổi của tỉnh lẻ miền trung Hoa Kỳ. Phil vẫn nhớ mỗi tối tivi đăng tải tin tức quân đội Mỹ, liệt kê số binh lính tử vong tại Việt Nam. Phil lẩm bẩm những tên địa danh lạ lẫm. Mặc cho gia đình phản kháng cuộc chiến tại Việt Nam, Phil và đám bạn vẫn mơ đến ngày đủ tuổi để gia nhập quân đội. Đám con trai thường tụ tập bày trò đánh trận. Tụi nhóc ôm M16 giả, thi nhau bắn đùng đùng. Ai giết được nhiều Vietcong hơn sẽ được công kênh lên vai. Kẻ thắng trận sẽ cưỡi lên lưng kẻ thua trận.

Nhưng chiến tranh đã ngưng từ lâu rồi, Việt Nam và cả Holocaust. Chỉ còn tượng đài, lễ tưởng niệm, và những hệ lụy của một thời.

 

 

Trước khi trở lại xa lộ, Nhàn thuê người gắn dây xích vào bánh xe. Xa lộ ngập tuyết, không gắn xích, bánh xe sẽ trượt không thắng nổi. Nhàn mua một ly café sữa cho vợ ông Paul.

“Ta đi thôi, hy vọng xe ủi tuyết đã cào phẳng mặt đường.”

Nhàn hấp tấp mở cửa. Nàng mang luôn ly café mới mua vào xe. Xa lộ ngập tuyết. Nhàn lái cẩn thận theo sau ông Paul. Nhàn hình dung đến nét mặt Phil khi thấy Nhàn đến không báo trước. Phil vừa xong sáu tháng trị liệu chứng bệnh đã làm Phil khổ sở bao lâu nay. Đã nhiều lần Nhàn đòi chia tay, nàng thương Phil nhưng nàng cũng thương nàng quá. Lúc đầu Nhàn bằng lòng với những đùa nghịch ve vuốt của Phil. Nhưng rồi, Nhàn không thể ngừng lại ở đó mãi. Nhàn thèm ái ân, muốn hòa hợp với Phil theo lối thường tình. Giọng nói thành khẩn của Phil trong điện thoại tối qua làm Nhàn mềm lòng. Nhàn nhìn chiếc nhẫn lóng lánh trên tay. Nàng nghĩ đến Phil, đến bốn mươi năm thành hôn của vợ chồng ông Paul. 

Đúng với dự đoán của ông Paul, xe ủi tuyết đã bắt đầu làm việc từ đoạn đường phía sau. Ông Paul nháy đèn pha, ra hiệu cho Nhàn tấp vào lề đường chờ cho xe ủi tuyết đi qua. Chưa đầy năm phút, chiếc xe ủi tuyết khổng lồ như xe tăng, bánh niềng dây xích với đèn pha sáng rực trườn tới. Ông Paul mở cửa xe, bước về phía xe Nhàn. 

“Cô nghĩ rằng chúng tôi đã gia nhập quân đội Phát xít vì hoàn cảnh, thật không?”

Vâng, Nhàn nghĩ như thế. Chiến tranh làm thay đổi con người. Như Phil đã lớn lên với giấc mơ đi Việt Nam và giết Vietcong. Như con trai của chị Nhàn nuôi ý định vào quân đội để sang Irag.

“Vậy nếu tôi bắn vào dân Do Thái, đó cũng là vì tôi vâng phục mệnh lệnh của cấp trên. Tôi cũng phải bảo toàn mạng sống của tôi chứ. Cô hiểu không?”

Nhàn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của ông Paul. Ông không đội mũ, để lộ vầng trán đan kín nếp nhăn. Đầu Nhàn chợt quay với lời nói của ông. Chúng tôi rồi lại tôi. Ông Paul… Tên ông ta có phải là Paul thật không? Trong ánh sáng chói lòa của xe ủi tuyết đang lầm lũi đi qua, ông Paul nhìn Nhàn với nụ cười nửa miệng khó hiểu. Ông đưa tay.

“Cô cứ theo con đường này xuống dốc, độ khoảng nửa dặm cô sẽ thấy lối vào Pope Beach. Chúc cô đi bình an.”

Ông Paul trở lại xe. Nhàn chợt nhớ ly café nàng mua cho vợ ông Paul. Giờ chắc bà đã tỉnh ngủ. Nhàn vào xe cầm ly café đưa đến cửa sổ bên phải, nơi bà ngồi. Nàng gõ lên kiếng xe, ra hiệu cho ông Paul quay cửa sổ xuống. Ông Paul ngửng lên. Đôi mắt ông hình như có lửa. Những tia lửa pha màu phẩm đỏ. Ông nhìn sang ghế bên cạnh. Vợ ông dựa lưng vào ghế, đầu ngả sang bên. Mái tóc bà phủ nửa khuôn mặt, rũ xuống vai, chiếc khăn len quấn hờ quanh cổ. Da mặt bà trắng như tuyết. Một lỗ hỏm đen đục sâu trên thái dương. Vết máu lăn qua lỗ tai chảy dài xuống cổ. Màu máu đỏ chạy ngoằn ngoèo trên nền tuyết trắng. Si-rô dâu trộn với đá bào. Nhàn nghe môi tê buốt. Cơn lạnh dội lên đầu. Mắt Nhàn đổ quáng.

“Tôi đã bắn vào đầu vợ tôi hồi trưa. Bà ấy chết yên lành quá, chỉ có vài giây đau đớn. Tụi Do Thái còn gục đầu vào tuyết, máu chảy khô mới chịu nhắm mắt.” Ông Paul nổ máy xe. Nhàn đứng sững, chân chôn trong tuyết xốp. Chiếc Volkswagen rú ga ầm ĩ. Ông Paul phóng băng băng trên đường tuyết vừa được cào phẳng. Nhàn nhìn theo. Ở khúc quanh, chiếc Volkswagen trượt một quãng dài trước khi lao thẳng xuống vực. Nhàn thấy hai bóng đèn sau của chiếc Volkswagen sáng rực như đôi mắt người đàn ông đang bay vào thung lũng tối mù.

Nhàn vẫn đứng nhìn theo bất động. Hình như tuyết đang tan thành nước dưới chân nàng. Hơn lúc nào hết, Nhàn thèm được nắm lấy bàn tay to ấm áp của Phil.

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

Tháng giêng 2012

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1133)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1194)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1887)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5918)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5900)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13235)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30161)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81267)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20282)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 417)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down