- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Thung Lũng Mù

25 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 128045)

 

 tay_spham-content

Tuyết bắt đầu rơi ở Echo Summit. Con đường bất ngờ thu hẹp. Nhàn ghì tay lái, cố giữ cho xe cua sát lằn kẻ trắng chia con đường núi thành hai chiều lên xuống. Bên trái Nhàn là rừng thông tuyết phủ trắng toát, bên phải là bờ vực chênh vênh đổ xuống thung lũng. Nhàn đã nhiều lần nhìn xuống thung lũng bên dưới trong lúc Phil giữ tay lái. Lũng sâu hút, ngọn thông đâm tua tủa lên từ dưới đáy. Nhàn rùng mình tưởng tượng cảm giác nhẹ hẫng khi xe lao xuống vực. Phil không có ở bên để ghì tay lái cho nàng. Lúc nãy khi ngừng ở trạm xăng, Nhàn đã giật mình tự hỏi tại sao nàng lái xe một mình trên con đường núi quanh co trơn trợt? Có phải vì giọng Phil qua điện thoại ảo não như không thể thiếu nàng? Tối qua Nhàn còn ngắm chiếc nhẫn đính hôn của Phil, vẫn còn bảo cho em thời gian suy nghĩ. Thế mà chiều nay, nghe tin khí tượng báo trời mưa mù, Nhàn đã bỏ vội vài bộ quần áo lạnh vào túi xách và rời thành phố. Nhàn đeo chiếc nhẫn lóng lánh vào ngón tay áp úp, hình dung đến không gian ấm áp bên Phil trong ngôi nhà nhìn xuống mặt hồ lặng.

 

Tuyết xuống càng lúc càng nhiều. Từng cụm tuyết đổ ào xuống kính xe. Nhàn bấm nút cho quạt xe chạy hết tốc độ. Tiếng gió hú lẫn trong tiếng quạt nước xào xạc bên ngoài mặt kính càng làm nàng bồn chồn. Nhàn hối hận đã không gọi điện thoại cho Phil lúc ở trạm xăng. Giờ thì không còn cách nào khác. Điện thoại di động của Nhàn mất sóng khi xe bắt đầu leo dốc. Mặt trời đã lặn bên kia núi. Nhàn thoáng thấy những đốm đèn vàng ấm áp hắt ra từ những ngôi nhà gỗ rải rác trên sườn đồi. Mọi người đã trở về mái ấm của mình. Rừng thông chìm dần dưới ánh mặt trời mùa đông vừa ngả. Nhàn mở máy sưởi, tăng thêm độ nóng, vừa để lớp tuyết mỏng đậu trên kính xe tan mau hơn, vừa để hơi ấm phà lên đôi bàn tay lạnh cóng. Khi Phil lái xe, Nhàn luôn để bàn tay của mình trong tay anh. Tay Phil to, ấm và đầy mê hoặc.

 

Trời đã tối hẳn. Hai vệt sáng ở đầu xe tỏa mờ mờ một khoảng đường phía trước. Tuyết rơi mù mịt, phủ lên lòng đường làm biến mất lằn kẻ trắng. Nhàn lầm lũi lái theo chiếc Volkswagen màu đen. Người lái xe chắc phải là dân địa phương, thuộc lòng lối đi như những đường chỉ tay. Chiếc Volkswagen chạy với tốc độ chậm nhưng đều, đường đèo quanh hay thẳng vẫn giữ ở ba mươi dặm một giờ. Nhàn nhìn đồng hồ trong xe sốt ruột. Cứ theo tốc độ này, dễ đến nửa đêm nàng mới đến nơi. Vài lần, đến đoạn đường có thể vượt, Nhàn đã thử. Đường tối mịt, Nhàn không thấy gì ngoài vòm ánh sáng yếu ớt của hai bóng đèn ở đầu xe. Nhàn giảm tốc độ chỉ còn hai mươi dặm một giờ, như thế nàng chạy chậm hơn khi theo sau chiếc Volkswagen. Nhàn đành rút lại phía sau, để chiếc Volkswagen dẫn đường. Khi chiếc Volkswagen ra dấu quẹo vào Rest Stop, Nhàn cũng đành vào theo.

Người đàn ông mặc áo lạnh dầy, ủng cao đến đầu gối bước đến xe Nhàn. Ông gõ lóc cóc lên mặt kính. 

“Cô cũng vào quán chứ? Chờ bớt tuyết mới đi tiếp được.”

Nhàn có chút hoảng hốt khi người đàn ông đến, nhưng nàng trấn tĩnh lại được ngay. Người đàn ông đã biết nàng lái xe theo ông cả giờ đồng hồ, Nhàn phải vào quán để cảm ơn ông. Nghĩ thế, Nhàn tắt máy xe, đội mũ, quàng khăn lên cổ. Người đàn ông mở cửa xe cho Nhàn. Tuyết ngập đến ống quyển. Mỗi lần nhấc chân là Nhàn lại lao đao chực té. Người đàn ông đưa tay cho Nhàn bám để đi vào quán.

 

Quán vắng. Vài người khách im lặng đọc báo trước lò sửa đang cháy bừng. Cây thông ở góc quán vẫn còn quấn những ngọn đèn Giáng Sinh li ti nhấp nháy. Không gian ấm áp trong quán làm Nhàn bớt căng thẳng. Không còn chỗ ngồi gần lò sưởi, Nhàn theo người đàn ông chọn chiếc bàn cạnh cửa sổ, nhìn ra bãi đậu xe phía trước. Người đàn ông tháo đôi găng tay và cởi mũ đặt trên bàn. Những bông tuyết đã tan thành nước, lấm tấm trên nền mũ dạ đen. Ông đưa tay khoắng lên mái tóc bạc phơ nằm rạp trên đầu. Ngọn đèn trên trần quán phủ xuống một khuôn mặt vuông, đôi mắt sâu và làn da tái lấm tấm đồi mồi. Người đàn ông bắt tay Nhàn, tự giới thiệu tên Paul. Nhàn lí nhí cám ơn ông đã lái xe chậm để Nhàn theo.

“Thấy cách lái xe của cô tôi đã biết. Tôi cố ý chạy tốc độ vừa phải để cô có thể theo kịp. Cô đi đâu?” 

“Tôi đến Pope Beach.”

Đường lên Pope Beach dốc và khúc khuỷu lắm. Nhàn biết. Nhàn đi với Phil con đường này nhiều lần mùa đông năm ngoái. Nhưng Phil luôn là người cầm tay lái. Nhàn chưa bao giờ lái một mình. Tuyết rơi mù trời thường làm Nhàn mất phương hướng.

“Cô có thể lái theo tôi đến đó, nhưng phải chờ cho tuyết bớt bớt mới đi được.”

Nhàn nhìn đồng hồ. Năm giờ chiều. Nhàn mới chỉ lái xe hơn hai giờ mà nàng tưởng chừng như đã lâu lắm.

“Tôi xin một ly café đen.” Ông Paul trả lời khi Nhàn ngỏ ý mời ông uống nước.

Nhàn mua một chai Perrier và ly café đen cho ông Paul. Hai người ngồi uống, lặng lẽ ngắm tuyết bay bên ngoài. Gió thổi nghiêng ngả những nhánh sồi ngoài bãi đậu xe. Tuyết đã phủ kín khắp nơi. Những bông tuyết không rơi lất phất như lúc nãy mà đâm xiên vào cửa kính như tên bắn. Nhàn thầm cám ơn ông Paul đã dẫn nàng vào quán. Còn trên xa lộ chắc nàng kẹt ngay giữa đường, tiến thoái lưỡng nan.

Trận tuyết năm ngoái cũng đã làm Nhàn và Phil kẹt lại ở một Rest Stop. Đường đóng, xe ủi tuyết không làm việc. Nhàn và Phil tìm khách sạn ngủ lại qua đêm. Căn phòng ấm áp với lò sưởi tí tách nhưng Nhàn không thể nào ngủ. Lạ giường, nàng trằn trọc. Phil hâm cho nàng một ly sữa nóng, ủ nàng thật chặt dưới tấm chăn lông ngỗng mềm mại. Phil vuốt lên sống lưng, lên vai, lên ngực Nhàn dỗ nàng ngủ. Bên ngoài, tiếng xe ủi tuyết gầm gừ. Nhàn nghe thật rõ tiếng bánh xe ép xuống mặt đường, tiếng cạo băng rào rạo. Đèn xe nhấp nháy thắp sáng khoanh cửa sổ. Nhàn thấy những sợi tuyết bay ngang, trắng loá. Nhàn nhắm chặt mắt. Trong bóng tối, bàn tay Phil bỗng to lớn dị thường. Những ngón tay có phép thuật làm bụng nàng co thắt. Lưng nàng sâm sấp, hơi thở đứt đoạn, mồ hôi rịn ra khắp thân thể. Nhàn với. Toàn thân Phil như sắt nguội. Lặng ngắt. Nhàn víu. Khoảng đêm trống rỗng, lạnh toát. Rồi một trời tuyết bất thần ập xuống. Nhàn trôi bồng bềnh trong tiếng tuyết đêm rơi rơi. Nhàn nằm bất động trong bóng tối, dưới tấm chăn lông ngỗng mềm ấm. Chung quanh nàng không một âm thanh, chỉ còn hai bàn tay to lớn dị thường của Phil mê mải.

 

Tuyết đã ngừng rơi. Bên ngoài cây cối lặng, chỉ còn vài bông tuyết mỏng bay lơi. Một lớp tuyết phủ lên nóc xe của Nhàn và cả của ông Paul. Những cột đèn đường phả xuống bãi đậu xe từng vùng sáng vàng nhạt. Nhàn thấy người đàn bà trong xe ông Paul vẫn ngồi yên từ lúc nàng vào quán. Người đàn bà ngồi dựa lưng vào ghế, đầu gục sang một bên. Chiếc mũ len che gần hết khuôn mặt.

“Sao bà không vào? Tuyết rơi nhiều vậy, ngồi trong xe lạnh chết.” Nhàn hỏi.

“Bà nhà tôi bị bệnh mất ngủ. Tôi không bao giờ đánh thức. Bà ấy đang ngủ say lắm.” Ông Paul nhìn về phía chiếc Volkswagen. Đôi mắt già nua bất chợt đờ đẫn. “Chúng tôi vừa mừng kỷ niệm bốn mươi năm thành hôn.” Ông nhìn ra bên ngoài, ánh mắt xa xăm. Ông nói nhỏ như thể nói với chính mình. “Ngày ấy, tuyết phủ trắng lắm, màu tuyết có pha sắc hồng, không, đỏ chứ. Từng khoanh tuyết đỏ loang lổ khắp cánh đồng. Cô có thấy màu phẩm đỏ thấm vào tuyết trắng chưa?”

“Giống si-rô dâu trộn với đá bào không?” Nhàn nghĩ đến cái lạnh của đá bào và vị ngọt của dâu thấm vào lưỡi.

Ông Paul ném về phía Nhàn tia nhìn sắc nhọn.

“Cô còn quá trẻ để hiểu.”

Nhàn gom mấy trang báo mở dở dang ở bàn bên cạnh. Ngay trang nhất, cái tít lớn gợi sự tò mò của Nhàn.

FBI đang truy nã một người đàn ông Mỹ gốc Đức tên là Ray Adlerr. Ông Adlerr có thời từng tham gia vào quân đội Phát xít Đức trong chiến tranh Thế Giới thứ II. Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho biết Ray Adlerr đã bắn vào dân Do Thái khi họ trốn chạy. Ông cũng đã bị buộc tội tham dự vào kế hoạch tiêu diệt dân Do Thái bằng các lò hơi ngạt. Ray Adlerr đã phủ nhận tất cả, nói rằng ông chỉ là một người lính gác trong thời gian đó. Chính phủ Mỹ đã ban lệnh trục xuất Ray Adlerr. Ông Alderr vừa qua sinh nhật 86 tuổi, sức khoẻ yếu kém…

“Cô đọc tin gì mà chăm chú thế?” Ông Paul uống xong ly café, đang nhìn vào trang báo Nhàn mở trên bàn. Nhàn tóm tắt tin trong bài cho ông Paul nghe.

“Cô nghĩ sao về việc đó.” Ông Paul hất đầu hỏi Nhàn.

“Tôi đọc cuốn Đêm của tác giả Elie Wiesel, thấy cảnh giết người khủng khiếp quá. Tôi không thể tưởng tượng được.”

“Tôi muốn hỏi cô về việc trục xuất kìa.” Ông Paul hươi mắt nhìn vào trang báo, giọng chậm rãi. “Cô nghĩ có nên trừng phạt ông già gần đất xa trời kia không?”

“Đâu phải cứ già thì được sạch tội. Ít nhất ông ta cũng đã có cơ hội sống đến tuổi già, còn những người Do Thái vô tội, họ bị giết từ lâu rồi, người lớn và cả những đứa trẻ con đầy tương lai.”

“Ấy, đó là điều tôi muốn nói. Việc đã qua thì cho qua đi. Người Do Thái chết đã lâu rồi, không thể nào dựng họ sống lại được nữa, dù ông già kia có ăn năn hối lỗi. Tại sao người ta lại đem một việc xảy ra từ thời tám hoánh ra xét xử, rồi kết tội lung tung. Họ biết gì về Nazi chứ? Cô là người nước nào?”

“Tôi đến từ Việt Nam.”

“Việt Nam à. Thế cô biết gì về chiến tranh Việt Nam?”

Nhàn chẳng biết gì về chiến tranh Việt Nam ngoài mấy bộ phim nàng xem trên tivi và tâm sự của Phil thời niên thiếu. Chiến tranh Việt Nam đối với Nhàn đã thành những trang lịch sử cũ. Của riêng Nhàn. Nhưng với Phil, đó là một khoảng đời say mê đầy nhiệt huyết. Phil mười lăm tuổi của tỉnh lẻ miền trung Hoa Kỳ. Phil vẫn nhớ mỗi tối tivi đăng tải tin tức quân đội Mỹ, liệt kê số binh lính tử vong tại Việt Nam. Phil lẩm bẩm những tên địa danh lạ lẫm. Mặc cho gia đình phản kháng cuộc chiến tại Việt Nam, Phil và đám bạn vẫn mơ đến ngày đủ tuổi để gia nhập quân đội. Đám con trai thường tụ tập bày trò đánh trận. Tụi nhóc ôm M16 giả, thi nhau bắn đùng đùng. Ai giết được nhiều Vietcong hơn sẽ được công kênh lên vai. Kẻ thắng trận sẽ cưỡi lên lưng kẻ thua trận.

Nhưng chiến tranh đã ngưng từ lâu rồi, Việt Nam và cả Holocaust. Chỉ còn tượng đài, lễ tưởng niệm, và những hệ lụy của một thời.

 

 

Trước khi trở lại xa lộ, Nhàn thuê người gắn dây xích vào bánh xe. Xa lộ ngập tuyết, không gắn xích, bánh xe sẽ trượt không thắng nổi. Nhàn mua một ly café sữa cho vợ ông Paul.

“Ta đi thôi, hy vọng xe ủi tuyết đã cào phẳng mặt đường.”

Nhàn hấp tấp mở cửa. Nàng mang luôn ly café mới mua vào xe. Xa lộ ngập tuyết. Nhàn lái cẩn thận theo sau ông Paul. Nhàn hình dung đến nét mặt Phil khi thấy Nhàn đến không báo trước. Phil vừa xong sáu tháng trị liệu chứng bệnh đã làm Phil khổ sở bao lâu nay. Đã nhiều lần Nhàn đòi chia tay, nàng thương Phil nhưng nàng cũng thương nàng quá. Lúc đầu Nhàn bằng lòng với những đùa nghịch ve vuốt của Phil. Nhưng rồi, Nhàn không thể ngừng lại ở đó mãi. Nhàn thèm ái ân, muốn hòa hợp với Phil theo lối thường tình. Giọng nói thành khẩn của Phil trong điện thoại tối qua làm Nhàn mềm lòng. Nhàn nhìn chiếc nhẫn lóng lánh trên tay. Nàng nghĩ đến Phil, đến bốn mươi năm thành hôn của vợ chồng ông Paul. 

Đúng với dự đoán của ông Paul, xe ủi tuyết đã bắt đầu làm việc từ đoạn đường phía sau. Ông Paul nháy đèn pha, ra hiệu cho Nhàn tấp vào lề đường chờ cho xe ủi tuyết đi qua. Chưa đầy năm phút, chiếc xe ủi tuyết khổng lồ như xe tăng, bánh niềng dây xích với đèn pha sáng rực trườn tới. Ông Paul mở cửa xe, bước về phía xe Nhàn. 

“Cô nghĩ rằng chúng tôi đã gia nhập quân đội Phát xít vì hoàn cảnh, thật không?”

Vâng, Nhàn nghĩ như thế. Chiến tranh làm thay đổi con người. Như Phil đã lớn lên với giấc mơ đi Việt Nam và giết Vietcong. Như con trai của chị Nhàn nuôi ý định vào quân đội để sang Irag.

“Vậy nếu tôi bắn vào dân Do Thái, đó cũng là vì tôi vâng phục mệnh lệnh của cấp trên. Tôi cũng phải bảo toàn mạng sống của tôi chứ. Cô hiểu không?”

Nhàn nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của ông Paul. Ông không đội mũ, để lộ vầng trán đan kín nếp nhăn. Đầu Nhàn chợt quay với lời nói của ông. Chúng tôi rồi lại tôi. Ông Paul… Tên ông ta có phải là Paul thật không? Trong ánh sáng chói lòa của xe ủi tuyết đang lầm lũi đi qua, ông Paul nhìn Nhàn với nụ cười nửa miệng khó hiểu. Ông đưa tay.

“Cô cứ theo con đường này xuống dốc, độ khoảng nửa dặm cô sẽ thấy lối vào Pope Beach. Chúc cô đi bình an.”

Ông Paul trở lại xe. Nhàn chợt nhớ ly café nàng mua cho vợ ông Paul. Giờ chắc bà đã tỉnh ngủ. Nhàn vào xe cầm ly café đưa đến cửa sổ bên phải, nơi bà ngồi. Nàng gõ lên kiếng xe, ra hiệu cho ông Paul quay cửa sổ xuống. Ông Paul ngửng lên. Đôi mắt ông hình như có lửa. Những tia lửa pha màu phẩm đỏ. Ông nhìn sang ghế bên cạnh. Vợ ông dựa lưng vào ghế, đầu ngả sang bên. Mái tóc bà phủ nửa khuôn mặt, rũ xuống vai, chiếc khăn len quấn hờ quanh cổ. Da mặt bà trắng như tuyết. Một lỗ hỏm đen đục sâu trên thái dương. Vết máu lăn qua lỗ tai chảy dài xuống cổ. Màu máu đỏ chạy ngoằn ngoèo trên nền tuyết trắng. Si-rô dâu trộn với đá bào. Nhàn nghe môi tê buốt. Cơn lạnh dội lên đầu. Mắt Nhàn đổ quáng.

“Tôi đã bắn vào đầu vợ tôi hồi trưa. Bà ấy chết yên lành quá, chỉ có vài giây đau đớn. Tụi Do Thái còn gục đầu vào tuyết, máu chảy khô mới chịu nhắm mắt.” Ông Paul nổ máy xe. Nhàn đứng sững, chân chôn trong tuyết xốp. Chiếc Volkswagen rú ga ầm ĩ. Ông Paul phóng băng băng trên đường tuyết vừa được cào phẳng. Nhàn nhìn theo. Ở khúc quanh, chiếc Volkswagen trượt một quãng dài trước khi lao thẳng xuống vực. Nhàn thấy hai bóng đèn sau của chiếc Volkswagen sáng rực như đôi mắt người đàn ông đang bay vào thung lũng tối mù.

Nhàn vẫn đứng nhìn theo bất động. Hình như tuyết đang tan thành nước dưới chân nàng. Hơn lúc nào hết, Nhàn thèm được nắm lấy bàn tay to ấm áp của Phil.

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

Tháng giêng 2012

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 146)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 116)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 259)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 208)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 282)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 456)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 974)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1035)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1642)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1941)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 453)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11042)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17659)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16733)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 258)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 281)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1941)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2509)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 208)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2380)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2153)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2750)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 972)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1033)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1586)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2355)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 146)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 116)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1641)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2193)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3066)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14391)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30473)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36733)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12164)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13508)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3920)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5920)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5420)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5975)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6615)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8958)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8273)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11211)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.